phân tích hoạt động ứng dụng thương mại điện tử của công ty ngọc việt - Pdf 22


KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA CÔNG TY
NGỌC VIỆT
NHÓM THỰC HIỆN : 3
GVHD: BÙI THÀNH KHOA
Danh sách thành viên N3
1. Phạm Thị Cẩm Tú
2. Phan Thị Lệ Hằng
3. Lê Thị Ngọc
4. Phạm Ngọc Xuyên
5. Nguyễn Thị Diễm
6. Trần Minh Phong
TP.HCM , Tháng 3 năm 2012
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………… ….4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ………………6
1.1 Khái niệm thương mại điện tử …………………………………………………6
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử………………………7
1.3. An ninh và bảo mật trong thương mại điện tử, những rủi ro có thể gặp phải và
giải pháp……………………………………………………………………… …12
1.4. Thanh toán điện tử……………………………………………………………22
1.5. E-marketing ……………………………………………………………… 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN TMDT NGỌC VIỆT………………………………… 26
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần thương mại điện tử Ngọc Việt…………… …26
2.2 Phân tích thực trạng ứng dụng TMDT của Ngọc Việt……………………… 28
2.2.1 Giới thiệu về hoạt động TMDT tại Ngọc Việt…………………………… 28

kiên nhẫn chờ đợi thông tin trong nhiều ngày…), tăng doanh thu (vì đối tượng
khách hàng đã không còn bị giới hạn về mọi mặt…) nhưng điều kiện quan trọng để
thương mại điện tử đem lạị doanh thu cho doanh nghiệp của bạn là “chất lượng, giá
cả và dịch vụ phải tốt”, giảm chi phí hoạt động (không cần phải đầu tư nhiều cho
kho chứa hàng, nhân viên…), lợi thế cạnh tranh (khi kinh doanh trên mạng thì ai
sáng tạo và có nét đặc trưng hơn thì sẽ thu hút được khách hàng….).
Tóm lại “thương mại điện tử” thật sự là một cơ hội kinh doanh cho các doanh
nghiệp Việt Nam.Nhận thức được tầm quan trọng ấy, công ty cổ phần Thương Mại
Điện Tử Ngọc Việt ra đờivà đã đề ra khẩu hiệu là “tâm sáng - tầm cao” cho doanh
nghiệp mình. Chỉ sau 9 tháng hoạt động công ty đã có trên 2000 đại lý với hơn
1000 sản phẩm từ khắp nơi trên thế giới được quảng bá qua website Vipecom.vn.
Vậy công ty đã ứng dụng hoạt động thương mại điện tử như thế nào để đạt được
những thành tích ấy?
Để tìm hiểu thêm về thương mại điện tử cũng như cách thức mà công ty Cổ
Phần Thương Mại Điện Tử Ngọc Việt đã ứng dụng, nhóm chúng em đã quyết định
chọn “Phân tích hoạt động ứng dụng thương mại điện tử của Công Ty Cổ
Phần Thương Mại Điện Tử Ngọc Việt” làm đề tài tiểu luận cho mình. Chúng em
mong rằng sẽ nhận được ý kiến đóng góp của thầy và các bạn để bài tiểu luận có
thể hoàn chỉnh hơn.
5
2.Tính cấp thiết của đề tài:
Với sự phát triển như vũ bảo của “thương mạiđiện tử” trong xã hội ngày nay
vàđểđápứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Việc tìm hiểu về “thương
mạiđiện tử” là một nhu cầu rất cần thiết cho sinh viên trong việc học cũng như nhu
cầu trong công việc sau này.
Đặc biệt ngày nay công nghệ thông tin là một trong những vấn đề then chốt hàng
đầu để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và “thương mại điện tử” trong tương
lai là một trong những giải pháp hàng đầu cho nền kinh tế toàn cầu nói chung và
Việt Nam nói riêng.
3.Mục đích nghiên cứu:

Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á_Thái Bình
Dương (APEC): “Thương mạiđiện tử là công việc kinh doanh được tiến hành
thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”.
Theo Ủy ban Châu Âu: “Thương mạiđiện tửđược hiểu là việc thực hiện hoạtđộng
kinh doanh qua các phương tiệnđiện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền
dữliệuđiện tử dưới dạng text, âm thanh và hìnhảnh”.
-Vai trò của thương mại điện tử:
Giúp cho các doanh nghiệp nắmđược thông tin phong phú về thị trường vàđối tác.
Giảm chi phí sản xuất.
Giúp người tiêu dùng tiết kiệmđược thời gian.
Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.
Thông qua Internet giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm giảmđáng kể
thời gian và chi phí giao dịch.
7
Thiết lập và cũng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình
thương mại
Tạođiều kiện tiếp cận nền kinh tế số hoálà xu thế phát triển tất yếu của nền kinh
tế toàn cầu hiện nay.
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử:
Mạng thương mại điện tử thật sự ra đời đầu tiên vào năm 1940 khi 15 người bán
hoa của Đức đã tập hợp lại cùng nhau để trao đổi theo đường điện báo những đơn
hàng đặt mua từ ngoại thành. Những tổ hợp điện báo giao nhận của những người
bán hoa nói trên ngày nay là công ty FTD Inc…
Tuy nhiên hệ thống thương mại điện tử được kết hợp với máy tính một yêu cầu
quan trọng là cần có những tài liệu kinh doanh đã được chuẩn hóa để các máy tính
ở mỗi đầu dây đều có thể hiểu được nhau. Cội nguồn của loại hình thương mại
điện tử này cũng bắt đầu rất sớm từ năm 1948 khi Liên Bang Xô Viết kiểm soát
Đông Đức cắt đức đường thủy, đường sắt, đường bộ giữa Tây Đức và Berlin phần
lãnh thổ do Mỹ, Anh và Pháp kiểm soát.
Để giải quyết vấn đề đó một sĩ quan quân đội Mỹ Edward A. Guilbert và các chiến

Inter_organizational system (IOS): hệ thốngđặt chỗ du lịch và kho hàng điện tử.
-1977 ngành lương thực và thực phẩm khai trương một dự án EDI thử nghiệm.
-1982 GM và Ford yêu cầu những đại lí cung cấp sử dụng EDI.
-1990s Internet được thương mại hoá và hàng loạt các công ty “.com” ra đời. Hầu
hết các công ty lớn và vừađều cóWebsite và hầu hết các công ty lớn của Mỹđều có
cổng giao tiếpđiện tử.
-1991 Mỹ bãi bỏ những hạn chế về thương mại sử dụng Internet.
-1995 Amazon.com do Jeff Bezos thành lập, khai trương của hàng bán sách và âm
nhạc trực tuyến.
-1999 American Express giới thiệu Blue, một thẻ thông minh tích hợp thanh toán
trên mạng và vi tính trực tuyến và đánh dấu thương mạiđiện tử chuyển từ B2C tơi
B2B mang lại doanh thu lớn nhất cho thương mạiđiện tử.
9
-2003: 3 nhà chế tạo ô tô lớn nhất nước Mỹ ( Ford, GM, Daimler Chrysler) thiết
lập chương trình thanh toán thương mại điện tử B2B Covisint.
-2010 chuẩn ebXML 1.0 được phê chuẩn (ebXML là phiên bản mới nhất của
XML).
-Các phương tiện được sử dụng trong thương mại điện tử:
Máyđiện thoại, máy fax, truyền hình
Các hệ thống thiết bị công nghệ thanh toánđiện tử.
Các mạng nội bộ (Intranet) và mạng ngoại bộ (Extranet)
Mạng toàn cầu Internet. Công cụ Internet vàWebsite ngày càng phổ biến giao dịch
thương mạiđiện tử với nước ngoài hầu nhưđiều qua Internet, các mạng nội bộ và
ngoại bộ nay cũng thường sử dụng Internet.
-Các hình thức hoạt động chủ yếu của giao dịch thương mại điện tử:
Thưđiện tử (email); thanh toánđiện tử (electronic payment)
Trao đổi dữ liệuđiện tử (electronic data interchange_EDI)
Giao gửi số hoá các dữ liệu (digital delivery of content) tức việc mua bán, trao đổi
các sản phẩm mà người ta cần nội dụng (chính nội dung là hang hoá), mà hkông
cần tới vật mang hàng hoá.

Thị trường đóng: là thị trường mà tạiđó chỉ có một số thành viên nhấtđịnhđược
mời hay cho phép tham gia.
11
Thị trường ngang: là thị trường tập trung vào một quy trình kinh doanh riêng lẻ
nhấtđịnh.
Thị trường dọc: là thị trường mô phỏng nhiều quy trình kinh doanh khác nhau của
một ngành duy nhất hay một nhóm người dung duy nhất.
-Thương mại điện tử được phân loại dựa vào tính cách của người tham gia:
Người tiêu dùng:
C2C (Consumer to Consumer): người tiêudùng với người tiêu dùng.
C2B (Consumer to Business): người tiêu dùng với doanh nghiệp
C2G (Consumer to Government): người tiêu dùng với chính phủ.
Doanh nghiệp:
B2C (Business to Consumer): doanh nghiệp với người tiêu dùng.
B2B (Business to Business): doanh nghiệp với doanh nghiệp
B2G (Business to Government): doanh nghiệp với chính phủ
B2E (Business to Employee): doanh nghiệp với nhân viên
Chính phủ:
G2C (Government to Consumer): chính phủ và người tiêu dùng
G2B (Government to Business): chính phủ với doanh nghiệp
G2G (Government to Government): chính phủ với chính phủ.
1.2. Khái niệm cơ bản về internet
Internet còn gọi là Nét: là một ma trận các máy tính liên kết với nhau trên toàn cầu
nhằm mục đích trao đổi thông tin với nhau.
12
Internet là một hệ thống các mạng thông tin máy tính được liên kết thông tin với
nhau trên phạm vi toàn thế giới theo giao thức TCP/IP thông qua toàn hệ thống
kênh viễn thông.
Internet là mạng toàn cầu được hình thành từ các mạng nhỏ hơn, liên kết hàng triệu
máy tính trên thế giới thông qua cơ sở hạ tầng viễn thông.

bán trong quá trình giao dịch người bán hàng không thể trực tiếp xem được
thông tin về thẻ tín dụng của khách hàng và các thông in không được lưu trữ
trên máy chủ của người bán.
• An toàn đối với hệ thống mạng
-Bức tường lửa: Trong kho chứa vũ khí bảo mật, Bức tường lửa là một trong những
công cụ quan trọng nhất. Nó kết hợp phần cứng và phần mềm, là hàng rào giữa tài
nguyên Internet của công ty với thế giới bên ngoài. Công nghệ có hai hình thức cơ
bản: phần mềm cài đặt vào server Internet, hoặc một "ngăn" độc lập trước server
Internet và bảo vệ cho mạng nội bộ trước thế giới bên ngoài. Theo các chuyên gia,
một Bức tường lửa chỉ gồm phần mềm cũng đủ đảm bảo an toàn cho dự án TMĐT
cỡ nhỏ, kiểu một Web site hiện đại, còn loại "ngăn" thì có thể bảo toàn dữ liệu cho
qui mô xí nghiệp.
14
Bức tường lửa tiêu biểu gồm hai thành phần chính: cổng và van. Cổng cho phép
dữ liệu lưu thông giữa hai mạng thông tin, còn van thì ngăn các gói dữ liệu ra vào
không đúng cổng. Nói cách khác, bất kỳ gói dữ liệu nào không có địa chỉ nguồn
hay địa chỉ đến thì đều bị khóa lại ở Bức tường lửa. Van cũng có thể được thiết lập
để khóa lại trước những gói dữ liệu đặc biệt nào đó, chẳng hạn dữ liệu của một tay
hacker đang cố xâm nhập vào hệ thống. Cổng thường do máy tính đảm nhiệm, còn
van thì có thể là một router thông minh đặt giữa cổng và mạng bên ngoài.
-Phòng chóng virus
-Sử dụng password mạnh
-An ninh nguồn nhân lực
-Trang thiết bị an ninh manh: kiểm soát việc ra vào trụ sở làm việc
1.3.2. Rủi ro có thể gặp phải trong thương mai điện và giải pháp
Thực tiễn cho thấy những rủi ro thường gặp nhất trong thương mại điện tử đó là
sự xâm nhập của các tin tặc, sự nguy hiểm của các dạng virus máy tính, tình trạng
bị chặn thông tin về thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trình độ công nghệ cao có thể giải
quyết được những vấn đề này. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp hoạt động thương
mại điện tử cũng còn khá nhiều rủi ro khác. Có thể chia thành các nhóm rủi ro như

Những virus mới được viết trong thời gian gần đây không còn thực hiện các
trò đùa hay sự phá hoại đối máy tính của nạn nhân bị lây nhiễm nữa, mà đa
phần hướng đến việc lấy cắp các thông tin cá nhân nhạy cảm (các mã số thẻ tín
dụng) mở cửa sau cho tin tặc đột nhập chiếm quyền điều khiển hoặc các hành
động khác nhằm có lợi cho người phát tán virus. Những virus mới được viết
trong thời gian gần đây không còn thực hiện các trò đùa hay sự phá hoại đối
máy tính của nạn nhân bị lây nhiễm nữa, mà đa phần hướng đến việc lấy cắp
các thông tin cá nhân nhạy cảm (các mã số thẻ tín dụng) mở cửa sau cho tin tặc
đột nhập chiếm quyền điều khiển hoặc các hành động khác nhằm có lợi cho
người phát tán virus.v
• Worm (sâu máy tính): khác với virus ở chỗ sâu máy tính không thâm
nhập vào file mà là hệ thống
Là các chương trình cũng có khả năng tự nhân bản tự tìm cách lan truyền
qua hệ thống mạng (thường là qua hệ thống thư điện tử). Điểm cần lưu ý ở đây,
ngoài tác hại thẳng lên máy bị nhiễm, nhiệm vụ chính của worm là phá các
mạng (network) thông tin, làm giảm khả năng hoạt động hay ngay cả hủy hoại
các mạng này. Nhiều nhà phân tích cho rằng worm khác với virus, họ nhấn
mạnh vào đặc tính phá hoại mạng nhưng ở đây worm được là một loại virus đặc
biệt.
• Trojan: đặt tên theo truyền thuyết con ngựa.
17
Là một chương trình nguy hiểm được dùng để thâm nhập vào máy tính mà người
sử dụng máy tính không hay biết.
Không giống như virus hay worm, Trojan không thể tự nhân bản
Các kiểu gây hại rất nhiều điển hình bao gồm:
• Xoá hay viết lại các dữ liệu trên máy tính
• Làm hỏng chức năng của các tệp
• Lây nhiễm các phần mềm ác tính khác như là virus
• Cài đặt mạng để máy có thể bị điều khiển bởi máy khác hay dùng máy
nhiễm để gửi thư

việc bảo đảm tuyệt đối sự bí mật của giao dịch luôn phải được đặt lên hàng đầu.
19
Bằng không, doanh nghiệp có thể gặp những nguy cơ như nghe trộm, giả mạo,
mạo danh hay chối cãi nguồn gốc…
Để đảm bảo sự bí mật trong giao dịch, người ta thường dùng những biện pháp sau:
o Mã hoá dữ liệu
- Mã hoá khoá bí mật (Secret key Crytography): Mã hoá khoá bí mật hay còn gọi là
mã hoá đối xứng, nghĩa là dùng một khoá cho cả hai quá trình “mã hoá” và “giải
mã”. Khoá này phải được giữ bí mật.
- Mã hoá công khai (Public key Crytography): Mã hoá công khai hay còn gọi là mã
hoá không đối xứng. Phương pháp này người ta sử dụng hai khoá khác nhau, khoá
công khai (Public key) và khoá bí mật (Private key). Khoá công khai được công
bố, khoá bí mật được giữ kín.
o Chữ ký điện tử
Sử dụng chữ ký điện tử nhằm đảm bảo tính toàn vẹn, duy nhất và không bị sửa đổi
bởi người khác của dữ liệu trong giao dịch. Chữ ký điện tử là một công cụ bảo mật
an toàn nhất hiện nay. Nó là bằng chứng xác thực người gửi chính là tác giả của
thông điệp mà không phải là một ai khác.
Không những thế, khi chữ ký điện tử được gắn với một thông điệp điện tử thì đảm
bảo rằng thông tin trên đường chuyển đi sẽ không bị thay đổi bởi bất kỳ một người
nào ngoài người ký ban đầu. Mọi sự thay đổi dù nhỏ nhất sẽ đều bị phát hiện một
cách dễ dàng.
20
Chữ ký điện tử có thể là chữ ký tự đánh từ bàn phím, một bản quét của chữ viết
tay; một âm thanh, biểu tượng; một thông điệp được mã hoá hay dấu vân tay, giọng
nói…
o Phong bì số (Digital Envelope)
Tạo lập một phong bì số là một quá trình mã hoá một chìa khoá bí mật (chìa khoá
DES) bằng khoá công khai của người nhận. Chìa khoá bí mật này được dùng để
mã hoá toàn bộ thông tin mà người gửi muốn gửi cho người nhận và phải được

toàn và liên tục trong hoạt động kinh doanh trên mạng.
Cài đặt các phần mềm chống Virus tấn công
Virus luôn là hiểm hoạ đối với các doanh nghiệp kinh doanh trên mạng. Sự phá
hoại của virus là không thể lường hết được.
Virus máy tính là những đoạn mã được lập trình ra, do sự vô ý hay bất cẩn của
người sử dụng mà virus được cài vào hệ thống. Khi đã được cài đặt vào hệ thống,
nó sẽ tiến hành phá huỷ, đảo lộn toàn bộ cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp được lưu
trữ trong máy tính hay ăn cắp những thông tin và chuyển những thông tin đó cho
22
người gửi virus… Virus máy tính có độ phát tán nhanh và ảnh hưởng trong một
phạm vi rộng. Các virút có cấu tạo ngày càng phức tạp và sự phá hoại ngày càng
lớn với mức độ nghiêm trọng.
Vì vậy để chống sự tấn công của virus máy tính các doanh nghiệp kinh doanh trên
mạng cần cài đặt những phần mềm chống virus có hiệu quả và thường xuyên cập
nhật để chống những virus mới.
Tham gia bảo hiểm
Các biện pháp nêu trên đều là những biện pháp cần thiết để phòng tránh những rủi
ro bất trắc trong thương mại điện tử. Song cho dù có áp dụng biện pháp nào đi
chăng nữa cũng không thể đảm bảo an toàn một cách tuyệt đối bởi có rất nhiều rủi
ro mang tính khách quan. Rủi ro có thể xảy ra hoặc không, lúc này hay lúc khác,
mang lại tai hoạ lớn, vừa hay nhỏ… con người đều hoàn toàn không lường trước
được.
Vì vậy, để đảm bảo an toàn hơn trong quá trình giao dịch trên mạng, ngoài áp dụng
các biện pháp nêu trên, các doanh nghiệp kinh doanh nên tham gia bảo hiểm các
rủi ro trong kinh doanh trên mạng. Hiện nay, một số công ty bảo hiểm nước ngoài
đã tung ra thị trường một loại dịch vụ bảo hiểm mới là “Bảo hiểm Internet –
Internet insurance” cũng ở ngay trên mạng Internet.
1.4. Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử là hình thức thanh toán tiến hành trên môi trường
internet, thông qua hệ thống thanh toán điện tử người sử dụng mạng có thể tiến

phẩm ( hình ảnh, chất lượng, các tính năng, giá cả, ) được hiển thị 24, 365,
sẵn sàng phục vụ người tiêu dùng. Khách hàng có thể đặt hàng các sản
phẩm, dịch vụ, và thanh toán trực tiếp trên mạng. Để thu hút sự chú ý và tạo
dựng lòng trung thành nơi người tiêu dùng, doanh nghiệp phải đáp ứng đúng
nhu cầu, thị hiếu của thị trường. Ví dụ, áp dụng chương trình khuyến mãi
miễn phí địa chỉ e-mail, hộp thư, server, dung lượng hoặc không gian web.
Mặt khác, website của doanh nghiệp phải có giao diện lôi cuốn, dễ sử dụng,
dễ tìm thấy trong các site tìm kiếm. Doanh nghiệp cũng nên chú ý đến yếu tố
an toàn, độ tin cậy và tiện dụng. Hoạt động mua bán phải rõ ràng, dễ dàng, ,
kiểm tra dễ dàng số lượng hàng hóa mua được, sử dụng thẻ điện tử để thanh
toán. Hỏi đáp trực tuyến cũng được đánh giá cao trong một website tiếp
thị.
E-marketing: là sự sẵn sàng của lượng lớn thông tin. Người tiêu dùng có
thể truy cập thông tin sản phẩm và thực hiện giao dịch, mua bán mọi lúc mọi nơi.
Doanh nghiệp sử dụng e-makerting có thể tiết kiệm được chi phí bán hàng như chi
phí thuê mặt bằng, giảm số lượng nhân viên bán hàng, E-marketing còn giúp
doanh nghiệp tiếp cận với thị trường rộng lớn cũng như phát triển ra toàn cầu.
Ngoài ra, so sánh với các phương tiện khác như in ấn, báo đài, truyền hình, e-
marketing có lơi thế rất lớn về chi phí thấp.
Tuy nhiên, E-marketing vẫn có một số hạn chế. Thứ nhất, về phương diện kỹ
thuật, E-marketing đòi hỏi khách hàng phải sử dụng các kỹ thuật mới và không
25

Trích đoạn Phân tích thực trạng ứng dụng TMDT của Ngọc Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status