Ứng dụng thương mại điện tử ở công ty Hàng không Cổ phần Pacific Airlines (2) - Pdf 18

MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng số hóa đã đưa xã hội loài người lên một tầm cao mới,
với sự thay đổi về mọi mặt kinh tế - chính trị - văn hóa. Cuốn theo trào lưu
của thời đại, hoạt động thương mại cũng biến đổi một cách mạnh mẽ. Giờ
đây, bên cạnh hình thức thương mại truyền thống đã xuất hiện thêm một hình
thức thương mại mới, thương mại điện tử. Thuật ngữ thương mại điện tử đang
trở thành từ xuất hiện nhiều nhất trên các diễn đàn kinh tế. Giới kinh doanh
đang thay đổi một phần quan điểm của mình, từ bỏ kiểu kinh doanh truyền
thống để bước vào một kiểu kinh doanh hoàn toàn mới, thương mại điện tử.
Tại Việt Nam, thương mại điện tử đang trên đà phát triển mạnh mẽ.
Những tập đoàn lớn và cả những công ty nhỏ đều đã bắt đầu tìm thấy tác dụng
của mạng Internet đối với khả năng phát triển và tồn tại của công ty mình.
Đây cơ hội tốt nhất để các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn ra thị trường
thế giới.
Pacific Airlines (Công ty Hàng không Cổ phần Pacific Airlines) là một
hãng hàng không giá rẻ có trụ sở tại Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, Thành
phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Hãng điều hành các dịch vụ bay chở hành
khách và hàng hoá cũng như các chuyến bay thuê theo yêu cầu tới các điểm
đến trong nước và quốc tế. Pacific Airlines được đánh giá là một trong hai
Công ty triển khai thương mại điện tử toàn diện nhất ở Việt Nam.
Qua quá trình tìm hiểu và làm việc tại Pacific Airlines, tôi nhận thấy
thương mại điện tử là một bộ phận quan trọng trong chiến lược chiến lược
kinh doanh của Công ty, thương mại điện tử dường như là một công cụ không
thể thiếu để Pacific Airlines có thể chuyển đổi thành một hãng hàng không
giá rẻ hàng đầu Việt Nam. Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Ứng dụng
thương mại điện tử ở công ty Hàng không Cổ phần Pacific Airlines ”.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc triển khai thương mại điện tử ở
Pacific Airlines, với mục tiêu mô tả, phát hiện những mặt thành công cũng
như hạn chế khi triển khai thương mại điện tử ở Pacific Airlines.
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp duy vật biện
chứng, thu thập và phân tích số liệu. Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp

1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
- Các giai đoạn phát triển:
Pacific Airlines là hãng hàng không lớn thứ hai ở Việt Nam, được
thành lập vào năm 1991. Công ty có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh và cơ
sở khai thác chính đặt tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Từ khi thành lập đến hết năm 2004, Pacific Airlines hoạt động dưới
danh nghĩa là công ty độc lập, tuy nhiên thực chất lại là “công ty con” của
Vietnam Airlines với sự nắm giữ đến 86% cổ phần của Tổng công ty Hàng
không Việt Nam (trụ cột là Vietnam Airlines). Trong suốt một thời gian dài,
tình hình kinh doanh của Pacific Airlines liên tục lao dốc và thua lỗ trầm
trọng: Báo cáo tài chính đến hết 2004 cho thấy Pacific Airlines lỗ khoảng 156
tỷ đồng, nhiều gấp 4 lần số vốn điều lệ và không có khả năng trả nợ, chính
điều này đã đặt Pacific Airlines trước 2 tình thế: hoặc là bị giải thể hoặc là cơ
cấu lại một cách hợp lý.
Do tình trạng thua lỗ nặng đến ngày 21/1/2005 , Pacific Airlines đã
được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Bộ Tài chính theo Quyết định số
64/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một mốc quan trọng đánh
dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức cũng như hoạt động SXKD của
Công ty. Năm 2005, Pacific Airlines đã tích cực tái cơ cấu lại, cắt bớt đường
bay không hiệu quả (tuyến Đà Nẵng – Hồng Kông, TP. Hồ Chí Minh - Taipei,
TP.Hồ Chí Minh - Kaoshiung) và đàm phán lại để giảm chi phí thuê máy bay,
nhờ đó hãng đã giảm được đáng kể các khoản lỗ.
Từ tháng 02 năm 2007, Pacific Airlines chuyển đổi đồng bộ thành hãng
hàng không giá rẻ đầu tiên ở Việt Nam. Việc chuyển đổi này cho phép công
ty tổ chức kinh doanh phù hợp hơn với thị trường hàng không nội địa và khu
vực trong phạm vi 5 giờ bay phản lực. Đối với thị trường này, các yếu tố giá
vé rẻ và tần suất bay cao của Pacific Airlines trở nên quan trọng trong việc
kích thích thị trường tăng trưởng nhanh và biến vận tải hàng không thành
phương tiện giao thông công cộng cho nhiều đối tượng hành khách. Các biện
pháp kiểm soát, cắt giảm chi phí theo mô hình hàng không giá rẻ cho phép

Pacific Airlines là hãng hàng không giá rẻ đầu tiên của Việt Nam cung
cấp các chuyến bay trong nước và quốc tế với các đường bay sau :
Hãng bay đa dịch vụ:
Cân đối giữa mạng lưới,
dịch vụ và thương hiệu
Hãng bay giá trị:
Thêm một số dịch vụ
tiện lợi
Hãng giá rẻ:
Chi phí thấp, giá rẻ, không
có dịch vụ khác
Giá trị cao hơnThương mại
Phân khúc
Số giờ bay
3 6
Ban
hỗ trợ

ptriển
đại lý
Ban đặt,
giữ chỗ
và bán

• Đường bay Tp. Hồ Chí Minh - Hà Nội
• Đường bay Tp. Hồ Chí Minh - Đà Nẵng
• Đường bay Tp. Hồ Chí Minh - Nha Trang
• Đường bay Tp. Hồ Chí Minh - Huế
• Đường bay Tp. Hồ Chí Minh - Hải Phòng
• Đường bay Tp. Hồ Chí Minh - Vinh

nước có trang bị một trong các GDS thông dụng này đều có thể đặt chỗ, bán
vé và thanh toán tiền vé bằng thẻ tín dụng cho các chuyến bay nội địa, quốc tế
của Pacific Airlines.
1.1.2.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Hình 1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
P.Khai thác bay
P.TM thị trường
P.Kỹ Thuật
P.TCKT
P.DV & Khai
thác mặt đất
P.QA
Các TT phục vụ
mặt đất
Trưởng chi nhánh
HĐQT
Ban đổi mới Ban Kiểm soát
Tổng GĐ
Bộ
phận
hành
chính
Ban
hỗ trợ

ptriển
đại lý
Ban
Tài
chính

- Nội địa
- Quốc tế
- Thanh toán với
khách hàng
- Thu tiền nội địa,
ngoại tệ
Tổ chức thực
hiện hợp
đồng:
- Loại máy
bay
- Đại lý vé
- Vốn đầu tư
- Con người
Đường
bay
Đặt chỗ chuyến
bay
Mua vé
Audit
Flight
Ngày bay
Thực hiện chuyến bay
Tổng tài sản của Pacific Airlines tăng lên nhiều chủ yếu ở tài sản cố
định. Nguyên nhân có thể là do tốc độ tăng trưởng quy mô của Pacific
Airlines và chính sách đầu tư vào các tài sản cố định: mua sắm trang thiết bị,
phát triển công nghệ hàng không.
Nguồn vốn
Để có thể nhìn khái quát về nguồn vốn của Pacific Airlines cần tập trung
vào cơ cấu và tính ổn định thông qua: Vốn chủ sở hữu, vốn vay

năng lực, có trí tuệ và có khả năng cống hiến cho công ty, kết quả lao động
cao sẽ được công ty trọng dụng và đương nhiên được hưởng những quyền lợi
đặc biệt mà công ty dành cho các đối tượng.
Tính đến ngày 31/12/2007 tổng số lao động trong Công ty là 650
người, trong đó :
Bảng 1.7. Cơ cấu lao động
STT Tổng số cán bộ 650
Tuổi bình quân 32
Cơ cấu trình độ
1 Trên ÐH 38
2 Ðại học 386
3 Dưới ÐH 226
Cơ cấu nghiệp vụ
1 Quản lý 21
2 Kinh doanh 401
3 Đội bay 19
4 Chức năng 209
Thâm niên công tác
1 Trên 3 năm 190
2 Từ 1 đến 3 năm 333
3 Dưới 1 năm 127
Cơ cấu hợp đồng
1 Dài hạn 101
2 Lao động và đào tạo 215
3 Khác 0
4 Cơ bản 305
5 Học việc 27
Nguồn: Phòng nhân sự, tháng 12 năm 2007
Bộ máy nhân viên của PA nhìn chung là trẻ, trình độ nhân viên chiếm
65.23% là Đại học và trên Đại học, đủ tiêu chuẩn đáp ứng cho yêu cầu của

1400

Σ DT
Σ CP
LN
Σ DT
730.5 694.9 789.7 1220.8 1311.2
Σ CP
845.5 850.5 865.2 1287 1312
LN
-115 -155.6 -85.5 -66.2 -0.8
2003 2004 2005 2006 2007
Nguồn: Phòng tài chính kế toán
Từ biểu đồ ta có thể thấy được tình hình sản xuất kinh doanh của Công
ty trong 5 năm trở lại đây có những điểm chính sau :
Lợi nhuận của công ty trong 5 năm gần đây đều âm, điều này phản ánh
tình trạng thua lỗ triền miên kéo dài của Công ty từ trước đến giờ, nguyên
nhân chính của tình trạng này là hậu quả của cơ cấu hoạt động trước đây của
Công ty và những khoản nợ mà nó để lại.
Đến năm 2004, công ty đã thua lỗ ở mức rất cao (– 155.6 tỷ đồng).
Điều này phản ánh năng lực quản lý yếu kém, không có khả năng cạnh tranh
của công ty, nguyên nhân dẫn đến điều này là do sự dựa dẫm quá lâu vào
người anh cả Vietnam Airlines khi Pacific Airlines trực thuộc Tổng Công ty
hàng không Việt Nam. Do tình trạng thua lỗ nặng đến ngày 21/1/2005, Pacific
Airlines đã được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Bộ Tài chính theo Quyết
định số 64/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Điều này đã đánh dấu
một bước chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động SXKD của Công ty.
Năm 2005, dưới sự kiểm soát, chỉ đạo của Bộ Tài chính, Pacific
Airlines đã tái cơ cấu lại Công ty, và ngay lập tức thu được những kết quả
đáng kể: Tổng doanh thu tăng 94,8 tỷ đồng (13,64% ), lỗ giảm 70.1 tỷ đồng

đắn việc làm và thu nhập của cán bộ công nhân viên ổn định và ngày một cải
thiện. Cán bộ công nhân viên đã thấy được tương lai của công ty, đặt niềm tin
vào sự phát triển của Công ty và nỗ lực hết mình làm tròn trách nhiệm của
từng người, từng bộ phận để hướng tới mục tiêu, kế hoạch đã đề ra của Ban
lãnh đạo.
- Vừa qua Pacific Airline đã liên doanh với Jetstar Airways, Jetstar
Airways sẽ hỗ trợ PA về kỹ thuật, lực lượng phi công, đào tạo, quản lý vận
hành, sửa chữa bảo hành máy bay, mở rộng mạng lưới bay nội địa và quốc tế
hoạt động kinh doanh nói chung…ngoài ra, Pacific Airlines và Jetstar
Airways sẽ liên kết thương hiệu, đây là một cơ hội lớn cho Pacific Airlines
phát triển thương hiệu trong khu vực.
- Cùng với sự phát triển kinh tế của toàn cầu nói chung và Việt Nam
nói riêng, nhu cầu về vận tải bằng đường hàng không ngày càng tăng nhằm
mục đích giao thương kinh tế, giao lưu văn hoá, và du lịch. Điều này góp
phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành hàng không và hoạt động kinh
doanh của Pacific Airlines.
Khó khăn:
- Trên thị trường nội địa, Pacific Airlines đang phải cạnh tranh khốc
liệt với 2 doanh nghiệp là hãng Hàng không quốc gia Việt Nam Vietnam
Airlines và Công ty bay dịch vụ hàng không VASCO, tới đây, khi hãng hàng
không tư nhân đầu tiên của Việt Nam Vietjetair đi vào hoạt động, sự cạnh
tranh trên thị trường này ngày càng tăng.
Trên các đường bay quốc tế, hiện nay trên thị trường dịch vụ hàng
không Việt Nam đang có sự tham gia của 35 hãng hàng không nước ngoài,
chủ yếu đến từ các nước Đông Nam Á. Đây thực sự là một thách thức lớn của
Pacific Airlines khi hãng có ý định mở thêm các đường bay quốc tế đi và đến
Việt Nam trong tương lai bởi các đối thủ này vốn có kinh nghiệm nhiều năm
trong lĩnh vực Hàng không giá rẻ.
- Biến động giá xăng dầu trên thế giới: giá xăng dầu trên thế giới ngày
càng tăng mạnh, do đó làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh và giảm lợi

bán vé, đại lý, con người, cơ sở vật chất và trước hết là tấm vé giấy. Tại Việt
Nam, chi phí cho 1 tấm vé giấy thường từ 7-10 USD gồm: in ấn (ở nước
ngoài), thiết kế, bảo quản, nhân viên phòng vé, kế toán… Các khoản chi phí
này thường được tính vào giá vé, làm giảm đi rất nhiều sức cạnh tranh của các
hãng hàng không. Còn khi chuyển sang vé điện tử, tổng chi phí cho một tấm
vé sẽ giảm đến cực tiểu, chỉ bằng 1/10 so với vé giấy. Lợi ích này nhìn thấy rõ
ràng và quá lớn. Trong quy trình bán vé giấy của các hãng hàng không thường
có một bộ phận gọi là “tay xanh” (với Pacific Airlines ) hoặc “tay đỏ” (với
Vietnam Airlines). Tên gọi này để chỉ các nhân viên làm công việc rất thủ
công là đếm, kiểm vé trước khi xuất cho khách hàng và bị mực từ giấy than
trên vé thôi ra tay. Khi chuyển sang vé điện tử, các bộ phận làm thủ công như
vậy sẽ không còn, giúp giảm đáng kể chi phí lương và quản lý.
Thêm vào đó, khi sử dụng vé giấy, chi phí cho hạ tầng công nghệ bán
vé của Pacific Airlines tốn khoảng 1 triệu USD mỗi năm, trong đó riêng chi
phí thuê đường truyền của hãng SITA đã chiếm tới 50%. Còn nay, chi phí cho
toàn hệ thống Bán Vé Điện Tử của Pacific Airlines chỉ khoảng 500.000 USD,
trong đó, 300.000 USD là đầu tư cho hạ tầng mạng. Đây là khoản đầu tư một
lần nên Pacific Airlines ước tính họ có khả năng thu hồi trong vòng không
đến một năm.
Đối với các đại lý: Khi triển khai thương mại điện tử so với bán vé giấy
các đại lý sẽ có các điểm tiện lợi sau: tránh được các sai sót khi điền thông tin
khách hàng, tiết kiệm được thời gian và chi phí lên công ty lấy vé và nộp tiền.
Theo thống kê của phòng TM&TT, hiện nay 70% doanh số bán là từ các đại
lý, việc có thêm nhiều lợi ích hơn cho các đại lý sẽ là động lực kích thích
kênh bán hàng quan trọng này của Công ty.
Đối với khách hàng: Ngoài việc được hưởng mức giá rẻ thì khi triển
khai thương mại điện tử, khách hàng của Pacific Airlines sẽ có được sự minh
bạch trong thông tin chuyến bay nhiều hơn so với trước đây. Mọi thông tin về
chuyến bay đều được đăng tải trên trang web, việc đặt giữ chỗ cũng hoàn toàn
tự động. Điều này biểu hiện sự văn minh, bình đẳng trong việc mua bán vé là

Nhân lực ngoài DN - - x - -
Cơ sở hạ tầng CNTT - - x - -
Nguồn: Phòng thương mại thị trường
Về chi phí: Với mục tiêu triển khai TMĐT toàn diện, chuẩn bị cho kinh
doanh qua mạng. Ban lãnh đạo công ty đã có kế hoạch chi tiết cho việc ứng
dụng TMĐT trong quá trình kinh doanh của Công ty. Mặc dù chi phí đầu tư
xây dựng hệ thống thương mại điện tử toàn diện là khá cao, đầu tư cơ bản ban
đầu lớn. Song công ty luôn xác định đây là mục tiêu phát triển lâu dài của
công ty. Hơn thề hàng năm công ty đều có trích từ lợi nhuận một phần nhất
định để đầu tư xây dựng cơ bản và đào tạo. Vì thề chi phí là trở ngại dễ dàng
vượt qua. Có thể ước tính 1 số khoản chi phí lớn như sau:
- Chi phí thuê tư vấn
- Chi phí mua sắm thiết bị
- Chi phí đào tạo nhân viên thương mại điện tử
- Chi phí xây dựng Website
- Chi phí cập nhật và nâng cập Website hàng năm
Về nguồn nhân lực của công ty: Đội ngũ cán bộ nhân viên của Pacific
Airlines có mặt bằng trình độ chung tương đối cao, có đào tạo chính quy, đã
quen làm việc trong môi trường hiện đại sẽ nhanh chóng thích ứng với công
việc khi triển khai hệ thống TMĐT. Tuy nhiên công ty còn thiếu nhân viên
nào được đào tạo chính quy chuyên ngành TMĐT. Vì TMĐT là phương thức
đòi hỏi người sử dụng và quản lý nó phải có một kiến thức toàn diện và
chuyên sâu về các lĩnh vực sâu: quản trị kinh doanh, CNTT, tài chính ngân
hàng và ngoại ngữ. Mặc dù vậy, đây là một trở ngại Công ty có thể vượt qua
nếu có chính sách đào tạo và thu hút nhân tài tốt.
Về nhân lực ngoài doanh nghiệp: đó là đội ngũ chuyên gia tư vấn tổ
chức, tư vấn thiết kế hệ thống thương mại điện tử, xây dựng website. Thực tế,
đây là trở ngại mà công ty có thể vượt qua bởi khi có nhu cầu công ty có thể
ký hợp đồng thuê các công ty chuyên về TMĐT trong và ngoài nước.
Cơ sở hạ tầng TMĐT: có thể nói đây là trở ngại có thể vượt qua của

yếu tố trong hạ tầng CNTT và truyền thông bao gồm:
+ Ngành công nghiệp thiết bị ITC ( máy tính, thiết bị mạng,..). Đây là
các yếu tố thuộc về phần cứng trong đấu tư cho TMĐ.
+ Ngành công nghiệp phần mềm
+ Ngành công nghiệp viễn thông ( các dịch vụ viễn thông cố định, di
động…)
+ Internet và các dịch vụ gia tăng dựa trên Internet
+ Bảo mật, an toàn và an ninh mạng
Đối với tất cả các ngành trên Việt Nam đều có những bước tiến mạnh
mẽ trong những năm gần đây, từ bước đầu học hỏi dần tới làm chủ và sáng
tạo công nghệ.
- Sự phổ biến rộng rãi của Internet và thói quen giao dịch trực tuyến:
Theo thông kê của Trung tâm Thông tin Internet Việt Nam, tình hình
phát triển Internet của Việt Nam trong mấy năm gần đây rất đáng mừng, Việt
Nam hiện đang xếp thứ 2 khu vực Đông Nam Á về số người sử dụng Internet
( đến tháng 1 năm 2008 Việt Nam có 18913492 người sử dụng ):
Bảng 2.2. Thống kê tình hình sử dụng Internet của Việt Nam đến tháng 1
năm 2008
- Số lượng thuê bao qui đổi : 5329547
- Số người sử dụng : 18913492
- Tỉ lệ số dân sử dụng Internet : 22.47 %
- Tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của
Việt Nam :
12580 Mbps
- Tổng băng thông kênh kết nối trong nước: 27744 Mbps
(trong đó băng thông kết nối qua trạm trung
chuyển VNIX)
23000 Mbps
- Tổng lưu lượng trao đổi qua trạm trung
chuyển VNIX :

phí chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua fax).
Ngoài việc sử dụng email để thực hiện các giao dịch thương mại thì
công ty cũng đã bước đầu sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin bằng các
công cụ tìm kiếm phổ biến như:
- Yahoo.com - Infoseek.com
- Altavista.com - Google.com
Qua Internet công ty đã khai thác được thông tin về thị trường, đối thủ
cạnh tranh, tin tức về các ngành nghề có liên quan đến hoạt động của công ty.
Đồng thời công ty cũng đã tìm kiếm được các cơ hội kinh doanh với đối tác
trong và ngoài nước. Hiện công ty đã có một số địa chỉ Internet rất hữu ích và
công ty thường xuyên truy cập vào đó để tìm kiếm thông tin. Với lượng thông
tin “khổng lồ”, “phong phú”,với việc đơn giản và dễ dàng download thông tin
từ Website về máy tính của mình đã làm cho công ty phần nào nhận thực
được lợi ích của việc sử dụng Internet và trên hết là lợi ích của TMĐT.
- Giai đoạn 2: Hiện diện qua website
Website của một công ty chính là bộ mặt của công ty đó trên thế giới
mạng, nó cũng như các đại lý, các văn phòng trong hình thức kinh doanh
truyền thống. Website của công ty là nơi khách hàng ghé thăm khi cần biết
thêm thông tin về công ty, sản phẩm, giá cả… và là nơi giao tiếp trực tiếp của
khách hàng và công ty, đó là nơi họ có thể mua hàng, có thể biểu hiện thái độ
ủng hộ hay không vừa lòng về chất lượng sản phẩm dịch vụ của công ty.
Mọi công ty một khi đã lựa chọn Thương mại điện tử là hình thức kinh
doanh của mình, đều phải có cho mình một trang Web. Việc xây dựng và phát
triển trang web của công ty thành công hay không ảnh hưởng trực tiếp đến sự

Trích đoạn Giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả ứng dụng Giải pháp mở rộng tiện ích của thương mại điện tử: Hoàn thiện Website của Công ty: Nâng cao chất lượng kỹ thuật dịch vụ quảng cáo trên mạng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status