đồ án môn học xử lý nước cấp đề tài xử lý nước cấp nhiễm arsen - Pdf 22

Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
Hiện nay, một số nơi như các cơ quan, xí nghiệp, nhà trường,… vẫn sử
dụng nước dùng trong sinh hoạt và sản xuất là khai thác các nguồn nước ngầm
bằng cách khoan các giếng công nghiệp, nước giếng khoan có trữ lượng ổn định
và chất lượng tốt nhất. Tuy nhiên trở ngại cho việc dùng nước ngầm hiện nay là
trong thành phần nước ngầm thường bị nhiễm các hợp chất của kim loại nặng ở
dạng hoà tan như: Fe(OH)
2
; Fe(HCO
3
)
2
; Mn(HCO
3
)
2
, các cặn lơ lửng. Đặc
biệt do sự ô nhiễm môi trường ngày càng ra tăng nên nguồn nước ngầm còn có thể
bị nhiễm các hợp chất Nitơ và một số hợp chất hữu cơ khác. Các kim loại nặng
Mn, Cr, các gốc NO
2
, NH
4
+
và đặc biệt nguy hiểm nếu chứa một lượng Asen
> 0,01mg/l gây nên một số bệnh nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong .
Các điều tra sơ bộ ở một số địa phương cho thấy, hàm lượng asen trong
nước ngầm ở nhiều nơi vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với nước ăn uống và

kỳ chiếm tỷ lệ cao nhất; kế đến là miền Trung Tây và Đông Bắc. Miền Đông Nam
là nơi có nồng độ thấp nhất. Trên 13% giếng khoan có nồng độ arsenic trên 5ug/l,
khoảng 1% có nồng độ trên 50ug/L.
 Tại Banglades

1.1.2.Tại Việt Nam (Đồng bằng Bắc Bộ)
Do cấu tạo địa chất, nhiều vùng ở nước ta nước ngầm bị nhiễm asen.
Khoảng 13,5% dân số Việt Nam (10-15 triệu người) đang sử dụng nước ăn từ
nước giếng khoan, rất dễ bị nhiễm asen.
Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có khoảng hơn 1 triệu giếng
khoan, trong đó nhiều giếng có nồng độ asen cao hơn từ 20-50 lần nồng độ cho
phép (0.01mg/l), ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng của cộng đồng.
Tại châu thổ sông Hồng, những vùng bị nhiễm nghiêm trọng nhất là phía
Nam Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và
Hải Dương. Ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng phát hiện nhiều giếng khoan có
nồng độ asen cao nằm ở Đồng Tháp và An Giang.
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 3
Sự ô nhiễm asen ở miền Bắc phổ biến hơn và cao hơn miền Nam. 1/4 số hộ
gia đình sử dụng trực tiếp nước ngầm không xử lý ở ngoại thành Hà Nội đã bị ô
nhiễm asen, tập trung nhiều ở phía Nam thành phố, Thanh Trì và Gia Lâm
(18,5%).
Ở khu vực Hà Nội, Theo kết quả phân tích của Văn phòng đại diện
UNICEF tại Hà Nội và Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn
trung ương 6 tháng đầu năm 1999 cho thấy, mẫu nước của 351 trong số tổng số
519 giếng khoan ở Quỳnh Lôi (Hai Bà Trưng - Hà Nội) được phân tích thì có 25%
số mẫu có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và nếu theo
tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO là 0,01 mg/l) thì có tới 68% vượt tiêu
chuẩn cho phép.

cho phép giải phóng Asen và tích tụ trong nước dưới đất.
 Quá trình trao đổi ion Sunfat chứa trong phân bón dư thừa trong đất và ion
Asen trong khoáng vật chứa Asen cho phép giải phóng và tích tụ Asen
trong nước dưới đất.
 Điều kiện môi trường khử cho phép khử ion Oxyhydroxit sắt (FeOOH)
trong đất đá để giải phóng và tích tụ Asen trong nước; mối liên quan chặt
chẽ giữa hàm lượng Asen, sắt và Mangan.
Từ các cách giải thích nêu trên, người ta cho rằng ở Việt Nam, Asen trong
nước dưới đất có hàm lượng cao do 3 nguyên nhân sau đây:
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 5
 Nước dưới đất ở đồng bằng Bắc bộ có hàm lượng Asen cao có liên
quan nguồn gốc với các khoáng vật chứa sắt và Mangan trong đất đá, tầng chứa
than bùn hoặc tầng bùn sét phân bố khá rộng rãi ở cả hai đồng bằng trên.
 Asen có hàm lượng cao trong nước dưới đất có thể có nguồn gốc
liên quan với các vùng đá gốc chứa hàm lượng Asen dị thường (như ở đông nam
bản Phúng huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
 Asen trong nước dưới đất cao có nguồn gốc từ nước thải công
nghiệp (như ở khu vực Việt Trì).
Tuy nhiên, cũng không loại trừ ô nhiễm là do tác động của con người như
gần các nhà máy hoá chất, những khu vực dân tự động đào và lấp giếng không
đúng tiêu chuẩn kỹ thuật khiến chất bẩn, độc hại bị thẩm thấu xuống mạch
nước. Theo điều tra của UNICEF, asen có trong tất cả đất, đá, các trầm tích được
hình thành từ nghìn năm trước tại Việt Nam, với nồng độ khác nhau. Thạch tín từ
đá tan vào các mạch nước ngầm. Vì vậy, mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam đều có
nguy cơ nhiễm asen.
1.3.Tác hại của ô nhiễm Asen .Asen - “sát thủ” vô hình
Asen không gây mùi khó chịu khi có mặt trong nước, cả
khi ở hàm lượng có thể gây chết người, nên không thể phát

giải độc asen trong cơ thể của những người sử dụng nước ngầm ô nhiễm bằng
thuốc giải độc có tên arsenicum album. Tuy nhiên, loại thuốc này vẫn đang trong
thời gian thử nghiệm.
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 7
Trong trường hợp đã bị nhiễm độc asen, muốn giảm bớt các triệu chứng
của bệnh do asen, người bệnh cần được đảm bảo chế độ ăn uống thật tốt, giảm
protein, bổ sung các vitamin để giúp cơ thể thải loại asen nhanh hơn. Bên cạnh đó,
bệnh nhân có thể dùng thuốc giúp gan thải asen ra khỏi cơ thể như thuốc DMPS và
DMSA. Tuy nhiên phải có sự hướng dẫn của bác sĩ vì đây là những loại thuốc có
thể gây ra nhiều phản ứng phụ.
2.1.2. Dò nước ô nhiễm asen bằng vi khuẩn phát sáng
Nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ môi trường Thụy Sĩ
đã lợi dụng khả năng nhạy cảm với asen của vi khuẩn Escherichia coli để biến đổi
gen sao cho chúng phát sáng khi dò thấy asen trong nước. Thành công trên có thể
cứu sống nhiều người đang sử dụng nước ngầm bị ô nhiễm loại chất độc tự nhiên
này. E.coli hiện cũng đang được thử nghiệm tại Việt Nam, chi phí thấp mà không
bị giải phóng các hoá chất độc hại vào môi trường.
2.2.Các nghiên cứu ở trong nước
2.2.1.Cách nhận biết Asen
Theo Tiến sĩ Trần Hồng Côn, Bộ môn Công nghệ hoá học, Đại học Khoa
học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, không thể nhận biết được asen trong
nước qua cảm quan. Kể cả nước trong và có cảm giác sạch vẫn có thể chứa chất
độc này. Việc đun sôi và lọc vi trùng cũng không loại được asen, mangan và một
số kim loại nặng khác.
Với bộ kit thử asen của Viện Địa chất, chỉ mất 7 phút để phát hiện có độc
chất asen trong nước hay không. Bộ kít có có giá 150.000 đồng, thử được 25 lần.
Với bộ kit này, có thể xác định được hàm lượng Asen trong nước từ 0,005mg/l đến
1,5mg/l

Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 9

Bình lọc asen Chất hấp phụ - đá ong
Chương 3 : CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ
Arsenic hiện diện trong nước ngầm ở trạng thái yếm khí dưới dạng As(III)
(arsenite) trung tính. Khi tiếp xúc với không khí (nước mặt) một phần lớn As(III)
sẽ hoán chuyển thành As(V) (arsenate) và cho ra ion âm. Do đó mọi phương pháp
xử lý đều tập trung vào việc khử arsenate.
3.1.Phương pháp kết tủa
Arsenat, AsO
4
3-
có khả năng tạo thành một số hợp chất kết tủa có độ tan
thấp như sắt arsenat FeAsO
4
, canxi Arsenat Ca
3
(AsO
4
)
2
, hay mangan arsenat
Mn
3
(AsO
4
)
2

RỬA
HỒ
ỔN
ĐỊNH

LẮNG
GIÀN
MƯA
KẾT
TỦA
NGUỒN
CẶN

LỌC
KHỬ TRÙNG
CẤP
NƯỚC

Nhiều nguồn nước chứa đồng thời cả sắt hay mangan hoặc độ cứng cao, khi
xử lý các yếu tố đó là đã loại bỏ được một phần arsen.


. Dung
dịch tái sinh có thể được xử lý bằng cách là bổ xung muối sắt (III) hay muối
nhôm (phèn nhôm) hoặc vôi. Phản ứng hoá học xảy ra:
3Na
2
HAsO
4
+ 3H
2
O + 2FeCl
3
↔ Fe(OH)
3
+ Fe(H
2
AsO
4
)↓ + 6NaCl
2Na
2
HAsO
4
+ NaHCO
3
+ 4Ca(OH)
2
↔ CaCO
3
↓ + Ca
3

arsenat) hấp phụ trên các vật liệu oxit trên theo nhiều tác giả là theo cơ chế tạo ra
phức chất bề mặt trên chất rắn. Theo đó, trước khi tạo ra liên kết hoá học chúng
được hấp phụ và nó thường là giai đoạn chậm nhất của quá trình.
Nhôm oxit dạng γ (γ- Al
2
O
3
) là chất hấp phụ arsen được sử dụng rộng rãi
nhất, vật liệu này thường là dạng hạt có kích thước không lớn (0.3-0.6mm). Nhôm

NƯỚC
RỬA
TRAO ĐỔI
ION
GIÀN
MƯA
BỂ
LẮNG
NGUỒN
CẶN
HỒ
ỔN
ĐỊNH
KHỬ TRÙNG
CẤP
NƯỚC
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 13
oxit có tính năng chọn lọc đối với các anion theo: OH

> I
-
.
Nhôm oxit được dùng làm vật liệu hấp phụ arsen là do độ chọn lọc cao của
nó đối với hợp chất arsen. Vì là quá trình tạo phức trên bề mặt chất rắn nên diện
tích bề mặt của chất hấp phụ chỉ được sử dụng một phần, tại các trung tâm hoạt
động có khả năng tạo liên kếtt phức chất, vì vậy nhôm oxit có diện tích bề mặt cao
sẽ thuận lợi cho quá trình hấp phụ. Tuy vậy dung lượng hấp phụ của nhôm oxit đối
với arsen cũng không cao do nồng độ của arsen trong nước thường rất nhỏ. Với
nhôm oxit có diện tích khoản 400m
2
/g dung lượng hấp phụ arsen cũng chỉ đạt
1,4mg As/ml nhôm oxit (xấp xỉ 1,6mg/g) tại pH = 6. pH thích hợp cho quá trình
hấp phụ As trên nhôm oxit nằm trong khoảng 5.5-6.0, tại pH cao hơn, ví dụ pH=8
dung lượng hấp phụ chỉ còn non một nửa so với nó tại pH = 6. dung lượng hấp
phụ của nhôm oxit đối với As giảm rất mạnh khi có mặt sunfat nhưng hầu như
không tác động của ion clorua. Tạp chất hữu cơ, chất keo có mặt trong nước cũng
ảnh hưởng xấu đến quá trình hấp phụ của arsen trên nhôm oxit.
Arsen tạo phức chất trên bề mặt nhôm oxit khá bền nên khi tái sinh phải
dùng dung dịch xút 4% sau đó trung hoà lại với axit sunfuric 2%. Tuy vậy dù có
tăng nồng độ axit thì cũng chỉ tách được 50 – 70% lượng arsen trong chất hấp phụ,
do vậy dung lượng hoạt động của chu kì sau giảm 10 – 15% và nhôm oxit sẽ mất
tác dụng sau vài chu kì hoạt động. Do khó khăn trong việc tái sinh và xử lý dung
dịch tái sinh chứa nồng độ arsen cao nên một số nhà công nghệ có ý định chỉ sử
dụng cột một lần sau đó loại bỏ chất hấp phụ đã bảo hoà arsen.
Ngoài ra, Sắt oxit, Mangan dioxit gần đây cũng được sử dụng làm chất hấp
phụ arsen. Đặc biệt là Mangan dioxit có khả năng oxy hoá trực tiếp As(III) thành
As(V) ngay trong cột hấp phụ mà không cần tới oxy hoà tan.
Do có nhiều chất có thể sử dụng làm chất hấp phụ arsen mà những chất này
có thể tồn tại sẵn ở trong nước (Fe, Mn) hoặc là hoá chất dùng để xử lý nước

 Ưu điểm
o Ít bị ảnh hưởng nếu hàm lượng sunfate và cặn tan (nồng độ ion tổng)
o

-Al
2
O
3
có tính hấp phụ chọn lọc đối với các hợp chất của Asen
 Khuyết điểm
o Khó khăn trong việc tái sinh

-Al
2
O
3
3
/ngàyđêm

4.2.Tính toán và thiết kế hệ thống
Dựa trên những ưu điểm của phương pháp hấp phụ nên lựa chọn Sơ đồ
công nghệ xử lý Asen bằng phương pháp hấp phụ để tính toán và thiết kế .
Chú thích
Bơm

Bùn
Thuyết minh sơ đồ công nghệ
Nước được bơm từ giếng lên giàn mưa. Tại giàn mưa nước sẽ được làm
thoáng qua hệ thống sàn tung, Asen được chuyển từ asenic sang Asenate đồng thời
qua đó một phần Fe
2+
, Mn
2+
chuyển thành Fe
3+
và Mn
4+
, quá trình oxi hóa này sẽ
được tăng cường qua bể lắng đồng thời một phần hợp chất keo của sắt, mangan và
asen sẽ được lắng ở bể lắng, một phần sẽ được dẫn qua bể lọc và được giữ lại ở bể
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 16
lọc. Sau đó nước sẽ được tiếp tục bơm qua cột hấp phụ từ phía dưới nhằm để tăng
thời gian hấp phụ, tại đây các kim loại nặng sẽ được hấp phụ và được khử trùng
bằng clorator và được đưa vào hồ ổn định và phục vụ cho cấp nước .

3
/m
2
.h)
Chọn diện tích mặt bằng cho gìan mưa là : dài . rộng = 2 . 2 m. Chia giàn
mưa thành 2 ngăn, mỗi ngăn có kích thước : 2. 1 m
Vậy diện tích toàn bộ giàn mưa là ( 2. 1 ) . 2 = 4 m
2

Số sàn tung: 3, (vì hiệu quả hoạt động của 3 sàn tung đầu tiên thường là
cao, còn các sàn kế tiếp thường rất kém).
Chọn khoảng cách giữa các sàn tung là 0,7m
Vậy chiều cao phần làm thoáng là 0,7 . 3 = 2,1 m
Đường kính lỗ cũng như số lỗ trên 1 sàn tung : chọn đường kính lỗ là
14mm và bước lỗ là 50mm.
Chọn sàn tung là các tấm inox có kích thước 1 . 1 m. cần sử dụng 4 tấm
inox cho 1 sàn tung.
Hệ thống thu, thoát khí và ngăn nước : góc nghiêng giữa các chớp với mặt
phẳng nằm ngang là 45
o
, khoảng cách giữa 2 cửa chớp kế tiếp là 200mm, cửa chớp
được bố trí ở xung quanh trên toàn bộ chiều cao của giàn mưa, nơi có bề mặt tiếp
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 17
xúc với không khí. Các cửa chớp này được xây dựng cách các mép ngoài của sàn
tung 0,6m.
Sàn thu nước: được đặt dưới đáy giàn mưa, có độ dốc 0,02 về phía ống dẫn
nước xuống bể lắng, kết cấu sàn thu là bê tông cốt thép.
Hệ thống ống thu nước và xả cặn của giàn mưa: ống thu nước đặt ở đáy sàn

Sm
v

  3
4. 4.7,2.10
96( )
S
D mm


  

Chọn đường kính D=90 mm, Kiểm tra lại vận tốc
2
1000.4
0,91( / )
86400. .0,09
Q
v m s
S

  Trên 1 ống dẫn chính, ta sắp xếp các ống phân phối chính, chọn khoảng
cách giữa 2 ống phân phối chính là 1m. Như vậy trên 1 ngăn của giàn mưa có 2
ống phân phối chính, trên ống phân phối chính có các ống nhánh được nối với ống

Lượng nước vào các ống nhánh là:
43
1000
4,83.10 ( / )
86400.2.2.6
n
q m s



Chọn vận tốc nước trong ống nhánh là 1,4m/s. Như vậy đường kính của
ống nhánh là:
4
.4
4,83.10 .4
21( )
. .1,4
n
q
d mm
v


  

Tổng diện tích lỗ trên 1 ống nhánh theo quy phạm chọn từ 30 – 35% diện
tích tiết diện ngang của ống phân phối chính, chọn tỉ lệ này là 30%. tổng diện tích
lỗ phun là:
2
4

Tổn thất thủy lực qua giàn mưa: là 0,5m.

Tóm tắt kết quả tính toán giàn mưa
Thông số tính toán
Đơn vị
Giá trị
1.Cường độ tưới
2.Diện tích bề mặt giàn mưa
m
3
/m
2
.h
m
2
10
4
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 19
3.Chiều cao phần làm thoáng
4.Đường kính lỗ sàn tung
5.Số tấm inox cho giàn mưa
6.Ống thu nước và xả cặn của giàn mưa
7.Ống dẫn chính
8.Ống phân phối chính
9.Ống nhánh
10.Thời gian làm thoáng
m
mm


Trong đó:
Q = 1000 m
3
/d: công suất xử lý của trạm.
T = 1,5 h: thời gian lưu nước trong bể.
Lấy chiều cao vùng lắng trong bể là 2,5m. Diện tích mặt bằng bể lắng là:
2
l
W 62,5
25
H 2,5
Fm  

Chọn chiều rộng bể lắng là 2,5m thì chiều dài của bể là 10m.
Đầu bể lắng có thiết kế một tường chắn để phân phối dòng nước vào bể.
Tường phân phối này cách tường đầu bể 1m. Trên tường phân phối có đục các lỗ
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 20
để phân phối điều nước vào bể lắng. Chọn vận tốc nước qua lỗ phân phối là
0,3m/s. Tổng diện tích các lỗ phân phối trong bể lắng là:
Tổng diện tích lỗ =
2
1000
0,039
86400.0,3
m

Chọn kích thước 1 lỗ là 50.50mm. Tổng số lỗ trên vách phân phối trong bể

= 1/3 . 10 = 3,3 m
Sử dụng 2 ống thu nước bề mặt trong bể, khoảng cách giữà ống là 1,5m,
khoảng cách từ mỗi ống đến tường là 0,5m. Chọn vận tốc nước chảy trong ống là
0,6m/s. Lưu lượng nước dùng để tính đường kính ống thu lấy lớn hơn 30% lưu
lượng tính toán. Vậy lưu lượng nước chảy vào mỗi ống thu là:
Q
ống
=
3
1000
1,3. 1,3. 0,008 /
2 86400.2
Q
ms

Đường kính ống thu nước là:
D
ống thu
=
4. 4.0,008
130
. .0,6
Q
mm
v



Chọn D=110mm, kiểm tra lại vận tốc
2

2
0,008
26
0,02
.
4


(lỗ)
Chọn số lỗ trên ống thu nước là 26 lỗ, các lỗ sẽ được bố trí 2 bên thành ống so le
với nhau như vậy mỗi bên thành ống có 13 lỗ. Các lỗ được bố trí theo hướng nằm
ngang, khoảng cách giữa các lỗ là: l =
3,3
253( )
13
mm

Tính chiều cao bể lắng :
Chọn chiều cao công tác trong bể ( chiều cao từ mặt nước tới sàn công tác)
là 0,3m.
Chọn phương pháp xả cặn trong bể là xả cặn bằng thủy lực, chọn chiều cao
vùng chứa cặn là 1m và chiều cao an toàn từ lớp cặn cho đến vùng lắng là 0,3m.
Thời gian giữa 2 vùng xả cặn sẽ được xác định khi đưa bể lắng vào hoạt động.
Chiều cao của bể lắng là:
H = H
l
+ H
cc
+ H
ct

trong ống xả là 1m/s.Đường kính ống xả cặn là:
D
xả cặn
=
4.
4.0,073
96
. .1
can
v
mm
v



Chọn ống xả cặn là ống PVC có đường kính 90mm, có chiều dài bằng chiều
dài làm việc của bể lắng , chiều dài ống là 8,8m. Kiểm tra lại vận tốc
2
1000.4
1,15( / )
86400. .0,09
Q
v m s
S

  

Ta chọn khoảng cách giữa các lỗ là 300mm. Như vậy trên ống xả cặn có
tổng cộng [( 8,8 / 0,3 )-1 ] .2 = 56 (lỗ).
Các lỗ xả cặn được bố trí thành 2 hàng so le với nhau ở 2 bên thành ống xả

2
54,17
0,025( )
0,6 3600.0,6
tt
Q
Sm  

Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 23
Chọn máng có kích thước là : 0,16 . 0,16m. Máng này sẽ được xây dựng tương tự
như phần máng của hệ thống cũ, chiều cao từ sàn công tác đến mặt nước trong
máng lấy là 0,3m.
Chọn tổn thất áp lực qua bể lắng là 0,5m.
Bảng tóm tắt kết quả tính toán bể lắng ngang
Thông số tính toán
Đơn vị
Giá trị
1.Thời gian lưu nước
2.Dung tích bể lắng
3.Chiều rộng
3.Chiều dài
4.Chiều cao
5.Số lỗ trên vách phân phối
6.Ống thu nước
7.Ống xả cặn
h
m
3

chứa nước sạch.
Khi rửa: nước rửa do bơm cấp, qua hệ thống nước phân phối nước rửa lọc,
qua lớp sỏi đỡ, các lớp vật liệu lọc và kéo theo các cặn bẩn kéo vào máng thu nước
rửa ở giữa chảy về cuối bể và xả ra ngoài theo mương thoát nước. Quá trình rửa
được tiến hành đến khi nước rửa hết đục thì ngưng.
Sau khi rửa, nước được đưa vào bể đến mực nước thiết kế, rồi cho bể làm
việc. Do cát mới rửa chưa được sắp xếp lại, độ rỗng lớn nên chất lượng nước lọc
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 24
ngay sau rửa chưa đảm bảo, phải xả nước lọc đầu, không đưa qua bể chứa. Thời
gian xả lọc đầu quy định là 10 phút.
Tổng diện tích bể lọc tính theo công thức:
2
12
()
. 3,6. . . .
bt bt
Q
Fm
T v W t a t v



Trong đó:
 Q: công xuất trạm xử lý (m
3
/ngày đêm).
 T: thời gian làm việc của trạm trong một ngày đêm (giờ) T = 24 giờ.
 v

Fm


Số bể lọc cần thiết xác định theo công thức:
0,5 0,5. 5,6 1,18NF  
(bể)
Chọn N = 3 bể ( N không được nhỏ hơn 3 để khi một bể ngưng làm việc thì
vận tốc trong các bể còn lại không vượt quá 1,5 lần bình thường).
Khi kiểm tra lại tốc độ lọc tăng cường với điều kiện đóng một bể để rửa:
1
3
. 8. 12( / )
31
tc bt
N
v v m h
NN
  


(Nằm trong khoảng (8 – 12m), nên đảm bảo).
Trong đó:
 V
tc
: tốc độ lọc tăng cường (m/h).
Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3

Trang 25
 N
1

= 2m.
 H
v
: chiều cao lớp vật liệu lọc gồm than ăngtraxit và cát thạch anh, h
v
= L
1
+
L
2
= 0.8m.
Vậy chiều cao bể là: H = h
d
+ h
v
+ h
n
+ h
p
= 0.7 + 0.8 + 2 + 0.5 = 4(m).
Bảng tóm tắt kết quả tính toán bể lọc
Thông số tính toán
Đơn vị
Giá trị
1.Số bể lọc
2.Diện tích bể lọc
3.Chiều dài
4.Chiều rộng
5.Chiều cao
6.Chiều cao lớp cát thạch anh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status