ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA MÔI TRƯỜNG- BỘ MÔN KỸ THUẬT
********************
ĐỒ ÁN MÔN HỌC KỸ THUẬT
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
ĐỀ TÀI:
THIẾT KẾ BÃI CHÔN LẤP LAI HỢP HIẾU KHÍ – KỊ KHÍ
CÔNG SUẤT 100 TẤN/NGÀY
GVHD: TS. NGUYỄN NHƯ SANG
KHÓA: 2009
LỚP: MO09KMT2
SVTH:
LẦU A SY 90904544
NGUYỄN ANH TÀI 90902315
TP. HCM 06/2013
i
LỜI CẢM ƠN
Thông qua đồ án môn học, chúng em có cái nhìn tổng quát hơn về kiến thức đã học
và cách ứng dụng những kiến thức đó vào thực tế.
Để hoàn thành được đồ án này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ,
quan tâm, động viên rất lớn từ phía gia đình, thầy cô và bạn bè.
Chính vì thế, nhân đây, em xin gửi lời biết ơn đến thầy Nguyễn Như Sang đã tận
tình hướng dẫn, đồng hành chúng em trong suốt thời gian thực hiện đồ án và cung cấp
những kiến thức hữu ích để chúng em hoàn thành đồ án này.
Em xin chân thành cảm ơn.
ii
MỤC LỤC
BÌA i
iii
v
dẫn tới các hậu quả khôn lường, làm suy giảm chất lượng môi trường, kéo theo những
mối nguy hại về sức khoẻ cộng đồng, hạn chế sự phát triển của xã hội.
Một trong những phương pháp xử lý chất thải rắn được coi là kinh tế nhất cả về đầu
tư ban đầu cũng như quá trình vận hành là xử lý CTR theo phương pháp chôn lấp hợp
vệ sinh. Đây là phương pháp xử lý chất thải rắn phổ biến ở các quốc gia đang phát triển
và thậm chí đối với nhiều quốc gia phát triển. Nhưng phần lớn các bãi chôn lấp CTR ở
nước ta không được quy hoạch và thiết kế theo quy định của bãi chôn lấp CTR hợp vệ
sinh. Các bãi này đều đa số đều không kiểm soát được khí độc, mùi hôi và nước rỉ rác
là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng cho môi trường đất, nước và không khí.
Ở các nước tiên tiến trên thế giới hiện nay, người ta bắt đầu thay các bãi chôn lấp
hợp vệ sinh bằng các bãi chôn lấp sinh học. Một phương pháp xử lý chất thải rắn được
đánh giá cao do tốc độ phân hủy nhanh trong thời gian ngắn, sản sinh ra lượng khí tận
dụng để cung cấp năng lượng nhiều hơn, giảm diện tích cần sử dụng cho một bãi chôn
lấp.
7
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ
THỊ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ
I. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
1. Chất thải rắn là gì?
Chất thải rắn (Solid Waste) là tòan bộ các loại vật chất được con ngưởi loại bỏ
trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các
hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng …) trong đó quan trọng nhất là
các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống.
Rác là thuật ngữ được dùng để chỉ chất thải rắn có hình dạng tương đối cố
định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh
hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là chất thải rắn phát sinh từ các
hoạt động thường ngày của con người.
2. Chất thải rắn đô thị
Rác thải thu gom trong khu vực đô thị được gọi là chất thải rắn đô thị.
cấp… thải ra các loại xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, gỗ, ống dẫn…
Các dịch vụ đô thị (gồm dịch vụ thu gom, xử lý chất thải và vệ sinh công cộng
như rửa đường, vệ sinh cống rãnh…) bao gồm rác quét đường, bùn cống rãnh,
xác súc vật…
d. Khu công nghiệp, nông nghiệp: CTRSH thải được thải ra từ các hoạt động
sinh hoạt của công nhân, cán bộ viên chức ở các xí nghiệp công nghiệp, các cơ
sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Ơ khu vực nông nghiệp chất thải được thải ra
chủ yếu là: lá cây, cành cây, xác gia súc, thức ăn gia súc thứa hay hư hỏng;
chất thải đặc biệt như: thuốc sát trùng, phân bón, thuốc trừ sâu, được thải ra
cùng với bao bì đựng các hoá chất đó.
4. Phân loại chất thải rắn
Việc phân loại chất thải rắn là một công việc khá phức tạp bởi vì sự đa dạng
về chủng loại, thành phần và tính chất của chúng. Có nhiều cách phân loại khác
nhau cho mục đích chung là để có biện pháp xử lý thích đáng nhằm làm giảm tính
độc hại của CTR đối với môi trường. Dựa vào công nghệ xử lý, thành phần và
tính chất CTR được phân loại tổng quát như sau:
a. Phân loại theo công nghệ quản lý – xử lý
Phân loại CTR theo loại này người ta chia làm: các chất cháy được, các chất
không cháy được, các chất hỗn hợp.
Bảng 1.1. Phân loại theo công nghệ xử lý
Phân loại Định nghĩa Thí dụ
9
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
1. Các chất cháy
được
-Thực phẩm
- Giấy
- Hàng dệt
-Cỏ, rơm, gỗ củi
- Chất dẻo
- Các loại vật liệu không bị
nam châm hút
- Các loại vật liệu và sản
phẩm chế tạo từ thuỷ tinh
- Các vật liệu không cháy
khác ngoài kim loại và thuỷ
tinh
- Hàng rào, dao, nắp lọ…
- Vỏ hộp nhuôm, đồ đựng
bằng kim loại
- Chai lọ, đồ dùng bằng
thuỷ tinh, bóng đèn…
- Vỏ ốc, gạch đá, gốm
3. Các chất hỗn
hợp
- Tất cả các vật liệu khác
không phân loại ở phần 1 và
2 đều thuộc loại này
- Đá, đất, cát…
Nguồn: Bảo vệ Môi trường trong Xây dựng cơ bản, Lê Văn Nãi, NXBKHKT, 1999.
b. Phân loại theo quan điểm thông thường
Chất thải thực phẩm:
Là loại chất thải mang hàm lượng chất hữu cơ cao như những nông sản hư
thối hoặc dư thừa: thịt cá, rau, trái cây và các thực phẩm khác. Nguồn thải từ các
chợ, các khu thương mại, nhà ăn… Do có hàm lượng chủ yếu là chất hữu cơ nên
chúng có khả năng thối rữa cao cũng như bị phân hủy nhanh khi có điều kiện
nhiệt độ và độ ẩm cao. Khả năng ô nhiễm môi trường khá lớn do sự phân rã của
chất hữu cơ trong thành phần của chất thải.
10
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
cây con giống không còn giá trị sử dụng… loại chất thải này thường rất dễ xử
lý, ít gây ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất nông nghiệp một số hóa chất được áp
dụng như thuốc trừ sâu bệnh, phân bón được thải bỏ hoặc dư thừa cũng đã ảnh
hưởng đến môi trường đất, nước.
Chất thải rắn sinh ra trong xây dựng
Là loại chất thải rắn sinh ra trong quá trình đập phá, đào bới nhằm xây dựng
các công trìng công cộng, dân dụng, giao thông, cầu cống vv… loại chất thải
này có thành phần chủ yếu là các loại gạch đá, xà bần, sắt thép, bê tông, tre gỗ…
Chúng thường xuất hiện ở các khu dân cư mới, hoặc các khu vực đang xây
dựng.
Chất thải rắn sinh ra từ các cống thoát nước, trạm xử lý nước
Trong loại chất thải này thì thành phần chủ yếu của chúng là bùn đất chiếm
tới 90 - 95%. Nguồn gốc sinh ra chúng là các loại bụi bặm, đất cát đường phố,
xác động vật chết, lá cây, dầu mỡ rơi vãi, kim loại nặng… trên đường được thu
vào ống cống. Nhìn chung loại chất thải này cũng rất đa dạng và phức tạp và có
tính độc hại khá cao. Ngoài ra còn một loại chất thải rắn khác cũng được phân
loại chung vào là bùn thải sinh ra từ các nhà máy xử lý nước thải, trạm xử lý
nước thải,phân rút từ hầm cầu, bể tự hoại. Các loại chất thải rắn này cũng chiếm
một lượng nước khá lớn ( từ 25 – 95%) và thành phần chủ yếu cũng là bùn đất,
chất hữu cơ chưa hoại.
5. Thành phần chất thải rắn
a. Thành phần vật lý
CTR ở các đô thị là vật phế thải trong sinh hoạt và sản xuất nên đó là một
hỗn hợp phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Để xác định được thành phần
của CTRSH một cách chính xác là một việc làm rất khó vì thành phần của rác
thải phụ thuộc rất nhiều vào tập quán cuộc sống, mức sống của người dân,
mức độ tiện nghi của đời sống con người, theo mùa trong năm…
12
Pin, acquy,sơn, bóng
đèn, bệnh phẩm
0.15
07 Xà bần
Sành, sứ, bêtong, đá, vỏ
sò
2.68
08 Hữu cơ khó phân hủy Cao su, da, giả da 1.93
09 Chất có thể đốt cháy
Cành cây, gỗ vụn, lông
gia súc, tóc
2.15
Tổng cộng 100
Nguồn: Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường 8/2000
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
Xử lý CTR là phương pháp làm giảm khối lượng và tính độc hại của rác, hoặc
chuyển rác thành vật chất khác để tận dụng thành tài nguyên thiên nhiên. Khi lựa
chọn các phương pháp xử lý chất thải rắn cần xem xét các yếu tố sau:
13
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
+ Thành phần tính chất chất thải rắn sinh hoạt
+ Tổng lượng chất thải rắn cần được xử lý
+ Khả năng thu hồi sản phẩm và năng lượng
+ Yêu cầu bảo vệ môi trường.
1. Phương pháp xử lý cơ học
Phương pháp xử lý cơ học bao gồm các phương pháp cơ bản:
- Phân loại
- Giảm thể tích cơ học
- Giảm kích thước cơ học
a. Phân loại chất thải
Ưu điểm của phương pháp này là khả năng tiêu hủy tốt đối với nhiều loại
rác thải. Có thể đốt cháy cả kim loại, thủy tinh, nhựa, cao su, một số loại
chất dưới dạng lỏng và bán rắn và các loại chất thải nguy hại. Thể tích rác có
thể giảm từ 75 - 96%, thích hợp cho những nơi không có điều kiện về mặt
bằng chôn lấp rác, hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm do nước rác, có hiệu quả
cao đối với chất thải có chứa vi trùng dễ lây nhiễm và các chất độc hại. Năng
lượng phát sinh khi đốt rác có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các
ngành công nghiệp cần nhiệt và phát điện.
Nhược điểm:
Khí thải từ các lò đốt có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các
vấn đề phát thải chất ô nhiễm dioxin trong quá trình thiêu đốt các thành phần
nhựa.
+ Vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao.
+ Giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao.
b. Nhiệt phân
Là cách dùng nhiệt độ cao và áp suất tro để phân hủy rác thành các khí đốt
hoặc dầu đốt, có nghĩa là sử dụng nhiệt đốt. Quá trình nhiệt phân là một quá
trình kín nên ít tạo khí thải ô nhiễm, có thể thu hồi nhiều vật chất sau khi nhiệt
phân. Thí dụ: một tấn rác thải đô thị ở Hoa Kỳ sau khi nhiệt phân có thể thu
hồi lại 2 gallons dầu nhẹ, 5 gallons hắc in và nhựa đường, 25 pounds chất
amonium sulfate, 230 pounds than, 133 gallons chất lỏng rượu. Tất cả các chất
này đều có thể tái sử dụng như nhiên liệu.
c. Khí hóa
Quá trình khí hóa bao gồm quá trình đốt cháy một phần nhiện liệu carton để
hòan thành một phần nhiên liệu cháy được giàu CO
2
, H
2
và một số
hydrocarbon no, chủ yếu là CH
antinomycetes. Các quá trình này được thực hiện trong điều kiện hiếu khí hoặc
kỵ khí, tùy theo lượng oxy có sẵn.
a. Ủ hiếu khí
Ủ rác hiếu khí là một công nghệ được sử dụng rộng rãi vào khỏang 2
thập kỷ gần đây, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Trung Quốc,
Việt Nam.
Công nghệ ủ rác hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí
đối với sự có mặt của oxy. Các vi khuẩn hiếu khí có trong thành phần rác
khô thực hiện quá trình oxy hóa cacbon thành đioxitcacbon (CO
2
). Thường
thì chỉ sau 2 ngày, nhiệt độ rác ủ tăng lên khoảng 45
0
C và sau 6 - 7 ngày đạt
tới 70 - 75
0
C. Nhiệt độ này đạt được chỉ với điều kiện duy trì môi trường tối
ưu cho vi khuẩn hoạt động, quan trọng nhất là không khí và độ ẩm.
Sự phân hủy khí diễn ra khá nhanh, chỉ sau khoảng 2 - 4 tuần là rác được
phân hủy hoàn toàn. Các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng bị phân hủy do
16
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
nhiệt độ ủ tăng cao. Bên cạnh đó, mùi hôi cũng bị hủy nhờ quá trình hủy yếu
khí. Độ ẩm phải được duy trì tối ưu ở 40 - 50%, ngoài khoảng này quá trình
phân hủy đều bị chậm lại.
b. Ủ yếm khí
Công nghệ ủ yếm khí được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ (chủ yếu ở quy mô
nhỏ). Quá trình ủ này nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm khí. Công
nghệ này không đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu tốn kém, song nó có những
nhược điểm sau:
− Rác có nhiều chất hữu cơ, nhất là phân gia súc được tạo điều kiện cho vi
khuẩn kỵ khí phân hủy tạo thành khí methane. Khí methane được thu hồi
dùng làm nhiên liệu.
4. Bãi chôn lấp rác
Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân hủy của chất thải
rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt. Chất thải rắn trong bãi chôn lấp
sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối
cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một
số khí như CO
2
, CH
4
.
Như vậy về thực chất chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn đô thị vừa là phương
pháp tiêu hủy sinh học, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi
trường trong quá trình phân hủy chất thải khi chôn lấp.
Phương pháp này được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng trong quá trình xử lý
rác thải. Thí dụ ở Hoa Kỳ trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý bằng phương
pháp này; hoặc ở các nước Anh, Nhật Bản… Người ta cũng hình thành các bãi
chôn lấp rác vệ sinh theo kiểu này.
Ưu điểm:
− Có thể xử lý một lượng lớn chất thải rắn.
− Chi phí điều hành các hoạt động của BCL không quá cáo.
− Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các loại côn trùng, chuột bọ, ruồi
muỗi khó có thể sinh sôi nảy nở.
− Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngoài ra còn
giảm thiểu được mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường không khí.
− Làm giảm nạn ô nhiễm môi trường nước ngầm và nước mặt.
− Các BCL khi bị phủ đầy, chúng ta có thể sử dụng chúng thành các công
viên, làm nơi sinh sống hoặc các hoạt động khác.
− Có thể thu hồi lợi nhuận từ các hoạt động tái chế.
Nhược điểm:
− Chỉ xử lý được với tỷ lệ thấp khối lượng rác (rác có thể tái chế )
− Chi phí đầu tư và vận hành cao
− Đòi hỏi công nghệ thích hợp
− Phải có sự phân loại rác triệt để ngay tại nguồn.
6. Đổ thành đống hay bãi hở
Đây là phương pháp cổ điển đã được loài người áp dụng từ rất lâu đời. Ngay cả
trong thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại cách đây khỏang 500 năm trước công
nguyên, người ta đã biết đổ rác bên ngoài tường các thành lũy - lâu đài và dưới
hướng gió. Cho đến nay phương pháp này vẫn còn được áp dụng ở nhiều nơi khác
nhau trên thế giới. Đặc biệt tại thị xã Tân An tỉnh Long An, phương pháp xử lý
19
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
CTR phổ biến vẫn là đổ thành bãi hở. Phương pháp này có nhiều nhược điểm như
sau:
− Tạo cảnh quan khó coi, gây cảm giác khó chịu khi con người thấy hay bắt
gặp chúng.
− Khi đổ thành đống rác thải sẽ là môi trường thuận lợi cho các loại động vật
gặm nhấm, các loại côn trùng, các vi sinh vật gây bệnh sinh sôi nảy nở gây
nguy hiểm cho sức khỏe con người.
− Các bãi rác hở bị phân hủy lâu ngày sẽ rỉ nước tạo nên vùng lầy lội, ẩm ướt
và từ đó hình thành các dòng nước rò rỉ chảy thấm vào các tầng đất bên
dưới, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, hoặc tạo thành dòng chảy tràn, gây ô
nhiễm nguồn nước mặt.
− Bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm không khí do quá trình phân hủy rác tạo thành các
khí có mùi hôi thối. Mặt khác ở các bãi rác hở còn có thêm hiện tượng “cháy
ngầm” hay có thể cháy thành ngọn lửa và tất cả các quá trình trên sẽ dẫn đến
hiện tượng ô nhiễm không khí.
Có thể nói đây là phương pháp rẻ tiền nhất, chỉ tiêu tốn chi phí cho công việc thu
Nguyên tắc điều hành trạm trung chuyển là khi rác bị rơi vãi, tràn khỏi
phương tiện chứa thì phải được đặt và cho vào chỗ chứa ngay. Trạm cũng cần
có hệ thống phun nước chống bụi, hệ thống khử mùi.
c. Vận chuyển
Hiện nay việc vận chuyển rác có thể thực hiện bằng các phương tiện vận
chuyển trên các trục đường bộ, đường sắt, đường thủy, các hệ thống khí động
và thủy động lực của một số phương tiện vận chuyển khác cũng được sử dụng
cho vận chuyển rác nhưng không phổ biến.
Tùy vào vị trí địa lý, địa hình, diện tích mặt bằng và chi phí vận chuyển vv…
mà người ta chọn cách vận chuyển rác hợp lý nhất. Các yêu cầu vận chuyển
rác:
− Chi phí vận chuyển thấp nhất
− Phương tiện vận chuyển phải kín, hợp vệ sinh
− Phải chở rác bằng phương tiện chuyên dùng để đáp ứng tốt các yêu cầu
sử dụng, bảo quản dễ dàng đơn giản.
2. Phân loại
Chất thải rắn sau khi thu gom sẽ được vận chuyển về các trạm xử lý để tiến
hành phân loại rác, việc phân loại rác có thể thực hiện bằng tay hoặc bằng các
21
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
thiết bị cơ giới hóa vừa nhằm mục đích phân tách các thành phần có thể tái sinh
như thủy tinh, kim loại, giấy, nhựa, gỗ… với các thành phần không thể tái sinh.
Đồng thời cũng phân tách được phần lớn các chất hữu cơ và các chất vô cơ. Phần
còn lại sẽ được đốt nếu thích hợp hoặc được nén ép thành từng bánh để làm giảm
thể tích CTR và tăng thời gian sử dụng các bãi rác.
Phân loại CTR đóng vai trò quan trọng nhất vì quá trình này liên quan đến khả
năng tái sinh của các thành phần trong rác sinh hoạt, khả năng phân hủy của các
chất hữu cơ có trong rác. Các cách thức phân loại rác hiện nay gồm:
− Phân loại CTR bằng tay: Việc phân loại bằng tay có thể thực hiện ngay
tại nguồn, nơi CTR phát sinh như các hộ gia đình, các cụm dân cư, các
Thiết kế bãi chôn lấp lai hợp công suất 100 tấn/ngày GVHD: TS. Nguyễn Như Sang
PUSH được giám sát bằng việc kiểm soát lượng oxy và độ ẩm để tăng tốc độ
phân hủy rác bằng hoạt động của vi sinh vật.
1. Bãi chôn lấp cổ điển và một số vấn đề liên quan
Bãi chôn lấp là phương pháp cổ điển nhất trong xử lý chất thải rắn. Chất thải
rắn được chất thành đống và được che phủ lại. Vi sinh vật phân hủy chất thải
trong vài thập kỉ và sản sinh ra những sản phẩm thứ sinh quan trọng, bao gồm khí
methane (khí tự nhiên), nước rỉ rác và VOCs (hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, như
H
2
S, N
2
O
2
)
Khí methane, khí gây hiệu ứng nhà kính, có thể được sản sinh trong bãi chôn
lấp. nước rỉ rác cũng được sản sinh và chứa nhiều độc chất và ion kim loại hòa
tan. Nếu nước rỉ rác ngấm vào trong mạch nước ngầm có thể gây nhiều vấn đề
sức khỏe cho con người và cả động thực vật. VOCs có thể gây sương mù và mưa
acid. Khi lượng rác thải ngày càng tăng, tìm kiếm nơi chôn lấp chất thải để bảo
đảm an toàn càng ngày càng khó.
2. Sự khác nhau giữa bãi chôn lấp sinh học và bãi chôn lấp cổ điển
Bãi chôn lấp phản ứng sinh học là bãi chôn lấp hợp vệ sinh sử dụng quá trình
vi sinh cải thiện để chuyển đổi và ổn định quá trình phân hủy rác thải hữu cơ
trong 5 – 10 năm. Bãi chôn lấp phản ứng sinh học làm tăng quá trình phân hủy rác
thải, tỉ lệ chuyển đổi và hiệu quả của cả quá trình. Ổn định nghĩa là các thông số
đo đạc môi trường (lượng khí bãi chôn lấp, tỉ lệ sản sinh và nồng độ nước rỉ rác) ở
mức ổn định, và không tăng trong khoảng 5 – 10 năm trong bãi chôn lấp.
Bãi chôn lấp phản ứng sinh học yêu cầu một số hoạt động quản lý riêng và
phương thức vận hành riêng để thúc đẩy quá trình phân hủy sinh học. Điều quan
chôn lấp thông qua các đường ống ngang và dọc. bãi chôn lấp hiếu khí làm giảm
lượng VOCs, độc chất của nước rỉ rác và giảm lượng methane sinh ra. Trong bãi
chôn lấp phản ứng sinh học kị khí, nước rỉ rác được tuần hoàn về bãi chôn lấp làm
khí methane sinh ra nhanh hơn và nhiều hơn so với bãi chôn lấp cổ điển. Chất
lượng và nồng độ khí methane cho phép nó được sử dụng cho mục đích thương
mại trong khi thời gian sản sinh ra khí methane ngắn hơn. Bãi chôn lấp phản ứng
sinh học kết hợp, phần trên thông qua chu trình hiếu – kị khí để tăng tốc độ phân
hủy trong khi khí methane được sản sinh ở phần dưới của bãi chôn lấp.
25