tóm tắt luận án tiếng việt đặc trưng ngữ nghĩa nhóm tính từ chỉ kích thước (trên ngữ liệu tiếng nga và tiếng việt - Pdf 22

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Tính từ chỉ kích thớc là một trong những nhóm từ cơ bản của vốn
từ vựng tiếng Nga và tiếng Việt. Chúng là loại tính từ tính chất đặc biệt,
biểu thị những thuộc tính của sự vật đợc con ngời tri nhận và phân chia,
vừa mang đặc điểm chung vừa thể hiện đặc điểm riêng về cách tri nhận,
về văn hóa và ngôn ngữ của từng dân tộc.
1.2. Thế giới hiện thực nh một bức tranh đợc con ngời nhận thức, tái
tạo thông qua ngôn ngữ và ánh xạ trong ngôn ngữ. Bức tranh thế giới đó
và cách nhìn thế giới gắn với nó ở các dân tộc nói những thứ tiếng khác
nhau có những chỗ tơng đồng và có những chỗ khác biệt. Qua khảo sát và
đối chiếu, luận án sẽ tìm ra những sự tơng đồng và khác biệt này trong
cách thức cấu trúc hóa các quan hệ và thuộc tính không gian nói chung và
kích thớc nói riêng.
1.3. Ngày nay, yêu cầu dạy học ngoại ngữ mang tính chuyên sâu,
đòi hỏi phải có những nghiên cứu toàn diện và cặn kẽ các trờng từ vựng,
trong đó có tiểu trờng từ vựng chỉ kích thớc không gian. Các kết quả
nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào việc dạy học tiếng Nga và tiếng
Việt có hiệu quả hơn đối với học viên ngời Nga cũng nh học viên ngời
Việt.
2. Lịch sử nghiên cứu
- Với sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận, trên thế giới, nhiều công
trình dựa trên quan điểm tri nhận đã đa ra những nguyên lí cơ bản của
ngôn ngữ học tri nhận trong đó quan trọng nhất là: ngôn ngữ không phải
là một khả năng tri nhận tự trị; ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hóa;
tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sự sử dụng ngôn ngữ.
- Tại Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX, ngôn ngữ học tri
nhận đã trở thành một xu hớng ngôn ngữ học mới. Nhiều công trình
nghiên cứu không gian theo hớng tri nhận đã vợt ra ngoài phạm vi ngôn
ngữ học truyền thống và nêu ra nhiều luận điểm quan trọng nh:
1

tỏ, hay còn mang tính khái quát cần đợc miêu tả cụ thể hơn.
2
b. Góp phần làm rõ cơ chế tri nhận không gian nói chung và kích thớc
nói riêng của ngời Nga và ngời Việt.
c. ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy và học tiếng
Nga ở Việt Nam, đa ra những giải pháp để khắc phục lỗi mà ngời học
tiếng Nga thờng mắc phải về các tính từ chỉ kích thớc.
4.2. Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ chính sau:
a. Miêu tả, phân tích ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc trong
tiếng Nga và tiếng Việt trên cơ sở ngữ liệu trong từ điển, làm rõ mối quan
hệ có tính hệ thống giữa từ và ngữ nghĩa của chúng.
b. Đối chiếu nghĩa và cách thức biểu đạt các thuộc tính không gian
của nhóm tính từ chỉ kích thớc trong tiếng Nga và tiếng Việt qua kết hợp
của chúng với các thực thể không gian, nhằm chỉ ra những nét giống và
khác nhau về cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm tính từ trên.
c. Phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách
thức tri nhận không gian của ngời Nga và ngời Việt qua mối quan hệ giữa
t duy, văn hóa và ngôn ngữ.
d. Chỉ ra những khu vực giao thoa ngôn ngữ và văn hóa, nguyên nhân
gây ra lỗi đối với ngời học tiếng Nga và đề xuất những giải pháp để hạn
chế lỗi và cách sửa lỗi trong quá trình dạy, học tiếng Nga.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phơng pháp cơ bản sau:
5.1. Phơng pháp miêu tả, phân tích
5.2. Phơng pháp so sánh, đối chiếu
5.3. Phơng pháp thống kê phân loại
5.4. Phơng pháp khảo sát, thực nghiệm
6. Đóng góp của luận án
- Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu tính từ chỉ kích thớc trong tiếng

những thông tin bổ ích và quí giá cho việc tìm hiểu bản sắc văn hóa và sự
tri nhận của các dân tộc nói những ngôn ngữ khác nhau đó.
Ngữ nghĩa học và trờng từ vựng ngữ nghĩa
4
Ngôn ngữ học tri nhận coi ngôn ngữ là một năng lực tinh thần và khả
năng ngôn ngữ của con ngời đợc xác định nh một khả năng tri nhận, một
quá trình hay một cấu trúc tri nhận, trong sự tơng tác với các khả năng,
quá trình hay cấu trúc tri nhận khác (nh: tri giác, t duy, trí nhớ, chú ý, học
tập).
Ngữ nghĩa học tri nhận coi trọng vai trò của nhân tố chủ thể con ngời
trong ngôn ngữ, chú ý tới kinh nghiệm, hớng trọng tâm vào việc phân tích
ý niệm và các quá trình ý niệm hoá, phạm trù và sự phạm trù hoá. Ngữ
nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều phản ánh cách nhìn, cách nghĩ, hay cách
thức cảm thụ và ý niệm hoá thế giới khách quan của ngời bản ngữ và
cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ của họ. Những dân tộc khác nhau có thể
nhìn thế giới phần nào không giống nhau qua lăng kính ngôn ngữ của
mình. Cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ, do đó, vừa có phần phổ quát, vừa
có phần đặc thù. Ngữ nghĩa học tri nhận đặc biệt đi sâu khảo sát một số
trờng từ vựng ngữ nghĩa (nh không gian, thời gian, màu sắc, tình
cảm, ) vốn thể hiện rõ nét phần đặc thù đó.
Trờng không gian là một trong những trờng từ vựng - ngữ nghĩa mang
đậm nét đặc trng văn hoá dân tộc trong t duy ngôn ngữ, thể hiện qua các
đặc trng cấu trúc không gian. Nhóm tính từ chỉ kích thớc mà chúng tôi
khảo sát trong luận án này là một tiểu trờng từ vựng thuộc trờng không
gian.
Từ loại tính từ và tính từ chỉ kích thớc
Tính từ tiếng Nga có các tính chất sau: Chỉ trạng thái tính chất của
ngời, sự vật và hiện tợng trong thế giới khách quan: , ;
chỉ mức độ và không mức độ: ; tính từ và danh từ hợp
dạng về hình thái: , ; có hiện t ợng thể từ

1.4.4. Khái niệm điểm quy chiếu
1.4.5. Khái niệm phơng
1.4.6. Khái niệm vị trí
1.4.7. Khái niệm thang độ kích thớc
1.4.8. Tính chất vật chuẩn xác định
6
1.4.9. Đặc biệt là Luận thuyết của H.Clark về:
- Xác định các vật thể trong không gian
- Con ngời là trung tâm tri nhận không gian
- Cấu tạo đặc biệt về mặt sinh học nên con ngời cảm nhận đợc bản
thân, các vật thể, không gian, thời gian và những mối quan hệ qua lại giữa
chúng.
- Đề cập đến những cách nhìn nhận về con ngời và không gian từ
nhiều góc độ. Từ góc độ của các nhà địa lý: vị trí của con ngời và môi tr-
ờng xung quanh, vấn đề trọng lực và mặt bằng trái đất. Từ góc độ của các
nhà vật lí học, hình học: việc định vị của một vật thể trong không gian
luôn đợc ở trong sự xem xét với vật thể khác trong không gian. Từ góc độ
của các nhà sinh học: cơ thể con ngời và nhiều bộ phận trong cơ thể con
ngời gần nh là đối xứng với nhau về hai phía phải và trái theo đờng thẳng
đứng, chạy dọc theo trung tâm cơ thể. Con ngời có một cơ cấu nhận thức
phức tạp đối xứng hai bên.
- Khái niệm không gian ngôn ngữ L Space, khái niệm điểm
quy chiếu
Chơng 2
Đặc trng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc theo
phơng thẳng đứng
, ,
cao thấp, sâu nông, dày mỏng
Ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc biểu thị ý niệm CAO,
Thấp : ; cao thấp

vào quá trình định vị không gian và đồng thời là thực thể khách quan đợc
định vị.
- Chuẩn cao chuẩn tiềm ẩn đều có tính biến thiên, thay đổi theo
thời gian, điều kiện xã hội và kinh tế. Chuẩn cao còn chịu ảnh hởng bởi
cảm giác con ngời và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh hình dạng con ngời,
trang phục, màu sắc và cả tính chủ quan của bản thân. Ngời quan sát lấy
bản thân mình làm căn cứ để đánh giá, nhận xét.

(

)
Chữ số trong ngoặc đơn là chỉ số lợng nghĩa của từ
8
- Trong tiếng Nga và tiếng Việt, nhìn chung nghĩa độ trải dài và
nghĩa vị trí là tờng minh.
- Có trờng hợp, những ngữ cảnh nghĩa vị trí của sự vật đợc biểu thị
ẩn khuất gây nên sự mơ hồ trong tri nhận, đặc biệt khi ngời Việt không
dùng giới từ.
- Hiện tợng dịch chuyển nghĩa, ẩn nghĩa, hàm nghĩa từ tiếng Nga sang
tiếng Việt là những hiện tợng thú vị. Trong trờng hợp này ngời Việt phải
dùng tính từ để biểu đạt ý nghĩa kích thớc tơng đồng.
Ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc biểu thị ý niệm sâu,
nông: ; sâu nông
Đối chiếu ngữ nghĩa của các các tính từ chỉ kích thớc
; sâu nông trên ngữ liệu từ điển tiếng Nga và tiếng Việt cho
thấy:
+ Số lợng nghĩa nói chung có sự chênh lệch
- Cặp tính từ - nông có số lợng nghĩa chênh lệch tơng đối lớn:
(6) - nông (2).
- Cặp tính từ - sâu có số lợng nghĩa nh nhau: (6) -

hình dung, nhng trong tâm thức của con ngời trời, vũ trụ vẫn có giới
hạn (đờng chân trời), có hình dáng nh một mái vòm toà nhà, hớng miệng,
bờ xuống phía Trái đất, có độ sâu- nông, cao- thấp.
- Khi biểu đạt độ dài và vị trí của các tính từ này, nhiều trờng hợp việc
biểu đạt ý nghĩa của ngời Nga tờng minh hơn của ngời Việt.
Ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc biểu thị ý niệm dày,
mỏng: ; dày mỏng
Đối chiếu ngữ nghĩa của các các tính từ chỉ kích thớc
; dày mỏng trên ngữ liệu từ điển tiếng Nga và tiếng Việt cho
thấy:
+ Số lợng nghĩa nói chung của ; dày mỏng là
không tơng đồng: ( 3) dày (4); (5) mỏng (2)
10
+ Vị trí và số lợng nghĩa biểu đạt các thuộc tính không gian là tơng
đồng: đều ở vị trí thứ nhất; - dày có hai nghĩa;
mỏng có một nghĩa.
Các tính từ ; dày mỏng biểu thị ý niệm dày,
mỏng có những thuộc tính cơ bản về: độ trải dài, khoảng cách giữa hai
bề mặt hoặc cạnh, thẳng đứng, ba chiều, bên ngoài, bề dày, không có
thuộc tính về nghĩa vị trí .
Về cách sử dụng các tính từ biểu thị ý niệm dày, mỏng có thể thấy
là các tính từ ; dày mỏng có thể kết hợp với các
thực thể không gian có kiểu dạng sau:
Tầng, lớp, tảng: - băng, - đất, - bê tông, - tuyết;
bức: - bức tờng, - bức tranh; thanh: - thanh củi,
- thanh kiếm; tấm: - tấm ván, - tấm
gạch lát; viên: - viên gạch, - viên thuốc; lá: - lá
th, - lá cờ, - lá lách; cây, cọc, gậy: -
cọc gỗ mun, - cây sào, - gậy tre; lát:
- lát giò, - lát bánh ga tô; không khí, sơng, mù,

những chỗ không đồng nhất dẫn tới hiện tợng chuyển dịch nghĩa.
Chơng 3
Đặc trng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc
theo phơng nằm ngang
, ,
//
dài- ngắn, rộng hẹp, to nhỏ
Ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc biểu thị ý niệm dài,
ngắn: ; dài ngắn
Đối chiếu ngữ nghĩa của các các tính từ chỉ kích thớc
; dài ngắn trên ngữ liệu từ điển tiếng Nga và tiếng Việt cho
thấy:
12
+ Số lợng nghĩa của ; dài ngắn có sự chênh
lệch: (3) - dài (5); (4) - ngắn (2)
+ Số lợng nghĩa biểu đạt các thuộc tính cơ bản kích thớc vật thể
không gian là tơng đồng (2 nghĩa) và đều ở vị trí thứ nhất, thứ hai trong
thứ tự các nghĩa.
Các tính từ ; dài ngắn biểu thị ý niệm dài,
ngắn có những thuộc tính cơ bản về: độ trải dài là độ kéo dài: phơng
nằm ngang; mặt phẳng qui chiếu; một chiều; chiều dài; vị trí: hai điểm,
điểm qui chiếu, khoảng cách.
Về cách sử dụng các tính từ biểu thị ý niệm dài, ngắn có thể thấy
là các tính từ - ; dài ngắn có thể kết hợp với những
vật thể không gian sau: có hình khối trụ thẳng đứng : - đồi, -
núi, - nhà ; bộ phận cơ thể ngời, vật, cây, cối : - mặt, -
mắt, - chân, - tóc ; dạng ao hồ, sông, biển : - ao, -
hồ, - sông, - biển ; con đờng, sân, bãi, cánh đồng: - con
đờng, - sân, - bãi, - cánh đồng; quần áo, dụng cụ
lao động, sinh hoạt: - quần dài, - áo sơ mi, -

Các tính từ ; rộng hẹp biểu thị ý niệm rộng,
hẹp có những thuộc tính cơ bản về:
- Rộng là khoảng cách bao nhiêu đó từ đầu này đến cuối đầu kia theo
chiều đối lập với chiều dài (tức là chiều rộng của sự vật).
- Độ dài, vị trí, hai chiều, chiều rộng, điểm quy chiếu, có khoảng cách
rộng, t thế nằm ngang hoặc tuỳ thuộc, chiếm một không gian rộng lớn, có
các cạnh.
Về cách sử dụng các tính từ biểu thị ý niệm rộng, hẹp có thể thấy
là các tính từ ; rộng hẹp có thể kết hợp với những vật
thể không gian sau:
Các tính từ chỉ ý niệm rộng có khả năng kết hợp với các danh từ chỉ
thực thể kiểu dạng sau :
14
- Vật thể là con đờng, bến, bãi: - con đờng, - bãi; vật
thể là nhà, hang, động: , , ; vật thể là sông, mơng, kênh,
hầm, hào, biển, hồ: - hầm, - mơng, - hào,
- kênh; vật thể là ván gỗ, băng, tấm, dải, bức: - tấm ván, -
bức tờng, - tấm thảm; vật thể là bộ phận cơ thể ngời, vật: -
mắt, - chân, - răng; vật thể là cửa chính, cửa sổ, cổng: -
cửa chính, - cổng tò vò, - cửa sổ; vật thể là làng mạc, thành
phố, đồi núi: - làng, - thành phố, - đồi,
Từ góc độ tri nhận không gian, ý nghĩa và cách dùng của hai cặp tính
từ Nga - Việt trên cho thấy:
- Ngời Nga và ngời Việt có chung cơ chế để định vị, xác định kích th-
ớc chiều rộng: một vật thể có kích thớc tối đa thì kích thớc đó là chiều
dài, còn một trong hai kích thớc không tối đa lớn hơn kích thớc còn lại đ-
ợc xác định là chiều rộng.
- Về sự khác biệt về tri nhận vật thể không gian theo ý niệm rộng,
ngời Nga quan tâm đến chiều cạnh của sự vật và coi chiều rộng là kết quả
đo đợc từ cạnh này tới cạnh kia, do vậy một số bộ phận cơ thể ngời không

- khúc, - tảng khối, - đống, - ụ, - cồn;
kiểu dạng cục, hòn, viên, miếng, quả, củ, giọt; bộ phận cơ thể ngời, động
vật: - quả tim, - tai, - bắp chân, - phổi; trang
phục, quần áo, dày, dép, mũ: - chiếc áo bành tô, - đôi ủng,
- mũ sắt, - găng tay; trời, mây, khói, hành tinh: -
Trái đất, - Mặt trăng, - sao Kim
Từ góc độ tri nhận không gian, ý nghĩa và cách dùng của hai cặp tính
từ Nga - Việt trên cho thấy:
- Độ to của các vật thể đều có chung những thuộc tính không gian
ba chiều, hình khối, chiếm một không gian lớn, đứng hoặc nằm ngang, vị
trí quan sát ngời nói không ảnh hởng.
- Khi kết hợp với các tính từ ; to - nhỏ, các vật
thể không gian đã đợc phân xuất theo kiểu loại, hình dáng. Ví dụ, thuộc
16
tính hình khối, ba chiều bao trùm, xuyên suốt các thực thể, kiểu dạng:
nhà, xe, khối, đống, ụ, hòn, viên, bộ phận cơ thể ngời.
- Ngời Việt thờng phân xuất chi tiết, tinh tế và rạch ròi hơn so với ng-
ời Nga. Ngời Việt thờng dựa vào tính nổi trội của sự vật tạo nên thế đối
lập, đôi lúc dựa vào sự mô phỏng hình tợng sự vật khác, ví dụ: quả -
giống quả cây, khối tròn -> quả đồi, quả tim
Từ những khảo sát trên về các đặc trng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ
kích thớc theo chỉ kích thớc theo phơng nằm ngang -
, , // dài- ngắn,
rộng hẹp, to nhỏ, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng:
- Xét về số lợng nghĩa và vị trí các nghĩa, các tính từ chỉ kích thớc
theo phơng nằm ngang trong tiếng Nga và tiếng Việt có sự tơng đồng và
dị biệt nhng sự tơng đồng trội hơn so với sự dị biệt.
- Xét về cách sử dụng, nét nghĩa phổ quát quá mức bình thờng của
dài (ngắn), rộng (hẹp), to (nhỏ) có tần số xuất hiện cao trong tiếng Nga
và tiếng Việt.

2- Sự khác biệt ở một số từ định danh sự vật ẩn chứa hoặc không ẩn
chứa nghĩa kích thớc.
3- Sự khác biệt về hệ thống loại từ và từ chỉ đơn vị mô tả những thuộc
tính không gian: ở các tiêu chí phân định, cơ sở phân loại của chúng.
Tiếng Nga có 3 tiêu chí:
+ Chỉ thực thể là phần tách rời, đợc chia cắt, chỉ vật chất, nguyên liệu.
+ Chỉ thực thể có dạng hình học: mặt phẳng tròn, khối, vuông.
+ Chỉ sự vật không gian nh một chỉnh thể trọn vẹn, thờng các thuộc
tính không gian đợc chứa đựng trong bản thân vật thể, đợc biểu thị bởi
danh từ, không có tính từ, từ chỉ đơn vị đi kèm nh trong tiếng Việt.
18
Tiếng Việt có 4 tiêu chí (phân định theo đặc trng không gian):
+ Hình dáng của sự vật.
+ Chiều không gian: ba chiều, hai chiều, một chiều.
+ T thế sự vật: t thế treo thẳng đứng, t thế nằm ngang. Việc phân
định theo tiêu chí t thế sự vật là định hớng không gian tơng đối dẫn tới
việc một vật thể có thể có nhiều từ chỉ đơn vị.
+ Sự chia cắt tách rời thành phần. Đơn vị nhỏ hơn của một sự vật
chỉnh thể dựa vào hình dáng, kích cỡ, chiều không gian: dạng khối, dạng
phẳng, dạng dài, kích cỡ nhỏ.
Hệ thống từ chỉ đơn vị, chỉ loại tiếng Nga và tiếng Việt có sự khác
biệt. Từ chỉ đơn vị, chỉ loại của tiếng Việt phong phú, đa dạng hơn tiếng
Nga: trong tiếng Việt một vật thể không gian nào cũng gắn với một
hoặc hơn một đơn vị có ý nghĩa không gian; còn trong tiếng Nga có nhiều
danh từ chỉ sự vật mà thuộc tính không gian chứa đựng ngay trong bản
thân vật thể, không cần thể hiện ra bằng ngôn từ.
Khảo sát và thực nghiệm
Trong luận án, chúng tôi có tiến hành thực nghiệm trên các văn bản
có mục đích đối với các đối tợng học sinh, sinh viên chuyên và không
chuyên tiếng Nga.

cách dùng của chúng - đặc biệt là từ góc nhìn tri nhận về cách sử dụng
của chúng khi kết hợp với các từ chỉ thực thể không gian dới nhiều góc
độ, các thuộc tính của các ý niệm kích thớc của các vật thể trong không
gian v.v.
Nhóm tính từ chỉ kích thớc trong tiếng Nga và tiếng Việt tuy không
nhiều nhng có khả năng biểu đạt kích thớc của tất cả các thực thể trong
thế giới khách quan, từ những thực thể nhỏ nhất đến những thực thể to
nhất, từ những thực thể không gian một chiều đến những thực thể không
gian ba chiều.
20
2. Luận án đã miêu tả các tính từ chỉ kích thớc theo sáu nhóm ý niệm
cao thấp, sâu nông, dày mỏng, dài ngắn,
rộng hẹp, to nhỏ , đi sâu phân tích ngữ nghĩa, cách dùng và cơ
sở tri nhận của chúng theo hai phơng thẳng đứng và nằm ngang. Trên cơ
sở dữ liệu đợc đúc kết và khái quát trong các từ điển tiếng Nga và tiếng
Việt, luận án đã cụ thể hoá và làm rõ nghĩa của nhóm tính từ, tập trung
vào hai trong số các thuộc tính cơ bản của tính từ chỉ kích thớc không
gian là độ trải dài và vị trí.
3. Qua phân tích, đối chiếu, so sánh các nhóm tính từ chỉ kích thớc
của tiếng Nga và tiếng Việt, luận án rút ra đợc một số kết luận sau:
(i) Thứ nhất, các tính từ chỉ kích thớc không gian, với t cách là một
tiểu hệ thống trong hệ thống tính từ, rất phức tạp, đa dạng về ngữ nghĩa và
phong phú về cách sử dụng. Phân tích ý nghĩa, cách dùng của nhóm tính
từ này, khả năng hoạt động và kết hợp tạo nên những tổ hợp ngữ nghĩa
của chúng cho thấy bên cạnh những nét tơng đồng có những chỗ khác
biệt, chứng tỏ rằng mỗi dân tộc có cách nhìn, cách nghĩ riêng về thế giới
nói chung, về các quan hệ và thuộc tính không gian nói riêng. Do vậy,
nếu chỉ xem xét, nhìn nhận những thuộc tính của nhóm tính từ chỉ kích
thớc không gian dới lăng kính của ngôn ngữ học cấu trúc là cha đầy đủ,
mà phải xét chúng cả dới góc độ ngôn ngữ tri nhận.

tính từ chỉ kích thớc không nhiều, nhng có thể biểu thị đầy đủ các thuộc
tính cơ bản của không gian ngôn ngữ về phơng, chiều, vị trí, và thang độ
đo - trong đó độ trải dài đợc coi là thớc đo chung và cũng là một thuộc
tính cơ bản của không gian ngôn ngữ. Cả hai ngôn ngữ có sự tơng đẳng
trong sự biểu thị các ý niệm ở cả hai chiều thẳng đứng và nằm ngang.
Xét về đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa, tính từ chỉ kích thớc trong
tiếng Nga và tiếng Việt có những nét phổ quát chung về ngữ nghĩa, ngữ
pháp, ngữ dụng. Cụ thể là, ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc của cả
hai ngôn ngữ có tính trừu tợng và khái quát cao, nhng hoạt động của
chúng trong sử dụng lại rất cụ thể, phong phú và đa dạng. Kết quả nghiên
cứu về các tính từ chỉ kích thớc biểu thị các ý niệm cao thấp, sâu
22
nông, dày mỏng, dài ngắn, rộng hẹp, to nhỏ
trong tiếng Nga và tiếng Việt, cho thấy một vấn đề rất thú vị: đó là mặc
dù hai dân tộc Nga Việt có nhiều điểm khác nhau về loại hình văn hoá
và ngôn ngữ , nhng cơ chế tri nhận không gian của họ vẫn tơng đối giống
nhau. Chẳng hạn, các tính từ chỉ kích thớc theo phơng thẳng đứng trong
hai ngôn ngữ đều có thuộc tính ngữ nghĩa về độ dài, theo một phơng đồng
nhất, đòi hỏi mặt phẳng quy chiếu, t thế , vị trí, hớng của ngời quan sát
v.v.
4.2. Sự khác biệt
Cách tri nhận không gian của ngời Nga và ngời Việt có những đặc tr-
ng khác biệt mang bản sắc văn hóa riêng, điều này đã đợc đề cập đến
trong các bảng biểu tính toán về số lợng các nghĩa, sự có mặt hay vắng
mặt các nghĩa không gian, thứ tự và khả năng kết hợp của chúng v.v. Xét
thuần tuý về mặt số lợng các nghĩa, nhìn chung, tiếng Nga phong phú hơn
tiếng Việt. Chẳng hạn, tiếng Nga có những kết hợp với các tính từ biểu thị
ý niệm CAO - THấP cho thấy sự tri nhận không gian của ngời Nga có
những nét khác biệt: - quần áo lót, -
quần áo mặc ngoài, Hay là sự khác biệt về tri nhận không gian của ng -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status