Bản quyền tài liệu thuộc về diễn đàn
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. HCM
Khoa Tài Chính Quốc Tế
Lớp ĐH20C1
Đề tài :
Điều kiện để trở thành tập quán thương mại
quốc tế. Phân tích tập quán quốc tế giao hàng theo
điều kiện FOB
SVTH: Lưu Nguyễn Minh
Nguyễn Thị Thu Hằng
GVHD: Vương Tuyết Linh
I) Điều kiện để trở thành tập quán thương mại quốc tế:
Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt
động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội
dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hoạt động thương mại. Trong các hợp đồng, nếu các bên cùng làm
một nghề không viện dẫn rõ ràng một số điểm đã được tục lệ chấp nhận, sẽ
được xem là đã mặc nhiên dựa vào đó. Nếu hai bên không hoạt động cùng
ngành nghê, một bên có thể viện cớ là không biết gì đến các tập quán nghề
nghiệp của bên kia và việc viện cớ đó được xem là chính đáng. Nếu đối
phương muốn tiếp tục bảo vệ đó là một tập quán, sẽ phải xuất trình cho tòa
án một giấy chứng nhận của phòng thương mại hay của Nghiệp đoàn xác
nhận đó là một tập quán. Nhưng cần lưu ý một tập quán không thể trái với
một đạo luật có tính cách cưỡng chế, bắt buộc.
Thực vậy, các bên ký hợp đồng mua bán thường không biết rõ các tập
quán thương mại của nước bạn hàng, có thể gây hiểu lầm, tranh chấp, kiện
tụng, nên phòng thương mại quốc tế (ICC) đã xuất bản một bộ các quy tắc
quốc tế nhằm giải thích các điều kiện thương mại, tức Incotermes 1936, sau
đó được bổ sung 1953,1967,1989,1990,2000. Mục đích của Incoterms là
cung cấp bộ quy tắc quốc tế nhằm giải thích các các điều kiện thương mại
thông dụng nhất trong ngoại thương, giúp tránh được hoăc ít nhất cũng hạn
ché được ở một mức đáng kể, các giải thích khác nhau về điều kiện thương
mại ở các nước khác nhau. Incoterms 2000 của ICC có tính tự nguyện, nếu
muốn áp dụng, các bên mua bán phải đưa nó vào hợp đồng. Incoterms chỉ đề
cập đến một số nghãi vụ lien quan đến giao nhận, vận tải, bảo hiểm, thủ tục
thong quan cho nên Incoterms không thể thay thế cho hợp đồng ngoại
thương.
Đối với Việt Nam, các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước
ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại
quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái
đương theo qui định hợp đồng bán hàng và bất kỳ bằng chứng nào khác về
việc này mà hợp đồng đòi hỏi.
A.2) Giấy phép và thủ tục.
Xin giấy phép xuất khẩu hoặc giấy phép chính thức khác, làm đủ các
thủ tục hải quan cần thiết để xuất khẩu hàng và chịu mọi rủi ro phí tổn về
những việc đó.
A.3) Hợp đồng vận tải và bảo hiểm.
a) Hợp đồng vận tải: không có nghĩa vụ
b) Hợp đồng bảo hiểm: không có nghĩa vụ
A.4) Giao hàng.
Giao hàng len tàu do người mua chỉ định, tại cảng bốc hàng qui định,
theo tập quán của cảng vào ngày tháng hay trong thời hạn qui định
Bản quyền tài liệu thuộc về diễn đàn
A.5) Chuyển rủi ro.
Trừ những trường hợp qui định ở điều B.5, chịu mọi rủi ro về mất mát
hoặc hư hại hàng đó đến khi hàng đã qua lan can tàu tại cảng bốc hàng qui
định
A.6) Phân chia phí tổn: trừ những qui định ở điều B.6
- Trả những phí tổn liên quan đến hàng cho đến khi hàng đã qua lan
can tàu tại cảng bốc hàng qui định
- Trả những chi phí về thủ tục hải quan cần thiết cho việc xuất khẩu
cũng như các thứ thuế, lệ phí phải trả cho việc xuất khẩu.
A.7) Thông báo cho người mua.
Thông báo kịp thời cho người mua là hàng đã được giao lên tàu
A.8) Bằng chứng của việc giao hàng, chứng từ vận tải hoặc
thông báo điện tử tương đương.
Cung cấp cho người mua, do người bán chịu phí tổn, chứng từ thường
dùng chứng minh rằng hàng đã giao theo qui định ở điều A.4.
Theo yêu cầu của người mua và do người mua chịu rủi ro và phí tổn,
giúp đỡ người mua để nhận được một chứng từ về hóa đơn vận tải (ví dụ:
một nước thứ ba, và chịu rủi ro phí tổn về những việc đó.
B.3) Hợp đồng vận tải.
Ký một hợp đồng vận tải để chuyên chở hàng từ cảng bốc hàng qui
định và chịu phí tổn về việc đó.
B.4) Nhận hàng.
Nhận hàng được giao theo qui định ở điều A.4
B.5) Chịu rủi ro.
Chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại hàng kể từ lúc hàng đã qua lan
can tàu ở cảng bốc hàng qui định.
Nếu người mua không báo cho người bán như qui định ở điều B.7 , hoặc nếu
tàu do người mua chỉ định không đến kịp thời hay không thề lấy được hàng
hay đình việc lấy hàng trước ngày định, thì người mua phải chịu rủi ro về
mất mát hoặc hư hại hàng kể từ ngày đã thỏa thuận để giao hàng hay từ ngày
hết thời hạn qui định để làm việc đó, với điều kiện là hàng đã được cá biệt
hóa, nghĩa là được để tách riêng hoặc phân biệt một cách nào khác là hàng
của hợp đồng.
B.6) Phân chia phí tổn:
Trả tất cả các phí tổn liên quan đến hàng kể từ khi hàng đã qua lan can
tàu tại cảng bốc hàng qui định. Trả các chi phí thêm do tàu được người mua
chỉ định không đến đúng ngày hoặc không thể lấy được hàng, hay đình việc
lấy hàng trước ngày qui định, hoặc do người mua không thông báo cho
người bán như qui định ở điều B.7, với điều kiện là hàng đã được cá biệt
hóa, nghĩa là được để tách riêng hoặc phân biệt một cách nào khác là hàng
của hợp đồng.
Trừ tất cả các thứ thuế, lệ phí cũng như những phí tổn về thủ tục hải
quan để nhập hàng, và nếu cần thiết để hàng quá cảnh một nước thứ ba.
B.7) Thông báo cho người bán.
Người mua kịp thời thông báo cho người bán tên tàu, địa điểm bốc hàng và
thời gian giao hàng.
B.8) Bằng chứng của việc giao hàng, chứng từ vận tải hoặc