Phân tích môi trường vi mô của
nước Úc
1.Phân tích khách hàng (Úc)
2.Phân tích lợi thế cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh dẫn đầu ngành
(Thái Lan)
3.Phân tích lợi thế cạnh tranh của Việt Nam
4.Phân tích nguồn cung ứng cho tôm sú Việt Nam
8/29/2011
PHÂN TÍCH KHÁCH HÀNG (ÚC)
A.Tình hình sản xuất, và nhu cầu về sản phẩm tôm ở Úc
Nhìn vào biểu đồ (a) , khoảng màu cam đậm gần dưới đáy thể hiện cho sản lượng tôm của Úc đang có xu hướng
thu hẹp dần và sản lượng năm 2008-2009 đạt 23.900 tấn , chiếm 10% trong tổng sản lượng thủy hải sản của Úc.
Đơn giá trung bình cho 1kg tôm đã tụt giảm gần 50% từ 08/1999 đến 08/2009 (được biểu diễn bằng đường chỉ
màu cam đậm ở biểu đồ (d)) .Do đơn giá giảm gần 50% , nên tổng giá trị tôm sản xuất cũng giảm khoảng 50%và
đạt giá trị là 289 triệu đô la Úc vào năm 2008-2009 ( đường chỉ cam đậm ở biểu đồ (c))
Bảng sản lượng và giá trị tôm của Úc xuất khẩu ra các nước khác
Bảng sản lượng và giá trị của tôm nhập khẩu vào thị trường Úc
Kết hợp bảng giá trị xuất nhập khẩu của Úc và biểu đồ (a) và (c) ta có được tổng lượng cầu về mặt hàng tôm của
nước Úc năm 2008-2009 vào khoảng 32.000 tấn. Và sản lượng tôm được nhập khẩu vào Úc chiếm khoảng 40%
tổng lượng cầu của nước Úc.
Bên cạnh đó, ta có thể nhận thấy rằng lượng tôm sản xuất của Úc đang có xu hướng ít lại dần qua các năm 1999
đến năm 2009, nhưng có thể do lượng cầu về mặt hàng này của Úc không thay đổi nhiều nên tổng sản lượng
tôm được nhập khẩu vào Úc vẫn tăng 21% và tăn 31% về giá trị từ năm 1999 đến năm 2009.
*Xu hướng cho lượng tôm được nuôi trồng tại Úc:
Nếu ở trên ta đã chứng minh được sản lượng tôm tại Úc có xu hưởng giảm,thì câu hỏi kế tiếp
được đặt ra là: liệu lượng tôm được nuôi trồng nói chung và đặc biệt lượng tôm sú của Úc có sụt
giảm từ giai đoạn 1999 đến 2009 không?
• Úc là thị trường tiềm năng về mặt hàng tôm đông lạnh cho các nước xuất khẩu
• Ước tính lượng tôm cần được nhập khẩu vào Úc sẽ chiếm khoảng hơn 40% tổng nhu cầu của nước Úc
• Những tháng cần tập trung xuất hàng qua Úc bắt đầu tháng 7, 8,9,10 để bù vào lượng tôm thiếu hụt
trên thị trường Úc và tăng cường hơn vào 2 tháng cuối năm là 11, và 12 để chuẩn bị cho dịp giáng
sinh.Ngoài ra cần chú ý vào tháng 3 và 4.
B.Những đặc điểm cơ bản của người tiêu dùng Úc
I. Thị hiếu , sở thích chung của người Úc:
• Người Úc thích sản phẩm của chính quốc hơn là sản phẩm nhập khẩu. Vì họ thích tôm tươi chưa qua
đông lạnh hơn những sản phẩm đã được sơ chế và nấu chín hoặc những sản phẩm sơ chế và để lạnh
• Vì văn hóa ẩm thực của Úc nổi trội là những món nướng nên những năm gần đây, lượng tiêu thụ tôm
tươi và tôm đông lạnh chỉ qua sơ chế tăng nhiều hơn là sao với sản phẩm đã được nấu chín.Các sản
phẩm nhập khẩu vào thị trường Úc nên lưu ý đến đặc điểm này để ưu tiên xuất sang Úc những sản
phẩm sơ chế đông lạnh đặc biệt dùng để nướng.
• Tôm loại lớn thường được các nhà hàng ưu chuộng để làm những món đặc biệt cho thượng khách.Chính
vì thế mà yêu cầu về hình thức (nguyên con, đẹp, không gãy, ) và chất lượng (độ tươi, vị ngọt ,thành
phần đạm ,v.v ) cũng cao hơn hẳn.Với những con tôm to ( trên 15g/con) thì được chính phủ Úc cho
nhập nguyên con (không lột vỏ và bỏ đầu), nên trong quá trình vệ sinh, đóng gói và vận chuyển cần
nhanh ,cẩn thận ,khéo léo và đảm bảo để tôm tươi,không bị dập, gãy, đẹp.
• Người Úc có lối sống và suy nghĩ giản dị, và có phần hơi chút “bình dân”, và tiết kiệm,nên với 1 chiến
lược về giá hợp lí thì sẽ thuyết phục được người tiêu dùng nơi đây.
• Ngày nay, Úc được biết đến bởi nền văn hóa đầy màu sắc , những ý tưởng mới mẻ và có niềm ham thú
về nghệ thuật cao.Chính vì thế mà gần đây, các nước xuất khẩu ,tiêu biểu là Thái Lan, rất chú trọng đến
mẫu mã, bao bì, và ngay cả cách sắp xếp con tôm trong hộp.
• Người Úc muốn nhìn thấy hàng hóa trước khi mua, nắm bắt được tâm lí này, Thái Lan đã thiết kế lại mẫu
hộp sao cho người mua có thể nhìn thấy được sản phẩm bên trong.
• Người Úc hầu như không phân biệt giữa tôm được nuôi trồng hay được đánh bắt ngoài tự nhiên.Đó là 1
lợi thế cho các nước xuất tôm sú được nuôi trồng như Việt Nam và THái Lan
• Người Úc chú trọng đến môi trường và sự phát triển bền vững.
• Người Úc thích dùng những câu chữ ngắn gọn và xíc tích (vd: farmed thay vì aquacultured –dùng để chỉ
sản phẩm được nuôi trồng trong môi trường nhân tạo)
• Giấy chứng nhận phải thể hiện đầy đủ tên của cơ quan có thẩm quyền đã kiểm tra sản phẩm,
chữ kí của người có trách nhiệm tại thẩm định tại cơ quan đó, và trên mỗi tờ giấy chứng nhận có
dấu mộc đảm bảo
3. Yêu cầu vận chuyển:
• Kiểm tra khi hàng đến cửa khẩu:
Tất cả các lô hàng khi cập bến sẽ được đưa đến nơi kiểm tra để đảm bảo phù hợp cho
người tiêu dùng
Điều này được đánh giá qua một số chỉ tiêu bao gồm: hình thức,kích thước và nguồn
gốc
• Kiểm tra
Tất cả lô hàng được kiểm tra có đốm trắng, biểu hiện của hội chứng virut (WSSV) bằng
cách lấy mẫu và thử nghiệm.
Tất cả lô hàng sẽ bị giữ lại trong kho kiểm duyệt đến khi nào có kết quả kiểm tra.Đến lúc
đó lô hàng mới được trả lại, hay tái xuất khẩu, hay bị tiêu hủy hoặc cho bất kì mục đích
nào khác với sự cho phép của AQIs
• Kê khai, lưu trữ hồ sơ
Nhà nhập khẩu phải kê khai cho tất cả lô hàng sẽ không sử dụng cho mục địch làm mồi
câu hoặc chế biến lại với mục đích thương mại ( trừ 1 số trường hợp cho phép)
Tất cả hồ sơ đều phải được nhà nhập khẩu lưu trữ trong thời gian cố định
Những biên bản sẽ được AQIs kiểm toán và theo dõi
• Tái chế biến:
Tất cả tôm sống nguyên con, không được tái chế biến ( kể cả việc đóng gói lại) trừ khi đã
tuân thủ 1 số điều kiện của AQIs
Tiêu chuẩn riêng cho sản phẩm :
1. Không mang mầm mống bệnh , và đã qua các kiểm dịch bệnh cơ bản sau:WSSV, YHV,NHPB và TSV
2. Duy trì mức độ an toàn sinh học quanh khu vực nuôi trồng
3. Có hệ thống giám sát dịch bệnh
4. Chế biến và đóng gói đặt trong môi trường có thể giảm thiểu sự nhiễm bệnh chéo.
III. Yêu cầu về bao bì và đóng gói:
Hình thức:
2. Kênh phân phối cho sản phẩm tôm đông lạnh nhập khẩu vào Úc:
Thông thường thì các nhà nhập khẩu sẽ tìm một công công ty tại nước sở tại để làm cầu nối trung gian.Rồi từ
các đại lí trung gian hàng hóa hơn nửa được phân phối lại cho các siêu thị, phần còn lại sẽ phân phối cho các
nhà bán buôn cá, các cửa hàng (outlets) và bán giá rẻ hơn trên số lượng nhiều cho các cơ sở kinh doạnh dịch
vụ ăn uống.
V. Chiêu thức xúc tiến thương mại gần đây được người dân yêu thích:
1. Khách hàng được nếm thử các sản phẩm mới
2. Quảng cáo sản phẩm trên các báo và phương tiện truyền thông- kênh tiếp thị mà dường như đã bị bỏ
quên trong thời gian dài.
3. Những đoạn phim ngắn(trên mạng internet hoặc các phương tiện truyền thông, hoặc tại siêu thị. Điểm
bán sản phẩm) giải thích về kĩ thuật nuôi trồng, đóng gói và vận chuyển đến người tiêu dùng để họ biết
chắc sản phẩm không những đạt chất lượng mà không gây hại đến môi trường
4. Chiến lược giá thấp
5. Bao bì có thẩm mĩ,mới lạ và độc đáo
6. Bao bì có thể nhìn thấy được tôm thành phẩm ở trong
7. Sản phẩm đã thông qua tiêu chuẩn của tổ chức có uy tín, và có logo của tổ chức đó trên nhãn
8. Các gian hàng trong hội chợ triễn lãm.
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA ĐỐI
THỦ CANH TRANH (THÁI LAN)
A.Nhu cầu
Nguồn gốc đất nước Thái Lan được khai sinh từ biển và sông hồ. Do vậy, người Thái luôn thể hiện sự tôn
kính của mình đối với nước, hầu hết mọi món ăn cũng như nền ẩm thực Thái đều gắn với tôm và các loại hải sản.
Cũng chính vì nguồn gốc xa xưa đó mà người Thái có khẩu vị đặc biệt đối với tôm. Nghĩa là , người Thái luôn yêu
cầu cao với các món truyền thống của mình mà điển hình là các món tôm. Do đó, các tiêu chuẩn mà người Thái
đặt cho con tôm mà họ tiêu dùng luôn khắc khe nhất về chất lượng, trọng lượng , vệ sinh an toàn thực phẩm…
Các con tôm Thái Lan phải đảm bảo độ dai, độ ngọt, hình thức đẹp, tôm phải có độ lớn và trọng lượng
chuẩn, giúp cho các món ăn Thái ngon và đậm đà.
Về mặt chất lượng, mặt hàng tôm của Thái lan được đánh giá là đáng tin cậy nhất thế giới với hàng loạt các tiêu
chuẩn cũng như quá trình kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm, vệ sinh hết sức chặt chẽ của chính phủ
trước khi xuất ra thế giới.
Song, diện tích này đang càng ngày thu hẹp nhiều vì lý do người dân canh tác không điều độ, đã làm
cho môi trường đất và nước mất đi màu mỡ và độ phì nhiêu, nước bị ô nhiễm nặng cũng là nguyên
nhân gây nhiều dịch bệnh cho tôm.
Ngành công nghiệp tôm liên tục tăng trưởng mạnh và tiềm năng lợi nhuận là rất lớn khiến cho nhiều
người dân bỏ lúa mà chuyển sang nuôi tôm xuất khẩu. Tuy nhiên, do thiếu các kiến thức và kỹ năng
đúng đắn và cần thiết về thực hành nên gây ra nhiều vấn đề bất lợi cho môi trường và canh tác không
hiệu quả.
II. Yếu tố tăng cường.
Hạ tầng , kĩ thuật và giáo dục.
Hệ thống đường xá , giao thông vận tải được đầu tư có kế hoạch từ rất sớm, đây là yếu tố thúc đẩy việc
giao thương, vận chuyển, xuất hàng, nhập hàng ở các cảng Thái.Đồng thời bằng các tuyến giao thông
huyết mạch, kết hợp cùng hệ thống cảng biển, cảng sông tạo điều kiện thông thương giữa các vùng miền
và với các nước trong khu vực.
Từ năm 1990, Chính Phủ Thái Lan đã đầu tư xây dựng các trung tâm nghiêm cứu và phát triển ngành tôm
ở nhiều khu vực nuôi tôm để lai tạo và phát triển giống bố mẹ. Vì các loại tôm giống của Thái Lan chủ yếu
là tôm đánh bắt được, nên nguồn cung con giống bố mẹ không nhiều với chất lượng không đảm bảo và có
nhiều hạn chế trong công tác kiểm dịch và phân loại giống.Và các trung tâm này cũng đang dần hình thành
và phát triển nhiều hình thức nuôi tôm, nhieuf kỹ thuạt nuôi tôm mới chuyển giao đến người nông dân,
giúp giảm thiểu lao động, giảm chi phí với chất lượng và sản lượng cao.
Vì tình trạng như đã nói, hệ thống rừng ngập mặn ở Thái Lan đang bị tổn hại nghiêm trọng do sự xâm
chiếm quá nhiều, phát triển quá nóng của ngành tôm xuất khẩu. Nên các kỹ sư Thái Lan đã khuyến khích
người dân áp dụng kỹ thuật nuôi tôm khép kín.Kỹ thuật này xuất hiện ở Thái từ khi Chính Phủ ban hành
các nghị định tiêu chuản hàng hóa và điều kiện môi trường, cũng như hạn chế dịch bệnh phát sinh trong
đàn tôm.Phương pháp canh tác thích hợp đã được chứng minh là có kết quả tác động tối thiểu đến môi
trường như: hệ thống khép kín, nuôi probiotic
Với vị thế là quốc gia phát triển chủ yếu nhờ vào nông nghiệp xuất khẩu.Do vậy, cùng với sự đầu tư phát
triển các trường đào tạo cử nhân kinh tế, luật, … Chính Phủ Thái Lan còn khuyến khích người dân học các
ngành kỹ thuật, trong đó chú trọng đến việc đào tạo kỹ sư trong ngành nông nghiệp.
C.Ngành công nghiệp bổ trợ
Các công đoạn từ khi sản xuất đến tiêu thụ tôm có liên quan mật thiết đến nhiều ngành công nghiệp khác
ngành tôm vận động riêng lẻ mà là sự hỗ trợ qua lại giữa các ngành với nhau. Chẳng hạn, để nuôi tôm hiệu quả
cần phải có sự trợ giúp của ngành nông ngư cơ, trang thiết bị, con giống, hóa chất, thức ăn chăn nuôi,dược
phẩm và thú y. Ngoài ra, còn có ngành trữ lạnh, vận tải, đào tạo nhân công lao động,hải quan …
Tuy nhiên, các công tác R&D ở Thái Lan vẫn còn yếu so với các đối thủ cạnh tranh chiến lược như New
Zealand . Ngành Tài chính vẫn chưa hổ trợ nhiều trong hoạt động ngành tôm Thái
D. CHÍNH PHỦ HỖ TRỢ
I. Các Bộ ngành có liên quan:
Bộ Nông Nghiệp Thái Lan.
Bộ Thương Mại Thái.
Bộ Công Nghiệp.
Bộ Tài Chính.
Bộ Bộ Ngoại Giao.
Bộ Y Tế.
Bộ Lao Động.
Bộ Môi Trường.
Bộ Nội Vụ.
II. Hỗ Trợ từ Chính Phủ đối với việc nuôi tôm.
Chính phủ đưa ra nhiều điều luật về bảo vệ môi trường như đảm bào bảo canh tác ở những nơi có độ ô nhiểm
thấp khí hậu thuận lợi không tàn phá tự nhiên.
Sở Thủy sản Thái Lan đã ban hành các chứng chỉ GAP, CoC về kiểm soát chất lượng nuôi trồng cũng như chế biến
tôm. Trong đó, GAP là tiêu chuẩn nhằm đánh giá chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo dư
lượng hóa học không vượt mức giới hạn cho phép. Còn CoC là tieu chuẩn của Thái Lan về vấn đề tổn hại môi sinh
do haotj đọng sản xuất kinh doanh.
Quá trình kiểm soát chất lượng của Thái lan bắt đầu tại trại nuôi tôm, với sự tham gia của Sở Thủy sản (DOF) và
Sở môi trường công nghiệp (DIW).Tại các xưởng chế biến, DOF và Cục quản lý thuốc và thực phẩm cùng tham gia
vào việc kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm của tôm thành phẩm.
E.CHIẾN LƯỢC CẤU TRÚC CẠNH TRANH.
-Dựa vào biểu đồ bên
ta thấy được rằng các
thị trường xuất khẩu
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Là một trong những doanh nghiệp đứng vào Top đầu của ngành thủy sản Việt Nam, nhiều năm qua Công ty Minh
Phú đã xây dựng được uy tín cho thương hiệu và sản phẩm của mình trên nhiều thị trường xuất khẩu lớn.
Tính đến hết tháng 11/2010, tổng sản lượng xuất khẩu của MinhPhu Seafood Corp là 23.544 tấn, doanh thu
225.368.769 USD, tăng 4,99% so cùng kỳ. (Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam ước đạt 4,94 tỷ
USD, tăng hơn 16,3%, để tính % đóng góp vào kim nghạch)
Trong năm 2009 Minh Phu Seafood Corp (MPC) đã xuất khẩu được hơn 6.000 tấn tôm với tổng trị giá đạt khoảng
70 triệu USD; trong đó, Mỹ là bạn hàng lớn nhất của công ty với tổng giá trị xuất khẩu đạt 32,15 triệu USD, tiếp
đến là Hàn Quốc (6,75 triệu USD), Canada (6,5 triệu USD), Nhật Bản (5,42 triệu USD)
Phân tích lợi thế cạnh tranh ngành tôm sú của việt nam.
A.Nhu cầu
I. CHẤT LƯỢNG TÔM VÀ NHU CẦU TRONG NƯỚC
Theo Bộ Thủy sản, trong thời gian qua ngày càng có nhiều công ty tại các nước thuộc Liên minh châu
Âu và Mỹ quan tâm và muốn nhập khẩu tôm của Việt Nam.
Riêng sản lượng tôm xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đã tăng khoảng 20-30% so với trước.
Theo Tổng cục Thủy sản, Bộ NN và PTNT, cả nước hiện có 2.464 trại sản xuất tôm sú giống và 316 trại
sản xuất tôm chân trắng. Năm 2010, tổng số lượng tôm giống cung cấp ra thị trường ước đạt 43 tỉ con
(giống tôm sú 23,34 tỉ con, tôm chân trắng 14,5 tỉ con) đáp ứng 90% nhu cầu thả nuôi của cả nước.
II. ĐẶC ĐIỂM ƯU THẾ TÔM VIỆT NAM
Thứ nhất về tôm sú, lợi thế của tôm sú Việt Nam so với sản phẩm trong khu vực là size lớn. Các nước
như Thái Lan, Ấn Độ đều có sản phẩm tôm sú nhưng không thể có hàng size lớn như nước ta. Đây là lợi
thế của Việt Nam vì hàng size lớn phục vụ chính cho thị trường Mỹ. (Ông Dương Ngọc Minh, Chủ tịch
Hội đồng quản trị CTCP Hùng Vương)
Theo đánh giá của GAA, Việt Nam là nước thuộc nhóm có tốc độ phát triển thủy sản nhanh nhất trong
khu vực Đông Nam Á và thế giới. Tuy nhiên, theo Chủ tịch GAA Chamberlain, điểm mạnh, cũng là điểm
yếu của ngành tôm Việt Nam là có nhiều trại tôm nhỏ, giá thành sản xuất thấp, tạo ra lợi thế cạnh
tranh trên thị trường nhưng khó kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy, các nhà
sản xuất nhỏ phải kết hợp lại thành quy mô lớn để đảm bảo được các yêu cầu đặt ra
III. MỨC TĂNG TRƯỞNG CỦA MẶT HÀNG TÔM
động tới tiêu thụ tôm. Một số nhà phân phối thủy sản quy mô lớn cho biết doanh số rất thấp trong
ngành nhà hàng, dù thậm chí đã chuyển sang các cỡ nhỏ rẻ hơn. Họ lo ngại tôm sẽ biến mất khỏi thực
đơn. Giá tôm leo thang do nguồn cung thấp chứ không phải do nhu cầu tăng lên.
NK tôm nguyên vỏ bỏ đầu đông lạnh giảm chút ít về lượng (-0,3%), nhưng vẫn là mặt hàng NK
chính. NK tôm đông lạnh bóc vỏ tăng chút ít (0,3%) về lượng, còn tôm bao bột đông lạnh và tôm
chế biến khác có tăng trưởng cao hơn (+11% và 25%).
XK tôm của Mêhicô giảm mạnh (-44,6%) do lệnh cấm tôm do các tàu không sử dụng thiết bị loại trừ
rùa biển (TED) khai thác và bùng phát bệnh đốm trắng trên tôm nuôi.
Châu Âu
Nhu cầu đối với tôm tiếp tục tăng đến tận cuối năm 2010. Các hợp đồng ký kết cho lễ Giáng sinh và
Năm mới đã hoàn thành từ đầu tháng 11 và sản phẩm được đưa ra thị trường trước ngày 15/12. Tỷ
giá của đồng euro bảo đảm giữ giá tôm tại châu Âu ổn định, đôi khi còn cao hơn ở Mỹ. Trong suốt quý
4/2010 nguồn cung cấp tôm nước ngọt từ Ấn Độ thiếu hụt nghiêm trọng và các công ty không
thể đáp ứng nhu cầu tăng lên. Từ tháng 11, thu hoạch TCT và tôm sú đều giảm. Tại thời điểm
đó, các công ty Ấn Độ ưu tiên XK tôm sang Trung Quốc do nhu cầu ở thị trường này cũng tăng lên.
Người mua Trung Quốc sẵn sàng trả giá cho sản phẩm này tương đương với châu Âu.
Nguồn cung từ Êquađo và Thái Lan vào Pháp tăng mạnh, bù cho sự sụt giảm NK từ các nhà cung
cấp khác như Mađagatxca và Ấn Độ. Trong 11 tháng đầu năm 2010, NK tôm từ Êquađo và Thái Lan
vào Pháp tăng 69% và 185%, tương ứng 16.093 tấn và 4.160 tấn. Nguồn cung cấp từ Mađagatca,
Ấn Độ, Braxin và Inđônêxia trong giai đoạn này ít hơn. NK tôm chế biến vào Pháp cũng tăng mạnh 13%,
lên 10.700 tấn trong đó Thái Lan tăng cung cấp thêm 18% lên 2.115 tấn.
Trung Quốc tiếp tục thu hút nhiều tôm hơn từ châu Âu.
Tuy Trung Quốc là nhà sản xuất tôm lớn nhất thế giới, nhu cầu trong nước tăng lên đã thúc đẩy
NK tôm vào thị trường này mạnh lên. Nhưng sản lượng tôm trong nước trong năm 2010 dự kiến
thấp hơn do bùng nổ dịch bệnh. Một số dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nhà NK thuần trong vài năm
tới. Món tôm giờ đây đã trở thành phổ biến ở cả các vùng nông thôn, trong các tiệc đám cưới và lễ
tết. Nhu cầu tôm của Trung Quốc dự kiến đạt 1,2 triệu tấn trong năm 2011 với nguồn cung cấp
tăng lên từ các nước láng giềng như Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam và Inđônêxia.
XU HƯỚNG
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) trong các tháng còn lại của năm 2010
- Sông ngòi Chiều dài hàng nghìn km
- Các hệ thống sông chính Sông Cửu Long,
Số liệu thống kê của Bộ Thủy sản Việt Nam cho thấy phần lớn diện tích nuôi tôm (ha) và sản lượng tôm
(tấn) xuất phát từ Nam bộ Việt Nam, đặc biệt tập trung tại một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long.
Dần sau này nuôi tôm phát triển rộng ra các tỉnh duyên hải khác của Việt Nam từ Cà Mau đến Vịnh Bắc
bộ. Mặc dù vậy điều này chưa thay đổi về sản lượng theo vùng. Nam bộ vẫn là nơi nuôi tôm nhiều nhất
Việt Nam như thấy ở bảng 1 (tính bằng ha) và bảng 2 ( đơn vị là tấn).
Bảng 2: Sản lượng tôm (tấn). Nguồn: Bộ Thủy sản
Miền/Năm 1986 1990 1995 1999 2000 2001 2002
Miền Bắc 127 1,114 1,897 2,693 2,114 4,382 9,215
Miền Trung 495 757 5,023 7,344 18,866 27,279 27,277
Miền Nam 14,983 30,87
5
48,691 47,959 82,865 131,05
2
157,481
Tổng số 15,605 32,746 55,59
3
58,996 103,84
5
162,71
3
193,973
Các tỉnh có diện tích nuôi tôm nhiều nhất là các tỉnh cực Nam của Việt Nam, gồm Cà Mau, Bạc
Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre.
Tổng diện tích nuôi của Nam Bộ là 476,528ha (2003), trong đó các tỉnh nhiều nhất là:
Cà Mau: 224.000ha
Bạc Liêu 109.258ha
Sóc Trăng 51.044ha
2.CÁC LOẠI TÔM THƯỜNG ĐƯỢC NUỐI
tôm cá, bền vững môi trường và kinh tế, xã hội.
• BMP rộng hơn GAP (do GAP chỉ tập trung an toàn sản phẩm). Thực hành BMP mang tính tự
nguyên
4.NGUỒN VỐN HỖ TRỢ
Đầu tư 40.000 tỷ đồng cho ngành thủy sản
Đây là số tiền mà Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt để đầu tư cho ngành thủy sản theo Đề án Phát
triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2020.
Theo đó, tổng mức đầu tư 40.000 tỷ đồng sẽ được chia đầu tư theo 2 giai đoạn: từ 2011 - 2015 là
25.000 tỷ đồng; từ 2016 - 2020 là 15.000 tỷ đồng.
Trong đó, sản lượng tôm nước lợ đạt 700.000 tấn, tăng trung bình 5,76%/năm
Tạo điều kiện phát triển đa dạng các sản phẩm tôm phù hợp với từng vùng
và ưu thế của mỗi vùng, lợi thế cạnh tranh về nhiều loại và số lượng sản
phẩm.
C.Ngành công nghiệp bổ trợ
Việc phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản có thể sẽ tác động tiêu cực đến môi trường nếu các
biện pháp phòng ngừa thích hợp không được áp dụng. Mặt khác ngành thuỷ sản lại là ngành chịu
tác động trực tiếp khi các yếu tố ngoài ngành gây ra ví dụ ô nhiễm nước từ chất thải công nghiệp
nặng. Vì vậy các hợp phần của chương trình đều có các biện pháp bảo vệ môi trường . GSOL cũng ra
thông cáo báo chí, đề cập đến những vấn đề nóng bỏng nhất hiện nay của ngành thủy sản thế giới.
Đó là vụ kiện chống bán phá giá của Mỹ; các tiêu chuẩn và chứng nhận hệ thống nuôi; các giải pháp
công nghệ để tăng cường thương mại sản phẩm tôm tươi. Đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc phát triển nghề nuôi tôm bền vững, thân thiện với môi trường, đảm bảo các tiêu chuẩn an
toàn vệ sinh thực phẩm quốc tế, hoàn toàn không sử dụng các loại hoá chất, kháng sinh bị cấm
trong quá trình nuôi > chú trọng các ngành công nghiệp nặng và các chương trình bảo vệ môi
trường nhằm đảm bảo chất lượng tôm xuất khẩu
Dây chuyền sản xuất thức ăn cho tôm cần được thiết kế mới, công nghệ có sự cách tân rất lớn so
với công nghệ làm thức ăn truyền thống, các thông số về vệ sinh thực phẩm và thành phần dinh
dưỡng đạt tiêu chuẩn. dựa vào yêu cầu của mỗi loại công nghệ có thể điều chỉnh nhiệt độ, áp lực,
thành phần nước…phù hợp với nuôi trồng từng loại tôm
Vận chuyển thủy sản cũng là một vấn đề được quan tâm nhằm đảm bảo chất lượng thủy sản trong
đối với người nông dân trong ngành còn rất e dè. Điều đó khiến việc tiếp cận tín dụng ngân
hàng của người nuôi trồng gặp khó, ảnh hưởng đến vấn đề nguyên liệu phục vụ sản xuất. vì vậy
việc hỗ trọ vốn cho người nông dân là vấn đề nhà nước đang quan tâm và đưa ra nhiều dự án
hỗ trợ…
Riêng thị trường lớn là nhật bản
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã chỉ đạo Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm
sản và Thủy sản cần sớm đề xuất biện pháp làm việc với phía Nhật Bản, đề nghị điều chỉnh tiêu chuẩn tồn dư
kháng sinh trong sản phẩm tôm theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Theo Bộ, các tiêu chuẩn của Nhật Bản đều quá cao so với các tiêu chuẩn quốc tế, gây khó khăn cho các doanh
nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.
Tuy nhiên, đây có thể là giải pháp tình thế để gỡ khó cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm. Bởi trên thực tế, các
doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường này cần quan tâm hơn đến tập quán tiêu dùng của người Nhật, vốn
rất tự hào về những sản phẩm nông thủy sản được nuôi trồng tại Nhật với độ an toàn cao.
Về lâu dài, chỉ với cách duy nhất là đẩy mạnh tiến bộ kỹ thuật và đảm bảo vệ sinh nuôi trồng, đánh bắt cũng như
chế biến thủy sản, Việt Nam mới có thể giữ vững và có cơ hội xuất khẩu thủy sản nhiều hơn, đặc biệt là tới các
thị trường khó tính.
Với trường hợp tôm xuất khẩu sang Nhật Bản, các doanh nghiệp cũng cần năng động tìm sự hỗ trợ từ chính phía
các đối tác để có được những thông tin và cách thức xử lý những khó khăn đang gặp phải.
E.CHIẾN LƯỢC CẤU TRÚC CẠNH TRANH.
Một trong những giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành hàng tôm xuất khẩu là tập trung
rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản, gắn sản xuất với yêu cầu của thị
trường. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu thuỷ sản chế biến và tiêu
dùng đạt mức hợp lí tránh tình trạng cung vượt cầu, khắc phục tình trạng khủng hoảng nguyên
liệu. Người nuôi phải tổ chức lại sản xuất theo hướng quản lý cộng đồng thông qua việc thành
lập các hợp tác xã cùng liên kết với nhau trong việc ứng dụng các qui trình nuôi tiên tiến (GAP,
CoC…) để sản phẩm đảm bảo chất lượng cao và an toàn theo yêu cầu thị trường với giá thành
hợp lý.
Các tỉnh trong khu vực ĐBSCL có thế mạnh thủy sản cần gắn kết xây dựng cơ sở hạ tầng chế
biến xuất khẩu thuỷ sản với tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ
quản lí và đội ngũ kĩ thuật đảm bảo phát triển ngành thuỷ sản theo hướng công nghiệp hoá và
được hưởng ngay thuế suất 0%. Đây là mức mở cửa thị trường cao nhất mà Nhật Bản cam kết với 1
nước ASEAN. Với thực tế Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn của thủy sản Việt Nam và cũng là thị
trường chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy giảm kinh tế, việc hiệp định Đối tác kinh tế VJEPA có hiệu lực sẽ
trở thành cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và dần chiếm lĩnh thị trường này.
Vụ Tràn dầu biển đông, làm cho nguồn cung tôm ở vịnh Mehicô bị khan hiềm, cũng là điều kiện tốt cho
các doanh nghiệp việt nam
PHÂN TÍCH VỀ NHÀ CUNG ỨNG CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I. Chuỗi cung ứng và các nhà cung ứng tôm nguyên liệu
Nguồn cung ứng tôm trong nước chủ yếu đến từ các hộ gia đình với quy mô nhỏ, rời rạc
được thu mua trực tiếp hoặc gián tiếp từ các đại lý thu mua. Các vùng nuoi tom tập trung ở
các tỉnh đồng bằng song cửu Long như Sóc trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
Hiện nay, người nuôi trồng bán nguyên liệu cho công ty theo 2 phương thức:
- Trực tiếp đem giao cho công ty (30%), chấp nhận thanh toán chậm (sau 5 - 7ngày): người
nuôi phải có khả năng về vốn cũng như về phương tiện vận chuyển để giao hàng trực tiếp
đến nhà máy.
- Bán cho các đại lý, chủ nậu lấy tiền liền (70%): thông thường là những hộ nuôi quy mô nhỏ
và trung bình, không có nhiều vốn, không có quan hệ và chưa đủ năng lực bán thẳng cho
công ty.
Vì tôm là sản phẩm mang tính mùa vụ, không thể giữ quá lâu trong ao (sẽ làm tăng chi phí
thức ăn) và chịu chi phối bởi nhiều yếu tố trên thị trường nên sự thỏa thuận giá cả giữa
người nuôi và người thu mua cũng chỉ mang tính tương đối, người nuôi gần như luôn ở vào
thế bị động. Giá bán tôm thẻ của các hộ nuôi chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố như: giá
xuất khẩu trên thị trường thế giới, mùa vụ và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chế
biến xuất khẩu. Nếu bán trực tiếp cho công ty chế biến thì hộ nuôi sẽ được hưởng toàn bộ
giá trị của lô tôm thu hoạch, bán qua trung gian thì họ phải chấp nhận mất đi một khoản để
chiết khấu cho các đại lý.
Người nông dân và doanh nghiệp trên thực tế vẫn đang duy trì lối làm ăn riêng lẻ, “mạnh ai
nấy lo”. Trong những thời điểm chính vụ, cung vượt quá cầu thì lợi thế mặc cả nghiêng về
phía doanh nghiệp, người nông dân phải chịu bị ép giá; còn vào lúc trái vụ, mất mùa, các
Đại lý các cấp thường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Người nuôi trồng thường giữ
mốiquan hệ lâu dài với các đại lý chủ nậu vì việc bán nguyên liệu cho các trung gian
thườngđơn giản và được thanh toán nhanh hơn. Nhiều đại lý, nậu vựa còn là người đứng ra
cungứng vốn, cho các hộ nuôi trồng vay để đầu tư mua trang thiết bị, mua giống và thức ăn
chotôm khi các hộ này gặp khó khăn về tài chính. Ngược lại khi thu hoạch, người nuôi phải
ưu tiên bán tôm lại cho những chủ nậu đã cho vay với giá thấp hơn giá thị trường.Tại công
ty, quá trình thu mua tôm thẻ thường phải thông qua ít nhất 2 đại lý là
đại lý cấp 1 và đại lý cấp 2:
Đại lý cấp 1: đóng vai trò là người đi thu hoạch tôm tại đìa. Đại lý chủ nậu cấp 1 sẽ chịu các
chi phí: thu hoạch, bốc dở, bảo quản, vận chuyển tôm từ đìa đến nhà máycủa công ty. Chi
phí trung bình họ bỏ ra là 2000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí và khoảnhoa hồng cho đại lý cấp
2 (trung bình 500 đồng/kg), đại lý cấp 1 lãi trung bình 500 đồng/kg tôm nguyên liệu. Tuy có
lợi nhuận tương đối cao nhưng đại lý cấp 1 cũng phảichịu khá nhiều rủi ro do mỗi lần thu
hoạch, đại lý phải thu mua hết sản lượng của một ao/đìa nuôi. Vì gần như là mua xô nên
nếu nguyên liệu giao tới công ty gặp vấn đề và bịtrả lại thì đại lý cấp 1 là người gánh chịu
toàn bộ thiệt hại.
Đại lý cấp 2: thường có cơ sở tại các thành phố lớn và chỉ có vai trò như là người“cò mồi”,
môi giới giữa công ty với đại lý cấp 1 để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu của công ty tại từng
thời điểm, đồng thời đáp ứng việc thanh toán nhanh cho các hộ nuôi, điều màcông ty
không thể làm được. Về lợi nhuận, đại lý cấp 2 trong chuỗi cung ứng của công ty sẽ nhận
được từ 500-1000 đồng/kg tôm thẻ nguyên liệu trên giá bán của đại lý cấp 1. Sau khi trừ đi
một số khoản bao gồm: phí lãi vay, phí giao dịch, nhân công, tiền điện thoại,trung bình
người đại lý sẽ có lãi từ 300 -700 đồng/kg tùy theo tình hình thị trường.Nhìn chung, ưu
điểm của đại lý là họ có thể tìm ra các hộ nuôi có khả năng cung cấp một cách nhanh chóng
và đúng theo yêu cầu của công ty về loại tôm, sản lượng,kích cỡ mà giá nguyên liệu không
có sự thay đổi khi công ty thu mua qua trung gian haytrực tiếp từ người nuôi. Tuy nhiên,
nhược điểm lớn nhất của việc thu mua qua trunggian là công ty không thể kiểm soát chất
lượng nguồn nguyên liệu một cách toàn diện sự nảy sinh các hình thức gian lận, ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng của nguồnnguyên liệu chế biến tại công ty.
Công ty F17