Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ
Dự án 14 EE5
Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006
nghiên cứu động thái môi trờng
đầm phá ven bờ miền trung việt nam
làm cơ sở lựa chọn phơng án quản lý
Cơ quan chủ trì:
Viện Tài nguyên và Môi trờng biển
(Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) Chuyên đề
tổng quan môi trờng đầm phá
ven bờ miền Trung việt nam
CN. Đặng Hoài Nhơn Chuyên đề
tổng quan môi trờng đầm phá
ven bờ miền Trung việt nam
Chủ trì thực hiện
TS. Nguyễn Hữu Cử Hải Phòng, 2005
Dự án 14 EE5 - Chuyên đề Tổng quan môi trờng đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2005
Dự án 14EE5. Chuyên đề Tổng quan môi trờng đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2005
Viện Tài nguyên và Môi trờng biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
1
mở đầu
ở ven bờ biển Việt Nam có bốn loại hình thủy vực (coastal bodies of water)
tiêu biểu, bao gồm: vùng biển nông ven bờ, các vùng cửa sông (châu thổ, hình
phễu, liman), vũng - vịnh và đầm phá, trong đó đầm phá (coastal lagoon) phân
bố ở ven bờ miền Trung Việt Nam.
Đầm phá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới với các vùng địa lý khác nhau
và bờ đầm phá chiếm 13% chiều dài đờng bờ đại dơng thế giới (Nichols and
Allen, 1981). ở ven bờ miền Trung Việt Nam, trong khoảng từ vĩ độ 11
o
bắc
(Ninh Thuận) tới vĩ độ 16
o
bắc (Thừa Thiên - Huế), có mặt 12 đầm phá điển
hình, chiếm 21% chiều dài bờ biển Việt Nam (cứ 57 km chiều dài bờ biển miền
Trung có 1 đầm phá). Các đầm phá có hình dáng và kích thớc khác nhau từ nhỏ
(diện tích mặt nớc dới 20 km
2
) tới lớn (diện tích mặt nớc trên 200 km
2
), thậm
Dự án 14EE5. Chuyên đề Tổng quan môi trờng đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2005
Viện Tài nguyên và Môi trờng biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
2
1. tổng quan về lagun,
lagun ven bờ miền trung việt nam
1.1. Định nghĩa
1.1.1. Định nghĩa lagun
Từ lagun nói chung (lagoon, lagune, laguna, v.v.) có nguồn gốc từ chữ latin
- lacuna, đợc sử dụng tơng đối rộng rãi để chỉ các đối tợng khác nhau. Trong
từ điển Glossary of Geology, 3
th
ed., 1987, lagun đợc hiểu là một bộ phận
đợc tách ra khỏi một vực nớc nhờ một dạng tích tụ chắn ngoài. Theo định
nghĩa này, lagun là một phần của biển đợc tách ra khỏi biển nhờ một dạng tích
tụ chắn ngoài (nh đảo cát, roi cát, rạn san hô, v.v.), có thể là một hồ nớc ngọt
đợc tách ra khỏi một hố nớc lớn hơn hoặc một con sông, cũng có thể là một
vùng cửa sông, một nhánh sông vùng cửa hoặc một đầm lầy, v.v. có nớc biển
chảy vào.
Nh vậy định nghĩa này rất rộng, chỉ nhiều đối tợng khác nhau, bao gồm
cả lagun xa bờ (offshore lagoon) và ven bờ (coastal lagoon), cả vực nớc mặn và
nớc ngọt. ở Việt Nam, có mặt các lagun xa bờ quy mô nhỏ nh ở quần đảo
Trờng Sa do ám tiêu san hô tạo thành, có lagun ven bờ ở miền Trung Việt Nam,
có lagun ven bờ nớc lợ, nớc mặn và thậm chí siêu mặn (Đầm Lăng Cô, Đầm Ô
Loan) nhng cha hề nói tới lagun nớc ngọt có nguồn gốc sông hoặc hồ nh
định nghĩa nói trên. ở Việt Nam cũng nh nhiều nớc khác trên thế giới, một
vùng cửa sông hay một bộ phận cấu trúc của vùng cửa sông không đợc coi là
lagun.
Nh vậy, định nghĩa lagun ven bờ bao hàm 3 khía cạnh cơ bản xác định thuộc
tính của đối tợng:
(1) - là một thủy vực ven bờ - kết quả tơng tác lục địa - biển ở đới bờ, tính
chất của khối nớc đặc trng bởi biến động theo mùa, độ muối giảm
mạnh về mùa ma tới lợ, lợ - nhạt và có hiện tợng phân tầng, đặc biệt
là nơi có sông lớn đổ vào (điển hình là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai), đồng thời độ muối tăng mạnh về mùa khô tới mặn và siêu mặn,
đặc biệt là nơi không có sông lớn đổ vào (điển hình là đầm Lăng Cô,
đầm Ô Loan),
(2) - đợc ngăn cách với biển nhờ một dạng tích tụ cát chắn ngoài - thờng
là dạng cát nối đảo phát triển từ một phía, ở vùng bờ giàu bồi tích cát
và năng lợng cao đang phát triển ở thời kỳ san bằng trên nền sụt hạ
tơng đối tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại,
(3) - ăn thông với biển qua một hay nhiều cửa - xuất hiện một hay nhiều cửa
là kết quả tơng tác sông - biển (chủ yếu là thủy triều) thông qua đầm
phá, cửa luôn có xu thế đóng kín về mùa khô và thậm chí đóng kín để
trao đỏi nớc theo cơ chế chảy thấm, thẩm thấu ở các đầm phá chỉ có
sông nhỏ hoặc không có sông đổ vào, cửa có thể mở thờng xuyên hay
định kỳ (mở về mùa m
a và đóng về mùa khô nh đầm Trà ổ ở Bình
Định), có thể dịch chuyển vị trí dần do dòng bồi tích cát dọc bờ hoặc
đổi vị trí luân phiên theo chu kỳ không ổn định 5 - 10 năm/lần.
Trong phân loại của mình, Brovko (1990) còn đề cập tới lagun nhân tạo
(Anthropogenic lagoon) có đê cát chắn phía ngoài không phải do quá trình bờ (tự
nhiên) mà là do con ngời tạo ra. Có thể khái quát các đặc điểm cơ bản xác định
một lagun hay lagun ven bờ trong bảng 1.
hay chảy thấm qua thể
cát
- Là một phần của biển
(hoặc đại dơng)
- Đợc tách ra khỏi
biển (hoặc đại
dơng) nhờ ám tiêu
san hô (dạng tích tụ
cơ chế sinh học)
- Có cửa ăn thông với
bên ngoài
- Là một thuỷ vực nhân
tạo
- Đợc tách ra khỏi
biển ven bờ nhờ đê
bao (dạng tích tụ
nhân tạo)
- ăn thông với biển ven
bờ phía ngoài qua
cửa
- Độc lập tơng đối với biển
phía ngoài
- Là bồn tích tụ tơng đối yên
tĩnh
- Là bồn tích tụ độc lập
tơng đối
- Đồng thời chịu tác động
của biển và lục địa
- Có thể lợ, mặn hoặc siêu
Hà Trung, Đầm Thủy Tú và Đầm Cầu Hai, mà tất cả chúng là những thủy phần
không có ranh giới tự nhiên hợp thành một lagun ven bờ thống nhất. Ngay từ xa
xa, trong th tịch cổ cũng nh trong dân gian, tồn tại nhiều tên gọi và đợc
phân theo ranh giới hành chính, có tên là Phá Hải Hạc, Phá Tam Giang, Đầm
Niểu, Đầm Đà Đà, Vịnh Đông, Vịnh Minh Lơng. Vịnh Hng Bình, Vịnh Giang
Tân, Vịnh Hà Bạc, v.v. Cho tới năm 1831 (thời Minh Mạng), một số đợc đổi tên
trong th tịch, thành Đầm Thanh Lam, Đầm Hà Trung, v.v. nhng trong dân gian
vẫn giữ cách gọi riêng và ngày nay vẫn gọi tắt là Phá Tam Giang - Cầu Hai và
thậm chí gọi Phá Tam Giang. Cùng đối tợng đó ở Quảng Ngãi có tên gọi Đầm
An Khê hay Đầm Nớc Mặn (Sa Huỳnh), ở Bình Định có tên gọi Đầm Trà ổ,
Đầm Nớc Ngọt hay Đầm Thị Nại, ở Phú Yên - Khánh Hòa có tên gọi Đầm Ô
Loan và thậm chí Đầm Nha Phu mà Đầm Nha Phu là một vịnh ven bờ (bay) điển
hình. Trong khi đó, ở miền Bắc sử dụng tên gọi đầm theo truyền thống để chỉ
một loại hình thủy vực tự nhiên, tạo ra do một đoạn sông chết, một vùng trũng
còn sót lại trong quá trình phát triển đồng bằng ven biển có liên quan tới quá
trình lầy hóa hiện nay. Loại hình này tơng ứng với trằm và bàu theo cách
gọi tên miền Trung. Hơn nữa, chính ngời dân ven biển tự tạo ra một loại hình
thủy vực vùng triều (quây đắp một phần bãi triều) để nuôi thủy sản nớc lợ rồi
cũng gọi nó là đầm.
Từ đó thấy rằng, thuật ngữ đầm hay phá tồn tại mang tính địa phơng
theo tập quán hoặc do lịch sử để lại. Cùng một tên gọi (đồng âm), ở những nơi
khác nhau đợc dùng để chỉ những đối tợng khác nhau (không đồng nghĩa).
Ngợc lại, cũng một đối tợng (đồng nghĩa) ở những nơi khác nhau có tên gọi
khác nhau (không đồng âm). Mặt khác, một đối tợng cụ thể cũng có những tên
gọi khác nhau trong th tịch (hành chính), trong dân gian và khác nhau theo thời
gian.
Do đó, để tiện lợi và nhằm phản ánh đúng bản chất của một hệ tự nhiên,
chúng tôi đề nghị sử dụng cả từ địa phơng có viết hoa - Đầm Cầu Hai, Phá Tam
Giang, và từ khoa học đã phiên âm tiếng Việt mà không viết hoa - lagun. Khi đề
cập tới một vấn đề khoa học thì dùng từ phiên âm và khi đề cập tới đối tợng cụ
chảy) và lục địa (sông, vận động kiến tạo khu vực, v.v.). Trầm tích trong lagun
ven bờ gồm trầm tích biển, và sông - biển.
1.3.2. Phân loại theo nguồn gốc
Phleger, F. B. (1981) đã phân tích các lagun ven bờ đại dơng thế giới và
khái quát thành 18 đặc điểm đặc trng nhất chứa đựng các nội dung địa chất và
địa mạo.
Cho tới năm 1990 trong công trình nghiên cứu Sự phát triển các lagun ven
bờ của mình, Brovko, P. F. đã phân loại lagun theo nguồn gốc phát sinh. Theo
cách phân loại này, có các nhóm lagun sau:
- Lagun ven bờ (coastal lagoons)
- Lagun san hô (coral lagoons)
- Lagun nhân tạo (anthropogenic lagoons)
Theo phân loại của Brovko, P. F. (1990), riêng lagun ven bờ đ
ợc phân ra
nhiều kiểu khác nhau theo hình thái các dạng tích tụ chắn ngoài, hình dáng, kích
thớc và độ sâu thủy vực, v.v. Tuy nhiên, hệ thống phân loại lagun ven bờ của Dự án 14EE5. Chuyên đề Tổng quan môi trờng đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2005
Viện Tài nguyên và Môi trờng biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
7
Nichols, M. and Allen, G. (1981) khái quát hơn và đợc sử dụng rộng rãi hiện
nay. Hệ thống phân loại này dựa theo nguyên tắc động lực, phản ánh động lực
hình thành và phát triển lagun trong thế tơng quan giữa các quá trình biển
(sóng, dòng chảy, thủy triều) và các quá trình lục địa (sông) thông qua hình thái
và quá trình u thế trong lagun. Hệ thống phân loại này chia các lagun ven bờ
đại dơng thế giới thành bốn kiểu:
A. Lagun cửa sông (estuarine lagoon)
B. Lagun hở (open lagoon)
C. Lagun kín từng phần (partly closed lagoon)
8
Bảng 2. Đặc điểm các kiểu lagun theo động lực
Kiểu A. Cửa sông B. Hở C. Kín từng phần D. Đóng kín
Động lực thống trị Triều và sông Triều và sóng Sông và dòng dọc bờ Sóng và gió
Mạnh Dòng bồi tích do triều và sông Yếu
Đặc điểm đặc trng Yếu Dòng bồi tích do sóng Mạnh
Hở Trạng thái cửa Kín
v.v.) không có sông hoặc có sông nhỏ đổ vào, nên ảnh hởng của biển chiếm u
thế và nhanh chóng đạt đến mức độ kín từng phần, thậm chí trở nên siêu mặn
về mùa khô.
1.4.2. Vị trí lagun trong hệ thống các loại hình thủy vực ven bờ tiêu biểu ở
Việt Nam
Lagun ven bờ là một trong bốn loại hình thủy vực ven bờ tiêu biểu ở vùng
bờ biển Việt Nam. Mỗi loại hình thủy vực là một hệ tự nhiên ven bờ đặc trng
bởi hình thái, cấu trúc, động lực hình thành, phát triển và xu thế tiến hóa
(bảng 5). Do điều kiện địa chất khu vực các đoạn bờ khác nhau mà dẫn đến hình
thành các loại hình thủy vực khác nhau, các thủy vực cùng loại hình cũng khác
nhau và vị trí tơng đối giữa các loại hình thủy vực rất phức tạp do tính chuyển
tiếp và quan hệ phụ thuộc để tạo nên phụ hệ (hình 1). Hình 1. Vị trí tơng đối giữa các loại hình thủy vực ven bờ và biển
Biển
Vịnh biển (gulf)
Đầm phá Vùng cửa sông
Biển nông ven bờ
Vũng - vịnh
10
Abu Dhabi Ven bờ Trucial (vịnh Ba T)
Khô
Vĩ độ thấp
Tam Giang - Cầu Hai, ô Loan
Lagos - Lekki Ven bờ miền Trung Việt Nam
Ven bờ vịnh Guinéa (Tây Phi)
Nhiệt đới ẩm
11 Bảng 4. Vị trí phân loại của lagun ven bờ miền Trung Việt Nam (Nguyễn Hữu Cử, 1995)
Các kiểu lagun Gần kín Kín từng phần Đóng kín
Cửa sông
Theo Nichols, M.
and Allen, G.,
1981
Đóng kín An Khê, Trà ổ
12
Bảng 5. Vị trí các lagun ven bờ trong hệ thống các laọi hình thuỷ vực ven bờ Việt Nam
Dựa vào Trần Đức Thạnh, Nguyễn Chu Hồi, Nguyễn Hữu Cử và nnk., 1992
Loại hình
thủy vực
Ví dụ Kiểu
Nguồn gốc
hình thành
Động lực hình
thành, phát
triển thống trị
Mức độ
đóng kín
Đặc trng
tích
Sông Hở
Vùng cửa
sông châu
thổ
Châu thổ sông Mã,
sông Thu Bồn
Lấp đầy Nửa kín
Lợ
Lục địa
lấn biển
Vụng Xuân Đài Bồi lấp yếu Mặn San bằng bờ
Đầm Nha Phu
Ngập chìm
một cung lõm
(indent) của
đờng bờ
Sóng (triều)
Hở
Vịnh ven
bờ
Vịnh Hạ Long
Bồi lấp tơng
đối mạnh
Đảo chắn Triều sông Nửa kín
Mặn - lợ
Lục địa lấn
biển chậm
Đầm An Khê
Đầm Trà ổ
miền trung việt nam
2.1. Nội dung kiểm kê
ở ven bờ miền Trung Việt Nam từ vĩ độ 16
o
bắc (Thừa Thiên Huế) tới vĩ độ
11
o
bắc (Ninh Thuận), có mặt 12 đầm phá tiêu biểu (hình 2) với tổng diện tích
mặt nớc 436,9 km
2
. Các đầm phá này đa dạng về kích thớc và hình dáng (bảng
6), trong đó, nhỏ nhất là đầm Nớc Mặn (Sa Huỳnh) có diện tích 2,8 km
2
, lớn
nhất là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) với diện tích 216
km
2
, lớn nhất đông nam á và thuộc loại lớn của thế giới.
Theo thứ tự về phía nam, hệ thống đầm phá bao gồm:
1. Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế)
2. Đầm Lăng Cô (tỉnh Thừa Thiên Huế)
3. Đầm Trờng Giang (tỉnh Quảng Nam)
4. Đầm An Khê (tỉnh Quảng Ngãi)
5. Đầm Nớc Mặn (Sa Huỳnh) (tỉnh Quảng Ngãi)
6. Đầm Trà ổ (tỉnh Bình Định)
7. Đầm Nớc Ngọt (Degi) (tỉnh Bình Định)
8. Đầm Thị Nại (tỉnh Bình Định)
9. Đầm Cù Mông (tỉnh Phú Yên)
10. Đầm Ô Loan (tỉnh Phú Yên)
bình
Lớn
nhất
Dài Rộng Sâu
1 Tam Giang -
Cầu Hai
216 68 2 - 10 1,6 4,2 T.An:6000
T Hiền: 100
350
50
2 11
1
2 Lăng Cô 16 6,0 3,5 1,2 2,0 1000 150 1 - 8
3 Trờng Giang 36,9 10,0 5,0 1,1 2,0 An Hoà 500
Tam Hải 400
400
200
4
1
4 An khê 3,5 3,0 1,1 1,3 2 3 000 150 1
5 Nớc Mặn 2,8 3,0 1,0 1,0 1,6 300 120 1,5
6
Trà ổ
14,4 6,0 2,5 1,6 2,2 5 000 150 1 - 4
7 Nớc Ngọt 15,6 8,5 2,5 0,9 1,4 2 000 125 1,6
8 Thị Nại 50 15,6 3,9 1,2 2,5 1 200 900 7
9 Cù Mông 30,2 17,6 2,2 1,6 3,5 500 350 5
10 Ô Loan 18 9,3 1,9 1,2 2,0 6 300 50 1,5
11 Thủy Triều 25,5 17,5 0,3-3,0 1,5 4,0 1 000 1 000 4,0
12 Nại 8 6 3,5 2,8 3,2 2 500 500 4 - 6
- Kinh độ đông: 107
0
2200 - 107
0
5700
Địa điểm
- Tỉnh Thừa Thiên - Huế
- Khoảng cách gần nhất 14 km từ cầu Thuận An tới thành phố Huế về
hớng đông bắc theo tỉnh lộ 49
- Các huyện, xã liên quan:
Huyện Phong Điền: các xã Phong Chơng, Điền Lộc, Điền Hoà, Điền
Hải, Phong Hải (5 xã).
Huyện Quảng Điền: các xã Quảng Thái, Quảng Lợi, Quảng Phớc,
Quảng An, Quảng Ngạn, Quảng Công (6 xã).
Huyện Hơng Trà: các xã Hơng Phong, Hải Dơng (2 xã).
Huyện Phú Vang: các xã Phú Tân, Phú An, Phú Mỹ, Phú Xuân, Phú
Đa, Vinh Phú, Vinh Hà, thị trấn Thuận An, Phú
Thuận, Phú Hải, Phú Diên, Vinh Xuân, Vinh Thanh,
Vinh An (14 xã, thị trấn).
Huyện Phú Lộc: các xã Vinh Mỹ, Vinh Hải, Vinh Hng, Vinh Giang,
Vinh Hiền, Lộc Bổn, Lộc Sơn, Lộc An, Lộc Điền,
thị trấn Phú Lộc, Lộc Trì, Lộc Bình (12 xã, thị trấn).
Diện tích mặt nớc: 216 km
2
Kích thớc cơ bản của vực nớc
- Chiều dài: 68 km tới cửa Lộc Bình, 65 km tới cửa T Hiền.
- Chiều rộng: thay đổi trong khoảng 2 - 10 km.
- Độ sâu: trung bình 1,6m, lớn nhất 4,2m.
IV
1-2
) và muộn (mQ
iv
3
).
Biến động cửa phức tạp. Cửa Thuận An biến động chu kỳ dài, luồng của
ép dần về phía tây bắc. Cửa T Hiền (vị trí Vinh Hiền) là cửa phụ, biến
động chu kỳ ngắn, thay đổi vị trí luân phiên với cửa Lộc Bình (vị trí ở Lộc
Bình, sát mũi Chân Mây). Trong trận lũ tháng 11/1999, có tới 5 vị trí cửa,
trong đó cửa Hòa Duân mở lại vị trí lịch sử năm 1404.
Tốc độ lắng đọng trầm tích hiện đại trên nền đáy trong khoảng 0,1 - 0,3
mm/năm theo tài liệu chronology sử dụng phơng pháp radiotracer.
Cơ sở hạ tầng quan trọng
- Hạ tầng giao thông: Cầu Thuận An cũ và mới, cầu Viễn Trình (bắc qua
đầm Thủy Tú), cầu Vinh Hiền (bắc qua cửa T Hiền, đang xây dựng),
cảng Tân Mỹ (tiếp nhận tầu 3 000 DWT).
- Hạ tầng thủy lợi: kè hàn khẩu cửa Hòa Duân (mở tháng 11/1999), các
đập ngăn mặn Cửa Lác (ở vùng cửa sông Ô Lâu), Thảo Long (ở cửa
sông Hơng), Cống Quan (sông Đại Giang, Truồi).
Dù ¸n 14EE5. Chuyªn ®Ò Tæng quan m«i tr−êng ®Çm ph¸ ven bê miÒn Trung ViÖt Nam 2005
ViÖn Tµi nguyªn vµ M«i tr−êng biÓn (ViÖn Khoa häc vµ C«ng nghÖ ViÖt Nam)
18
Kích thớc cơ bản của vực nớc
- Chiều dài: 6 km
- Chiều rộng: 3,5 km
- Sâu: trung bình 1,2m, lớn nhất 2m
Cửa
- Dài: 1 000m
- Rộng: 1 50m
- Sâu: 1 - 8m
Kiểu loại thủy vực: kiểu kín từng phần (cục bộ), khối nớc mặn - siêu
mặn, phân tầng yếu
Các sông đổ vào: có 2 sông nhỏ không đáng kể: Hói Mít và Hói Dừa bắt
nguồn từ dãy Bạch Mã
Đặc điểm cấu trúc hình thái
Hình dáng tơng đối đẳng thớc, dài 6 km chạy dọc theo quốc lộ 1A định
hớng tây bắc - đông nam. Vực nớc tơng đối nông, có một rãnh sâu ở
giữa. Cửa ở tận cùng phía nam sát với khối núi Hải Vân, hẹp và sâu. Đê
cát chắn gồm 2 thế hệ liền kề: thế hệ thứ nhất bắt đầu từ núi Phú Gia, Đá
Kép, tuổi Holocene sớm - giữa (Q
IV
1-2
) thuộc hệ tầng Nam Ô (mQ
IV
1-2
no),
thế hệ thứ hai dạng nối đảo bắt đầu từ Núi Tròn, tuổi Holocene muộn Dự án 14EE5. Chuyên đề Tổng quan môi trờng đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2005
Viện Tài nguyên và Môi trờng biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)