MỤC LỤC
1. Lý luận chung về bất bình đẳng phân phối thu nhập trong sự phát triển kinh
tế 5
1.1. Các khái niệm chung 5
1.1.1. Khái niệm phát triển kinh tế 5
1.1.2. Khái niệm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 5
1.2. Thước đo đánh giá sự phát triển kinh tế 5
1.2.1. Sự tăng trưởng kinh tế 5
1.2.2. Cơ cấu kinh tế 6
1.2.3. Sự phát triển xã hội 9
1.3. Thước đo đánh giá bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 10
1.3.1. Đường cong Lorenz 10
1.3.2. Hệ số Gini 12
1.4. Hệ quả 14
1.4.1. Đối với sự tăng trưởng kinh tế 14
1.4.2. Đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 15
1.4.3. Đối với sự phát triển xã hội 16
2. Thực trạng bất bình đẳng phân phối trong sự phát triển kinh tế tại Việt Nam17
2.1. Thực trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập trong sự phát triển kinh tế
tại Việt Nam (sử dụng hệ số GINI làm thước đo) 17
2.1.1. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập chung của cả nước 17
2.1.2. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo khu vực thành thị,
nông thôn 18
2.1.3. Bất bình đẳng theo khu vực địa lý 19
2.1.4. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo giới tính 21
1
2.2. Mối quan hệ giữa bất bình đẳng phân phối thu nhập và phát triển kinh tế
2.2.1. Mối quan hệ giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và tăng
trưởng kinh tế
2.2.2. Mối quan hệ giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 8 Hệ số Gini của 8 vùng địa lý trên cả nước giai đoạn 2002 – 2010 21
Bảng 9 Thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng phân theo 5 nhóm thu
nhập giai đoạn 2002 – 2010 với chủ hộ giới tính nam 22
Bảng 10 Thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng phân theo 5 nhóm thu
nhập giai đoạn 2002 – 2010 với chủ hộ giới tính nữ 22
Bảng 11 Hệ số GINI theo giới tính giai đoạn 2002 – 2010 22
Bảng 12 Mối quan hệ giữa GDP bình quân và Hệ số Gini giai đoạn 2002 –
2010 24
3
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã chứng kiến những chuyển biến rất tích cực trong
những năm vừa qua với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu hút ngày càng nhiều vốn
đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, cũng cần phải
thấy rõ nền kinh tế Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như tỷ lệ lạm phát
luôn ở mức cao, nhập siêu lớn, năng lực cạnh tranh còn hạn chế,… và đặc biệt là sự
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa người giàu và người nghèo đang có xu
hướng gia tăng, gây nhiều tác động tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam.
Vì vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Bất bình đẳng phân phối thu nhập
trong sự phát triển kinh tế Việt Nam” để nghiên cứu.
Trong bài nghiên cứu này, nhóm chúng em sẽ nêu ra những lý luận chung
về bất bình đẳng phân phối thu nhập trong sự phát triển kinh tế, thực trạng bất
bình đẳng phân phối thu nhập tại Việt Nam đồng thời đề xuất một số giải pháp,
kiến nghị nhằm hạn chế sự bất bình đẳng phân phối thu nhập.
Chúng em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hải Yến đã giúp đỡ nhóm
chúng em hoàn thành bài nghiên cứu này.
4
1. Lý luận chung về bất bình đẳng phân phối thu nhập trong sự phát triển
kinh tế
1.1.Các khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm phát triển kinh tế
Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross national income)
GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân
một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định
GNI= GDP + chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài.
Thu nhập quốc dân ( NI – National income)
Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mwois sáng tạo ra trong một
khoảng thời gian nhất định
NI= GNI - D
p
Thu nhập quốc dân sử dụng ( NDI- National disposable income)
Là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy thuần
trong một thời kì nhất định
NDI= NI + chênh lệch về chuển nhượng hiện hành với nước ngoài
Thu nhập bình quân đầu người ( GDP/người, GNI/người)
Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi của dân số.
Giá để tính các chỉ tiêu tăng trưởng
Giá sử dụng để tính các chỉ tiêu tăng trưởng gồm ba loại khác nhau: giá so
sánh, giá hiện hành, giá sưc mua tương đương
Giá so sánh (giá cố định) là giá được xác định theo mặt bằng của một năm gốc.
Giá hiện hành là giá được xác định theo mặt bằng của năm tính toán.
Giá sức mua tương đương phản ánh thu nhập được điều chỉnh theo mặt bằng
quốc tế và dùng để so sánh theo không gian
1.2.2. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể
nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và
chất lượng giữa các bộ phận với nhau.
Cơ cấu ngành kinh tế
6
Các nước đang phát triển có xuất phát điểm thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào
nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp của các nước này thường chiếm từ 20-30%
Việt Nam 39 21 20 23 41 41 39 38 40
Nguồn: World Bank Group
Bảng 2 Cơ cấu GDP theo ngành của một số nước trong khu vực (1980-2011)
(%)
Cơ cấu vùng kinh tế
7
Sự phát triển kinh tế được thể hiện ở cơ cấu vùng kinh tế theo góc độ thành thị
và nông thôn. ở các nước đang phát triển, kinh tế nông thôn chiếm rất cao
Nhóm nước Tốc độ tăng
trưởng dân số
tự nhiên
Tốc độ tăng
trưởng dân số
nông thôn
Tốc độ tăng
trưởng dân số
thành thị
Nhóm nước thu
nhập thấp
2,1 1,6 3,6
Nhóm nước thu
nhập trung bình
thấp
1,6 0,9 2,6
Nhóm nước thu
nhập cao (thuộc
OECD)
0,5 -0,8 0,9
Nguồn: Báo cáo phát triển thế giới, WB
Bảng 3 Tốc độ tăng trưởng dân số theo nhóm nước (%)
Cơ cấu thương mại quốc tế
Nhìn chung tất cả các nước giàu hay nghèo đều tham gia một cách đáng kể vào
nền kinh tế.
Các nước đang phát triển thường xuất khẩu những sản phẩm thô như: nguyên
liệu, nông sản, thực phẩm hay những sản phẩm thuộc các ngành dệt, may, công
nghiệp nhẹ
Các nước phát triển thì xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm chế biến, các hàng
hóa vốn hay những hàng hóa lâu bền
1.2.3. Sự phát triển xã hội
Một số chỉ tiêu phản ánh nhu cầu của con người
Đơn vị: %
Tên nước Tốc độ
tăng
GDP
đầu
người
(2010-
2011)
Tuổi thọ
bình quân
(Nam/Nữ)
(2010)
Tỷ lệ tử
vong của
trẻ em
dưới 5
tuổi trên
1000 ca
(2010)
Tỷ lệ người
là đại diện cho nững nước có thu nhập thấp được LHQ đánh giá cao về những
thành tựu đạt được về những chỉ tiêu phát triển con người so với các nước có
cùng mức thu nhập.
Các chỉ tiêu trên chỉ phản ánh từng lĩnh vực khác nhau của phát triển xã
hội. Để đánh giá tổng hợp và xếp loại trình độ phát triển kinh tế - xã hội chung
giữa các quốc gia hay giữa các địa phương LHQ đã đưa ra một chỉ tiêu tổng hợp
họi là chỉ số phát triển con người: HDI. HDI chứa đựng 3 yếu tố cơ bản:
Tuổi thọ bình quân phản ánh bằng số năm sống
Trình độ giáo dục đo bằng cách kết hợp tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đi
học đúng độ tuổi
Mức thu nhập bình quân trên đầu người tính theo sức mua tương đương
Chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng
Các chỉ tiêu thường sử dụng trong đánh gái nghèo đói và bất bình đẳng về kinh
tế bao gồm: tỷ lệ hộ nghèo trong xã hội, có sự phân chia theo từng vùng, giới tính,
dân tộc khác nhau và theo các tiêu chuẩn quy định hiện hành quốc tế hoặc quốc
gia
1.3.Thước đo đánh giá bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
1.3.1. Đường cong Lorenz
10
Phương pháp tính
Trục hoành trong đồ thị biểu thị phần trăm cộng dồn dân số và được sắp xếp
theo thứ tự thu nhập tăng dần. Ví dụ điểm 20% trong hình cho biết 20% nghèo
nhất trong dân số. Trục tung là tỷ lệ trong tổng thu nhập mà mỗi phần trăm trong
dân số nhận được.
Đường kẻ chéo ( đường 45
o
) trong hình cho thấy ở bất kỳ điểm nào trên
đường này đều phản ánh tỷ lệ phần trăm thu nhập nhận được bằng tỷ lệ phần
trăm của số người có thu nhập Ví dụ, điểm giữa của đường chéo cho thấy 50%
thu nhập được phân phối cho đúng 50% dân số. Ở điểm ¾ của đường chéo, 75%
Tính diện tích khu vực nằm giữa đường bình đẳng tuyệt đối và đường Lorenz
(diện tích hình A)
Lấy diện tích này chia cho phần tổng diện tích nằm dưới đường bình đẳng
tuyệt đối (diện tích hình A + B)
GINI =
Vì A+B = 0,5 (do đường bình đẳng tuyệt đối hợp với trục hoành một góc
45°), nên hệ số Gini: G = A/(0,5) = 2A = 1-2B.
Để hiểu rõ cách tính hệ số GINI chúng ta cùng xét một ví dụ: Một quốc gia
có 10 người có mức thu nhập hàng năm (triệu VNĐ) lần lượt là: 3,6,2,8,4,9,1,7,10
và 5. Vẽ đường cong Lorenz và tính hệ số GINI.
Ta có bảng
Thu nhập Phần trăm dân
số cộng dồn
Phần trăm thu
nhập cộng dồn
1
2 20% 5,5%
3
4 40% 18,2%
5
12
6 60% 38,2%
7
8 80% 65,5%
9
10 100% 100%
Ở đây hệ số GINI = =2 diện tích (A) = 1 – 2 diện tích (B)
Diện tích (B) = Diện tích (1+2+3+4+5)
Diện tích (B) =
Diện tích (B)= 0,3548
thuyết này cho thấy sự thay thế của tích lũy vốn vật chất của vốn con người, tích
lũy như là động cơ chính của tăng trưởng kinh tế đã thay đổi ảnh hưởng đến chất
lượng của sự bất bình đẳng về quá trình phát triển. Trong giai đoạn đầu công
nghiệp hoá, như vốn vật chất tích lũy là một nguồn chính của tăng trưởng kinh tế,
bất bình đẳng tăng cường quá trình phát triển bởi các nguồn lực đối với cá nhân
có xu hướng biên để tiết kiệm cao hơn. Trong giai đoạn sau của sự phát triển, tuy
nhiên, như vốn vật chất tích lũy, nhu cầu về tăng vốn con người (do kỹ năng vốn
bổ sung) và vốn con người trở thành nguyên tố động cơ của tăng trưởng kinh tế.
Khi lợi thế trước mắt từ việc đầu tư vào khai thác các nguồn lực tự
nhiên dần mất đi thì lợi thế lâu dài từ việc đầu tư vào nguồn lực con người cũng lộ
rõ. Đặc biệt khi cuộc cách mạng khoa học,công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, khi
mà nền kinh tế thế giới đã và đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực
con người, nguồn lực trí tuệ càng được thừa nhận vai trò trung tâm trong quá
trình phát triến. Cụ thể như Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapo là những quốc gia
không được ông trời ưu ái về tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên họ lại là những
người cần cù sáng tạo, có tri thức và được giáo dục hợp lí. Vì lẽ đó mà các quốc gia
này trở nên là những trung tâm kinh tế của châu Á. Về mặt kinh tế, nguồn lực con
người xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, cả
14
trong hiện tại và tương lai. Nó chủ yếu cần được quan tâm về mặt chất lượng con
người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất
tức là toàn bộ năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Vai
trò của người lao động được V.I.Lênin nhấn mạnh là lực lượng sản xuất hàng đầu
của nhân loại. Con người là một đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất. Nếu
người lao động có kỹ năng lao động, trình độ khoa học - kĩ thuật thì hiển nhiên là
năng suất lao động sẽ cao hơn. Người lao động cần được trang bị kỹ năng lao
động, sự hiểu biết, trình độ về khoa học công nghệ. Đó là điều kiện thiết yếu nhằm
đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển công nghệ tiên tiến. Con người là chủ thể khai
thác, sử dụng các nguồn lực khác, chỉ khi kết hợp với con người, các nguồn lực
khác mới phát huy tác dụng. Mặt khác, con người lại là khách thể, là đối tượng
về nhà ở, trợ cấp, bảo hiểm, phúc lợi và rất nhiều tệ nạn xã hội có thể xảy ra.
Thêm nữa các nước này tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng cao cũng
bởi vì cơ chế quản lí kém và hầu hết là dưới sự chỉ đạo của nhà nước. Điều này
trái với sự phát triển của sự phân bố cơ cấu thành phần kinh tế. Xét về nguồn gốc
thì có 2 loại hình sở hữu là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân, nhìn chung các
nước phát triển và xu hướng ở các nước đang phát triển, khu vực kinh tế tư nhân
thường chiếm tỷ trọng cao và nền kinh tế phát triển theo con đường tư nhân hóa.
Qua đó chúng ta thấy được sự liên quan giữa sự bất bình đẳng xã hội và thể
chế kinh tế, qua đó nó đã điều tiết một cách không tích cực đối với cơ cấu kinh tế
ở những nước này.
1.4.3. Đối với sự phát triển xã hội
Sự phát triển của xã hội được đo bởi chỉ số phát triển con người HDI gồm
GDP đầu người trên năm, tỉ lệ người lớn biết chữ và tuổi thọ bình quân đầu người,
ngoài ra chúng còn được nhìn nhận bởi sự ổn định chính trị và thể chế.
Các khảo sát, thống kê hàng năm có thể cho thấy sự chênh lệch ở một
mức độ nào đó của các nhóm dân cư, ở nhiều góc độ: thu nhập, chi tiêu, giáo dục,
y tế Tuy nhiên, vẫn chưa có những nghiên cứu khảo sát cho thấy rõ hơn một bức
tranh thật sự về các tầng lớp xã hội. Ví dụ, các tầng lớp thu nhập cao nhất, hay
thấp nhất, hay trung bình, họ là ai? Cái gì đã dẫn đến sự phân tầng đó? Uy tín và
quyền lực trong xã hội của họ khác nhau như thế nào? Cơ hội tham gia sử dụng và
hưởng lợi từ các nguồn lực của đất nước có công bằng giữa các tầng lớp xã hội
không? Chỉ khi nào làm rõ được những vấn đề đó, mới biết điều gì thực sự tạo ra
bất bình đẳng cơ hội, mới có thể tìm ra cách thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng
đó, đưa đến một xã hội phát triển tiến bộ và bền vững hơn. Sự bất bình đẳng dẫn
tới phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, ngành nghề và giới tính một cách rõ rệt và
vì sự chênh lệch giàu nghèo này khiến đại bộ phận đa số đều trở thành nghèo đói.
Tuy nghèo đói là một nguyên nhân của sự kém phát triển tuy nhiên nghèo đói còn
là một cái bẫy khiến cho các nước nghèo càng nghèo thêm và các gia đình nghèo
càng ngày càng kiệt quệ. Tất cả các thế hệ đều cùng nhau chịu ảnh hưởng của sự
nghèo đói chi phối đó là trẻ em, thanh niên người già. Những lứa tuổi chịu nhiều
sự vắng mặt của thương mại, kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp, sự đảo ngược công
nghệ, sốc suất bất lợi, các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ, và các vấn đề xã hội
thanh thiếu niên.
2. Thực trạng bất bình đẳng phân phối trong sự phát triển kinh tế tại Việt
Nam
2.1.Thực trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập trong sự phát triển kinh
tế tại Việt Nam (sử dụng hệ số GINI làm thước đo)
2.1.1. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập chung của cả nước
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5
Chênh lệch
giữa nhóm 5 và
nhóm 1 (lần)
2002 107,7 178,3 251,0 370,5 872,9 8,1
2004 141,8 240,7 347,0 514,2 1182,3 8,3
17
2006 184,3 318,9 458,9 678,6 1541,7 8,4
2008 275,0 477,2 699,9 1067,4 2458,2 8,9
2010 369,4 668,8 1000,4 1490,1 3410,2 9,2
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Bảng 5 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo 5 nhóm thu nhập
của cả nước giai đoạn 2002 – 2010
Dựa vào bảng số liệu trên, ta tính được số liệu hệ số GINI của cả nước giai
đoạn 2002 – 2010 theo như cách tính đã trình bày ở mục như sau
Biểu đồ sự thay đổi hệ số GINI của cả nước giai đoạn 2002 - 2010
Trong giai đoạn 2002 - 2010, hệ số GINI chung của Việt Nam có xu hướng
tăng lên, từ 0,387 (2002) đến 0,398 (2010). Dù giá trị hệ số GINI vẫn đang trong
giới hạn an toàn của bất bình đẳng thu nhập nhưng việc tình trạng bất bình đẳng
thu nhập của Việt Nam thực sự đáng lưu ý.
2.1.2. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo khu vực thành thị, nông
thôn
Biểu đồ sự thay đổi của hệ số GINI khu vực thành thị, nông thôn
giai đoạn 2002 - 2010
Từ bảng số liệu và đồ thị ta có thể thấy thực trạng bất bình đẳng ở hai khu
vực thành thị và nông thôn đang có diễn biến rất khác nhau. Tại khu vực thành
thị, hệ số GINI có xu hướng giảm, từ 0,377 vào năm 2002 xuống còn 0,369 vào
năm 2010. Mặt khác, tình trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập ở khu vực nông
thôn lại gia tăng nhanh chóng, hệ số GINI tăng từ 0,327 (2002) lên đến 0,364
(2010).
2.1.3. Bất bình đẳng theo khu vực địa lý
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo 8 vùng địa lý được thể hiện
qua hai khía cạnh: Sự khác biệt về mức thu nhập giữa các nhóm thu nhập tại mỗi
vùng địa lý và tương quan bất bình đẳng giữa các vùng địa lý thông qua hệ số Gini.
Mức thu nhập bình quân tại mỗi khu vực địa lý của Việt Nam có thể được
phân loại thành 5 nhóm: Nghèo nhất, gần nghèo nhất, trung bình, gần giàu nhất
19
2002 2004 2006 2008 2010
Năm
0
0.05
0.1
0.15
0.2
0.25
0.3
0.35
0.4
Giá trị GINI
Thành thị
Nông thôn
và giàu nhất. Tỷ lệ nghèo luôn ở mức cao đối với nhóm đầu tiên bao gồm Tây Bắc,
Bảng 7 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo 5 nhóm thu nhập
ứng với 8 vùng trên cả nước năm 2010
2
Bất bình đẳng không chỉ xuất hiện trong chính mỗi khu vực địa lý, mà nó còn
thể hiện rõ rệt thông qua sự tương quan giữa các khu vực địa lý qua hệ số Gini.
Đơn vị tính: 1000VNĐ
Năm
2002
Năm
2004
Năm
2006
Năm
2008
Năm
2010
ĐB Sông Hồng 0.3606 0.361
6
0.3616 0.3785 0.3761
Đông Bắc 0.3367 0.360
3
0.3692 0.3847 0.3880
Tây Bắc 0.3407 0.349
4
0.3599 0.3722 0.3727
Bắc Trung Bộ 0.3308 0.330
4
0.3433 0.3439 0.3451
1
Nhữ Thị Mai Nhu, “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt
cho thấy bất bình đẳng ở 8 vùng này ở mức chấp nhận được, phù hợp với quy
định về bất bình đẳng của World Bank giành cho những nước đang phát triển là
từ 0.3 – 0.5.
Tóm lại, những phân tích trên đây đã cho thấy thực trạng bất bình đẳng thu
nhập của các nhóm dân cư theo vùng địa lý vẫn đang diễn ra và có xu hướng ngày
càng nới rộng.
2.1.4. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo giới tính
Theo Kết quả khảo sát mức sống dân cư 2010 của Tổng cục thống kê, ta có
được số liệu thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng phân theo 5 nhóm thu
nhập giai đoạn 2002 – 2010 với chủ hộ là nam và chủ hộ là nữ.
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5
Chênh lệch
giữa nhóm 5 và
nhóm 1 (lần)
2002 104,9 171,4 237,9 345,4 803,4 7,7
2004 138,1 231,3 329,2 482,2 1098,3 8,0
3
Tổng hợp tại: Tổng cục Thống Kê, “Kết quả khảo sát mức sống dân cư 2010”, NXB Thống kê, Trang 260,
Mục 5.6
21
2006 177,7 306 434,5 634 1431,6 8,1
2008 269,7 462,6 668,6 1009,7 2278 8,5
2010 359,5 642,8 953,3 1410,8 3243,4 9,0
Bảng 9 Thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng phân theo 5 nhóm thu
nhập giai đoạn 2002 – 2010 với chủ hộ giới tính nam
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5
Chênh lệch
giữa nhóm 5 và
nhóm 1 (lần)
2002 123,3 215,8 317 473,9 1101,5 8,9
Nă
m
GDP bình
quân
4
(Tỷ USD)
Hệ số
Gini
5
200
2
32.7 0.3870
200 38.9 0.3872
4
The World Bank: />5
Tổng hợp tại: Tổng cục Thống Kê, “Kết quả khảo sát mức sống dân cư 2010”, NXB Thống kê, Trang 260,
Mục 5.6
23
2002 2004 2006 2008 2010
Năm
0
0.05
0.1
0.15
0.2
0.25
0.3
0.35
0.4
0.45
Tại Việt Nam, kinh tế nông thôn vẫn còn chiếm một bộ phận khá lớn. Theo
số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2011, tỷ trọng dân số thành thị chỉ chiếm
30,57%, còn tỷ trọng dân số nông thôn chiếm 69,43%. Do sự bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập giữa nông thôn và thành thị, dòng di dân từ nông thôn ra
thành thị ngày càng tăng. Bởi vậy, chính phủ tăng cường thực hiện chính sách
công nghiệp hóa nông thôn, đô thị hóa, phát triển hệ thống công nghiệp, dịch vụ
nông thôn, làm cho tỷ trọng kinh tế thành thị tăng, dấn đến chuyển dịch cơ cấu
vùng kinh tế.
Không những vậy, với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu, tỷ
trọng nông nghiệp chiếm 22.02% tổng GDP của cả nước
7
, hiện nay, nền kinh tế
Việt Nam đang có xu hướng chuyển đổi theo xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp,
6
Trần Thùy, “Bất bình đẳng và tăng trưởng – Sự đánh đổi đắt giá? (P1)”, />binh-dang-va-tang-truong-su-danh-doi-dat-gia-p1-20121031082545114ca32.chn, dữ liệu cập nhật ngày 13/11/
2012.
7
Tổng cục Thống kê, dữ liệu cập
nhật ngày 13/11/2012
24
tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nền kinh tế chuyển dịch theo xu
hướng trên một phần là do sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các
nhóm ngành nghề, khiến người lao động có xu hướng tìm đến nhóm ngành nghề
có mức thu nhập cao hơn và ít bất bình đẳng hơn.
2.2.3. Mối quan hệ giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và sự phát
triển xã hội
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập khiến những nhu cầu xã hội cơ bản
hay chất lượng cao trên các lĩnh vực chủ yếu không giống nhau giữa cư dân trong
một nước. Những lợi ích từ tăng trưởng kinh tế không được phân phối đều trong
xã hội mà tập trung nhiều vào nhóm người giàu. Thống kê cho thấy, nhóm người