TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
TÊN ĐỀ TÀI: Hãy phân tích những bất ổn thường gặp hiện
nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại trên thế giới và
những ứng phó của ngân hàng trung ương đối với vấn đề này
Sinh viên thực hiện Mã sinh viên STT
Đào Thị Hằng( Nhóm trưởng) 1211510017 42
Nguyễn Thị Linh 1211510039 76
Trần Thị Hồng Ngọc 1211510050 89
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan
Hà Nội, 30 tháng 9 năm 2013
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
MỤC LỤC
A, Mở đầu
1) Lí do chọn đề tài:
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường mở, hệ thống các ngân hàng thương mại
trên khắp thế giới phát triển mạnh mẽ và đa dạng. Sự phát triển của các ngân
hang thương mại có tác động rất lớn đến nền kinh tế các nước đó cũng như trên
khắp thế giới.
Bên cạnh những thuận lợi có được, các Ngân hàng thương mại (NHTM) cũng
gặp không ít các bất ổn khó giải quyết.Nhưng nhờ có sự can thiệp của ngân
hàng Trung ương(NHTW), hệ tống ngân hàng các nước trên khắp thế giới đã
dần ổn định và phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu. Như
vậy hiện nay hệ thống các NHTM cũng như NHTW đóng vai trò hết sức quan
trọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế khu vực cũng như toàn cầu.
Trong quá trình tìm hiểu nhận thấy tính thiết thực và quan trọng của việc phân tích
bất ổn thường gặp của hệ thống các ngân hàng thương mại trên thế giới và cách
Không một loại hình doanh nghiệp nào mà không phải đối đầu với nguy cơ rủi ro
trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nhưng với các đặc điểm, đặc thù của ngân
hàng thương mại có thể kết luận hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ- tín
dụng của ngân hàng gặp phải nguy cơ rủi ro cao hơn cả. Người ta có thể khái quát
các loại rủi ro ( vấn đề bất ổn) của các ngân hàng thương mại như sau:
I. Rủi ro tín dụng (nợ xấu):
1) Khái niệm
Đó là loại rủi ro khi người vay không trả được nợ ngân hàng. Đây là loại rủi ro lớn
nhất, thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại nhiều nhất cho ngân hàng thương mại.
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng đầu tư. Thông
thường đối với các ngân hàng trên thế giới nó mang lại 2/3 phần thu nhập, còn ở
Việt Nam là 90% thu nhập của ngân hàng thương mại. Tuy mang lại nhiều thu nhập
nhưng trong lĩnh vực này nếu gặp rủi ro thì hậu quả sẽ rất lớn, nhiều khi dẫn đến sự
phá sản của một ngân hàng. “Các khoản tiền cho vay có xác suất vỡ nợ cao hơn các
Page 3
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
tài sản khác nên các ngân hàng thu được lợi tức cao nhất nhờ vào các món cho vay”.
Bất cứ một rủi ro nào của người đi vay đều có thể đưa đến rủi ro tín dụng cho ngân
hàng. Tín dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất lưu thông hàng
hóa, ngay cả những hoạt động phi sản xuất cũng không thể thiếu sự hỗ trợ của tín
dụng ngân hàng. Chính vì tín dụng ngân hàng tham gia vào mọi doanh nghiệp, mọi
ngành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế, mà mỗi ngành mỗi lĩnh vực kinh doanh lại có
tính đặc thù, có sự phức tạp riêng, có những rủi ro riêng nên rủi ro tín dụng của ngân
hàng mang tính tổng hợp và khả năng suất hiện là lớn hơn các ngành khác.
2) Các hình thức của rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trương hợp đối với nợ lãi và nợ gốc. Đó là việc
không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn
hoặc không thu đủ vốn. Tùy trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mục
theo dõi khác nhau như lãi treo hoặc nợ quá hạn. Khi không thu được lãi đúng
hạn ,nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ đưa vào mục lãi treo phát sinh. N ếu
lớn .Khách hàng gian lận hoặc khách hàng không gian lận
3.2) Khách hàng gian lận, cố ý lừa ngân hàng .
Điều này được thể hiện qua việc gian lận về số liệu,giấy tờ ,quyền sở hữu tài sản
.Doanh nghiệp có thể nộp báo cáo tài chính không chính xác,cố ý đưa ra số liệu sai
sự thật ,phản ánh không đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính
của đơn vị.Những món cho vay trên cơ sở nnhững thông tin giả như vậy dễ đưa đến
rủi ro cho ngân hàng .Bên cạnh đó lợi dụng khe hở về giấy tờ sở hữu tài sản ,doanh
nghiệp có thể đem thế chấp một tài sản ở nhiều ngân hàng khác nhau.Khi không thu
được nợ,các ngân hàng thương mại phát mãi tài sản thì mới biết bị lừa
Ngoài ra, khách hàng có thể gian lận ngân hàng thể hiện qua việc sử dụng vốn vay
không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng phương án đã
nêu nên không trả được nợ đúng hạn hoặc không trả được nợ. Doanh nghiệp có thể
vay vốn ngắn hạn nhưng lại dùng để mua sắm tài sản cố định và bất động sản. Việc
giá nhà đất đột ngột giảm xuống làm doanh nghiệp kinh doanh nhà đất bị thua lỗ
nặng không thể trả được nợ ngân hàng. Ngân hàng có phát mại tài sản thế chấp đi
nữa cũng không đủ khoản cho vay vì tài sản thế chấp cũng là nhà đất nên cũng giảm
giá trị.Việc khách hàng gian lận gây ra rủi ro cho ngân hàng còn thể hiện qua những
hoạt động của người đi vay có tư cách kém như cố tình không trả nợ ngân hàng hoặc
lừa đảo ngân hàng rồi bỏ trốn.
3.3) Khách hàng không gian lận
Không chỉ khi khách hàng có ý không tốt ngân hàng mới gặp rủi ro mà ngay cả khi
khách hàng đi vay có đủ tư cách, không có ý gian lận, ngân hàng vẫn có thể gặp rủi
ro tín dụng. Đó là khi khách hàng có trình độ kém, năng lực quản lý yếu, không có
Page 5
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
đầu óc kinh doanh nên không thể đưa phương án kinh doanh của mình đạt hiệu quả,
không thể đưa doanh nghiệp của mình thắng trong cạnh tranh nên việc trả nợ ngân
hàng là rất khó khăn.Ngoài ra, nếu doanh nghiệp bị lừa đảo trong kinh doanh hoặc
bạn hàng của doanh nghiệp gặp rủi ro thì ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc
thu nợ đúng hạn.Bên cạnh đó, nhiều nguyên nhân rủi ro khách quan như thiên tai,
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ bao gồm các chính sách về kinh tế, tài chính
tiền tệ, kinh tế đối ngoại Chỉ cần chính phủ thay đổi một trong các chính sách
trên, lập tức sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và người chịu tác động trực tiếp là các ngân hàng thương mại và hoạt động
kinh doanh của ngân hàng khác nhau luôn gắn bó mật thiết với hoạt động của các
doanh nghiệp. Chính vì vậy nếu chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đúng đằn
phù hợp với thực tiễn thì nó sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, nhưng ngược lại cũng sẽ kìm
hãm sự phát triển sản xuất kinh doanh làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn thậm
chí thua lỗ, phá sản.
b) Môi trường pháp lý:
Trong hoạt động kinh doanh, song song với hoạt động mang tính kĩ thuật nghiệp vụ
và các hoạt động mang tính pháp lý như kí kết hợp đồng kinh tế, đầu tư tài chính tín
dụng Tính pháp lý thể hiện ở các hoạt động kinh doanh luôn tiến hành dựa trên
các quy định pháp luật, hay ní cách khác bị giới hạn trong khuôn khổ pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố pháp lý là điều kiện đảm bảo cho
hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương
mại. Nhưng cũng chính vì vậy, nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh thiếu đồng
bộ cũng sẽ gây khó khăn, bất lợi cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo nên môi trường kinh doanh của các
doanh nghiệp đồng thời tạo nên môi trường cho vay của các ngân hàng thương mại.
Môi trường cho vay có ảnh hưởng, tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động tín
dụng, nó sẽ góp phần làm hạn chế hoặc tăng thêm rủi ro trong các hoạt động tín
dụng của các ngân hàng thương mại.
c) Nguyên nhân từ môi trường xã hội:
Những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới luôn có ảnh hưởng tới công
việc kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như của các ngân hàng. Ngày nay, cùng
với sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị giữa các nước đời sống kinh tế
thế giới cũng có nhiều biến đổi. Muốn phát triển kinh tế một cách toàn diện cần thực
Theo một khảo sát của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), kể từ khủng
hoảng tài chính năm 2008, nợ xấu của ngân hàng châu Âu tăng gấp đôi. Tổng nợ
xấu trong hệ thống ngân hàng châu Âu hiện là 1,05 nghìn tỷ euro (1,85 nghìn tỷ
USD), tăng 10% so với cuối năm 2011.
Trong đó, tình trạng nợ xấu đặc biệt tồi tệ ở các nước eurozone vốn bị ảnh hưởng
nghiêm trọng bởi bong bóng bất động sản và khủng hoảng nợ khu vực. Chỉ tính
riêng Hy Lạp, nợ xấu ngân hàng tăng gần 50% so với năm ngoái lên 40 tỷ euro, Tây
Ban Nha tăng 23% lên 136 tỷ euro, Italia tăng 37% lên 107 tỷ euro.
Đức, Anh và Pháp là các nước hiếm hoi mà nợ xấu ngân hàng không tăng kể từ năm
2010.
Do các nhà đầu tư không sẵn sàng tái cấp vốn và các chính phủ không thể bơm thêm
tiền nên các ngân hàng chỉ còn cách bán tài sản và giảm quy mô hoạt động để bù
đắp nợ xấu.
4.3) Nợ xấu” không phải là vấn đề mới trên thế giới, nhưng hiện Việt Nam đang
gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm xử lý. Hai cường quốc kinh tế Hoa Kỳ,
Trung Quốc đã từng “gánh” khoản nợ xấu cao ngất ngưởng. Hệ thống tài chính
ngân hàng rơi vào tình trạng báo động cao nhất và rất nhiều ngân hàng đã phải
“trả giá”.
Page 8
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
Cho “vay dưới chuẩn”: Lòng tham giống nhau. Theo ngân hàng Phát triển Châu Á –
ADB, năm 2003, Trung Quốc có bốn ngân hàng Thương mại (NHTM) quốc doanh
lớn nhất với tổng tài sản khoảng 15.200 tỷ nhân dân tệ (NDT), chiếm khoảng 55%
tổng tài sản của hệ thống tài chính.
Các “đại gia” làng tài chính đã cho vay tới 90% dư nợ của các công ty nhà nước và
tỏ ra khá thoải mái trong các khoản vay đầu tư bất động sản, chứng khoán.
Điều này không mấy khác so với tình trạng cho “vay dưới chuẩn” (vay với mức độ
rủi ro cao) của các ngân hàng ở Hoa Kỳ giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế tài
chính 2008.
Việc các ngân hàng Trung Quốc phải gánh nhiều khoản vay khó đòi xuất phát từ các
lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên, trong khi lãi suất cho vay và
đầu tư dài hạn không đổi.
▪ Trường hợp 2: Kỳ hạn của tài sản có nhỏ hơn kỳ hạn của tài sản nợ: Ngân hàng
huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay, đầu tư kỳ ngắn hạn. Rủi ro sẽ trở thành sự
thật nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi, trong khi lãi suất
cho vay và đầu tư giảm xuống.
+ Do các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động
vốn và cho vay:
▪ Trường hợp 1: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định để cho vay, đầu tư với
lãi suất biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ thực hiện vì chi phí lãi không
đổi trong khi thu nhập lại giảm, do đó lợi nhuận của ngân hàng giảm.
▪ Trường hợp 2: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi để cho vay, đầu tư
với lãi suất cố định. Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi tăng
theo lãi suất thị trường, trong khi thu nhập lãi không đổi, do đó lợi nhuận của ngân
hàng giảm.
+ Do không có sự phù hợp về khối lượng giữa nguồn huy động với việc sử dụng
nguồn vốn đó để cho vay.
+ Do không có sự phù hợp về thời hạn giữa nguồn vốn huy động được với việc sử
dụng nguồn vốn đó để cho vay.
+ Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế, dẫn đến vốn
của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay.
+ Ngoài ra, khi lãi suất trên thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro
giảm giá trị tài sản.
3) Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động ngân hàng:
Từ những nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất nêu trên, có thể thấy những ảnh
hưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như sau:
• Rủi ro lãi suất làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng
• Rủi ro lãi suất làm giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng
Page 10
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
sự. Các ngân hàng quốc tế và khu vực cũng đã cắt giảm tín dụng đối với các ngân
hàng này do sợ rằng mình không được bảo đảm an toàn bởi mạng an toàn nhà nước.
Trong khi đó, cổ đông lớn của các ngân hàng nhà nước lớn cũng quan ngại rằng sẽ
bị yêu cầu tiếp nhận các ngân hàng yếu kém hơn như trường hợp của Nhật Bản.Một
hậu quả khác của việc tự do hóa lãi suất sẽ là chi phí cho vay tăng cao đối với hầu
hết người đi vay. Về dài hạn, điều này là có lợi vì khi chi phí vay vố nđắt hơn, vốn
sẽ được phân bổ cẩn thận hơn.Tuy nhiên không may cho Trung Quốc là việc tăng lãi
suất lần này đến đúng lúc mà tình trạng tài chính của các công ty Trung Quốc đang
xấu đi. Theo phân tích của hang Forensic Asia thì rất nhiều công ty – trong đó có cả
các công ty niêm yết đang phải oằn mình gánh các khoản nợ do dòng tiền hoạt động
suy giảm trong khi các khoản phải thu cũng ngày một tăng lên. Vấn đề nợ chồng
Page 11
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
chéo giữa các công ty đang có nguy cơ xuất hiện trở lại.Bản thân các ngân hàng
cũng đã chuẩn bị đối phó với vấn đề nợ xấu. Tính tới thời điểm hiện tại, tỷ lệ nợ xấu
(đã dự phòng rủi ro) là 1%. Tuy nhiên, tỷ lệ 1% này khó mà phản ánh hết tình hình
thực tế. Nhưng có các nhóm lợi ích quyền lực khác, ở vị trí cao hơn các ngân hàng
và phải chịu trách nhiệm cho vấn đề này. Nguồn thu chủ yếu của Bộ Tài chính là từ
các khoản thuế của ngân hàng và bất kỳ sự xóa nợ nào sẽ làm giảm nguồn thu thuế.
Central Huijin thuộc Tổng Công ty đầu tư Trung Quốc – tổ chức nắm giữ cổ phần
của Chính phủ trong các ngân hàng – cần có cổ tức mà các ngân hàng chi trả.
III. Rủi ro thanh khoản:
1) Khái niệm :
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy
đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với
chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng
thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc
không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền
gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Trong những trường hợp như vậy, thì ngân hàng phải
2) Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản:
+ Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và
định chế tài chính khác nhau, sau đó, chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư
dài hạn.Do đó, đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản
sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động , mà thường gặp nhất là
dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để chi trả tiền
gửi đến hạn.
+ Do ngân hàng nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư, nhất là các khoản tiền
gửi. Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng
để đầu tư vào nơi có tỉ suất lợi nhuận cao hơn , còn các khách hàng vay tiền sẽ tích
cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy, sự thay đổi lãi
suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế đó tác động đến tình
trạng thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, xu hướng về sự thay đổi của lãi suất còn
ảnh hưởn đến giá trị thị trường của các tài sản, mà ngân hàng có thể đem bán để
tăng them nguồn cung cấp thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay
mượn trên thị trường tiền tệ.
+ Do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả
: các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân
hàng không đủ chi cho nhu cầu chi trả.
+ Ngoài ra trong một số trường hợp ngân hàng gặp phải các rủi ro như bị tội phạm
công nghệ tấn cống, … làm cho người cho vay thấy thiếu an toàn về số tiền của
mình và đồng loạt đến rút tiền khỏi ngân hàng cũng gây ra rủi ro thanh khoản ở
ngân hàng đó.
3) Nhìn lại nguyên nhân rủi ro thanh khoản tại một số nước trên thế giới:
3.1) Rủi ro thanh khoản ở Anh- Thảm hoạ Northern Rock Bank.
Bước ngoặt dẫn tới kết cục buồn của Northern Rock đến vào năm 2006 khi ngân
hàng này mở rộng hoạt động sang lĩnh vực cho vay thế chấp bằng bất động sản với
đối tác là Lehman Brothers. Khủng hoảng thị trường nhà đất và tín dụng đã đẩy cả
hai gã khổng lồ tới bờ vực phá sản.
- Năm 2007, Northern Rock đưa ra dự báo lợi nhuận trước thuế sẽ giảm so với dự
dụng cho nhau, lãi suất tiền gửi tăng song khách hàng vẫn ồ ạt xếp hàng rồng rắn
bên ngoài các tòa nhà ngân hàng để chờ đến lượt rút tiền. Ngày 17/7/2004: Ngân
hàng Alfa, đại gia thứ 4 trong ngành tài chính Quyết định áp dụng biện pháp cấp
bách là phạt 10% số tiền nếu khách hàng rút trước thời hạn. Cùng lúc, báo chí
trích lời một cơ quan quản lý tài chính Nga tuyên bố 10 ngân hàng nữa có thể sẽ bị
đóng cửa trong nay mai. Tuy nhiên, một số phương tiện thông tin đại chúng lại tiết
lộ họ có trong tay danh sách đen 27 ngân hàng đang bên bờ vực phá sản. Ngày
18/7/2004: Thống đốc NH trung ương Sergei Ignatiev và tổng thống Putin tuyên
bố không hề có danh sách đen và khủng hoảng như vậy nhất thời là do tâm lý. Ông
Sergei Ignatiev Quyết định giảm các tỷ lệ dự trữ tiền mặt của các ngân hàng từ 7%
xuống 3,5% nhằm tăng khả năng thanh khoản, đồng thời áp dụng hàng loạt biện
pháp cứu Guta. Ngày 20/7/2004: Nhiều ngân hàng đã sụp đổ, người gửi tiền tràn
đến các nhà băng để rút tiền vì lo ngại cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 tái
diễn và họ sẽ mất những khoản tiền tiết kiệm dành dụm cả đời. Phản ứng của
chính phủ trong giai đoạn này là lên kế hoạch để Vneshtorgbank của nhà nước
mua lại Ngân hàng Guta. Ngày 27/7/2004: Phó chủ tịch Ủy ban tài chính Duma
Pavel Medvedv tuyên bố trong tuần, các ngân hàng sẽ thoát khỏi tình trạng tồi tệ
hiện nay.
Vậy nguyên nhân của tình trạng mất khả năng thanh khoản của các ngân hàng Nga
Page 14
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
là do đâu? Theo các chuyên gia, khủng hoảng rất dễ xảy ra bởi Nga hiện có quá
nhiều ngân hàng, trong đó phần lớn là tổ chức tài chính nhỏ tồn tại bằng các hoạt
động bất hợp pháp; Các ngân hàng có vốn sở hữu quá nhỏ bé, 90% ngân hàng ở
đây có số vốn dưới 10 triệu USD; Ngoài biện pháp giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt các
cơ quan quản lý tài chính của Nga chưa đưa ra được biện pháp có hiệu quả nào để
giải quyết vấn đề.
3.3) Một số vấn đề về tội phạm công nghệ:
a) Nga thiệt hại hơn 600 triệu USD do tội phạm mạng
Trong năm 2012, tội phạm mạng đã gây thiệt hại 615 triệu USD cho người dân
Page 15
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
3) Ví dụ về rủi ro tỷ giá hối đoái:
Chẳng hạn, hiện nay Ngân hàng Dự Trữ Liên Bang Mỹ đã hạ lãi suất xuống mức
thấp nhất chỉ còn 1,25%/năm. Đây là cơ hội hiếm có cho các doanh nghiệp Việt
Nam có thể vay vốn ngoại tệ với chi phí rẽ. Tuy nhiên, nếu vay USD trong thời gian
tương đối dài với số lượng lớn, doanh nghiệp cần lưu ý tác động của yếu tố rủi ro tỷ
giá.
Ví dụ công ty Giadimex đang thương lượng xin vay vốn tài trợ xuất khẩu của HSBC
số tiền 3 triệu USD để thu mua và chế biến hàng xuất khẩu. Hiện tại do lãi suất USD
trên thị trường giảm nên HSBC đồng ý cho Giadimex vay với lãi suất 3%/năm trong
thời hạn 6 tháng. Hiện tại tỷ giá USD/VND = 15.381. Sáu tháng sau khi nợ đáo hạn,
tỷ giá USD/VND là bao nhiêu công ty chưa biết, do đó, công ty đối mặt với rủi ro tỷ
giá nếu ký kết hợp đồng vay vốn này. Công ty ước tính, sáu tháng sau phải trả nợ cả
gốc và lãi là 3(1+ 0,03 x 6/12) = 3,045 triệu USD. Với tỷ giá hiện tại công ty phải
bỏ ra 3,045 x 15.381 = 46.835,145 triệu VND trả nợ và lãi. Nhưng nếu sáu tháng
sau tỷ giá USD/VND = 15.481 thì cứ mỗi USD phải trả công ty phải bỏ thêm
100VND, tổng chi phí trả nợ và lãi sẽ lên đến 3,045 x 15481 = 47.139,645 triệu
VND, tăng 47.139,645 – 46.835,145 = 304,5 triệu VND so với ước tính.
V. Rủi ro sở hữu chéo:
1) Khái quát về sở hữu chéo
1.1) Thâu tóm ngân hàng, nợ xấu và tăng vốn ảo là 3 rủi ro lớn xuất
phát từ sở hữu chéo trong hoạt động ngân hàng.
Có 3 rủi ro lớn xuất phát từ sở hữu chéo trong hoạt động ngân hàng đã được Tiến sĩ
Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nêu
ra. Đó là thâu tóm ngân hàng, nợ xấu và tăng vốn ảo, từ đó dẫn đến rủi ro mang tính
hệ thống.
Sở hữu chéo xuất hiện khi một công ty A hay nhà đầu tư A đầu tư vào công ty B,
sau đó công ty B đầu tư lại vào công ty A hoặc cả công ty A lẫn B đầu tư vào công
ty C. Sau đó công ty C đầu tư ngược trở lại vào công ty A và công ty B. Có thể hiểu
mối quan hệ lằng nhằng của sở hữu chéo.Các ngân hàng cũng có thể đầu tư chéo
vào nhau, nắm cổ phần của nhau, qua đó giúp nhau nâng vốn điều lệ một cách
nhanh chóng.
Điều này có thể đã xảy ra ở Việt Nam nếu quan sát 2 điểm. Thứ nhất là những vụ
việc gần đây và dòng tiền đầu tư của các ngân hàng thương mại. Thứ hai là trong
thời gian quá ngắn, họ lại có được số vốn rất lớn để tăng vốn điều lệ. Đây là vốn sở
hữu của ngân hàng. Điều đó cho thấy vốn ảo là có thực trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam.
Điều này nguy hiểm ở chỗ, sở hữu chéo làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệ
thống ngân hàng, vì có rất nhiều chỉ số dựa trên số vốn sở hữu mà ngân hàng đang
nắm, trong khi vốn đó là vốn ảo. Các chỉ số không chính xác sẽ dẫn đến những sai
lệch, cả về quản trị ngân hàng lẫn giám sát hệ thống tài chính.Chắc chắn là có rủi ro,
vì sở hữu chéo giảm tính minh bạch, giảm khả năng giám sát và tăng khả năng đổ
vỡ của một định chế tài chính. Khi đó người gửi tiền sẽ chịu thiệt hại.
Kinh nghiệm của các nước vào những thời điểm khủng hoảng, cần cải tổ hệ thống
tài chính cho thấy, họ đều nâng mạnh số tiền bảo hiểm, thậm chí bảo hiểm 100% giá
trị khoản tiền gửi. Điều này là để có được sự ổn định trong quá trình tái cấu trúc hay
cải cách để làm lành mạnh hệ thống ngân hàng. Ở nhiều nước trong giai đoạn khủng
hoảng 2008-2009, bảo hiểm tiền gửi đã giúp tránh được tình trạng người dân quá lo
lắng, ồ ạt đến ngân hàng rút tiền.
Như vậy, trong điều kiện bình thường, cần phải có một tỉ lệ bảo hiểm tiền gửi nhất
định, nhưng vẫn phải đảm bảo rằng, nếu một ngân hàng làm ăn kém thì ngân hàng
Page 17
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
đó phải chấp nhận phá sản. Còn trong khủng hoảng mà cần tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng, có thể buộc phải chấp nhận mức bảo hiểm tiền gửi rất cao, thậm chí là
100% giá trị khoản tiền gửi.
Nếu sở hữu chéo nằm trong hoạt động sản xuất kinh doanh thực, hoạt động phi tài
chính, trong một chừng mực nhất định nào đó, nếu năng lực tài chính và quản trị của
doanh nghiệp tốt thì sở hữu chéo có thể tạo ra những lợi thế nhất định trong kinh
người ủng hộ họ vẫn còn nắm giữ các vị trí quản lý tại các Cty con, vì thế họ đương
nhiên sẽ trúng cử trong đại hội cổ đông. Thêm nữa là tình trạng không phân định rõ
ràng chức năng quản trị của Hội đồng quản trị (HĐQT) với chức năng quản lý của
Page 18
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
Ban điều hành và thiếu tính minh bạch trong quản lý DN. Cho đến năm 1997,
HĐQT của tất cả các Cty niêm yết chỉ bao gồm những “người trong cuộc” và họ có
quyền chỉ định kiểm toán viên bên ngoài. Vì thế, tính độc lập của các kiểm toán viên
bên ngoài luôn là một vấn đề gây nhiều nghi vấn.
Sau cuộc khủng hoảng 1997, Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc đã buộc các Cty
muốn niêm yết phải có tối thiểu là 1/4 thành viên của HĐQT là các thành viên độc
lập từ bên ngoài. Đồng thời, phải thành lập một uỷ ban bao gồm cả kiểm toán viên
nội bộ, thành viên độc lập từ bên ngoài và các chủ nợ để lựa chọn (hoặc gợi ý lựa
chọn) kiểm toán viên bên ngoài nhằm tăng thêm tính minh bạch cho hoạt động kiểm
toán.
Thứ hai, sự thiếu lành mạnh trong cơ cấu vốn của các chaebol: Chính tình trạng sở
hữu chéo cộng với sự quản lý trực tiếp từ gia đình sáng lập gần như không tạo ra
một cơ chế điều hành hiệu quả. Các Cty hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ phải trợ
cấp cho các Cty hoạt động không hiệu quả trong nội bộ chaebol thông qua hoạt
động đầu tư và bảo lãnh chéo. Vấn đề “giải quyết nội bộ” như vậy khiến cho các
Cty mạnh bị yếu đi và trên bình diện chung gây nên tình trạng thiếu lành mạnh về
cơ cấu vốn, thậm chí tạo nên dòng “vốn ảo”.
Khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 đã cho thấy một trong những nguyên nhân
dẫn đến nợ xấu là việc các Cty gia đình này nắm quyền kiểm soát ở các NHTM và
sử dụng những NHTM này tài trợ cho các dự án của mình và các Cty có liên quan.
Vì thế, sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã cấm ngay các tập đoàn không được đầu tư
vào các lĩnh vực khác.
VI. Rủi ro nguồn vốn:
1) Khái niệm:
Rủi ro về nguồn vốn thường xẩy ra dưới hai hình thức: rủi ro thiếu vốn và rủi ro
vốn thì khả năng xấu nhất của một doanh nghiệp có thể xảy ra.
VII. Rủi ro đạo đức :
1) Khái quát :
Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc biệt, nhạy cảm, gắn chặt với tiền, và luôn đối
mặt với nhiều rủi ro. Trong các vấn đề rủi ro, dường như rủi ro đạo đức đang là
nguy cơ ngày càng lớn đối với ngân hàng
Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sử dụng để chỉ một
loại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái. Rủi ro đạo đức là
một kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin phi đối xứng.
Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, theo nhà kinh tế học Paul Krugman, rủi ro đạo
đức được hiểu là “trường hợp khi một bên đưa ra các quyết định liên quan tới mức
độ chấp nhận rủi ro, trong khi bên kia phải chịu tổn thất nếu các quyết định đó thất
bại” (Paul, 2009).
Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phi
đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo
hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế
thông tin. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro đạo đức nảy sinh từ chính
hoạt động kinh doanh của ngân hàng và khách hàng sử dụng vốn của các ngân hàng
thương mại (NHTM). Hậu quả của rủi ro đạo đức do hai chủ thể này gây nên lại do
người gửi tiền vào ngân hàng và chính ngân hàng đó gánh chịu.
Page 20
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
Khi nhắc tới rủi ro đạo đức trong nghành ngân hàng, tín dụng là bộ phận hay được
nhắc tới nhất. Đây là những cán bộ trực tiếp làm việc với khách hàng, thẩm định hồ
sơ, ra phán quyết tín dụng. Điều này có thể chứng minh khi những thông tin khởi tố
các cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng các ngân hàng liên tục trên các mặt báo vì
những hành vi sai phạm của mình. Các hành vi phổ biến như thiếu trách nhiệm
trong thẩm định, cấu kết với khách hàng, ăn chia hoa hồng trên số tiền vay được,
liên kết với nhau để vay mượn lòng vòng, thậm chí là vay ké của khách hàng…
2) Ví dụ về rủi ro đạo đức:
“mở đường” cho tính thiếu trung thực. Trong những năm ngành ngân hàng bùng nổ,
thù lao của các nhân viên ngân hàng tăng vọt do doanh thu tăng trưởng mạnh và
cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các ông lớn và những kẻ "sinh sau đẻ muộn" đầy
tham vọng. Tốc độ tăng trưởng thần kỳ của Barclays sau khi mua lại một phần
Lehman Brothers là một trường hợp điển hình.
Động thái hối thúc các ngân hàng cắt giảm thưởng cho nhân viên của các nhà làm
luật là rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, các qui định này cần được mở rộng áp
dụng với cả những nhân viên ở cấp thấp hơn – bộ phận có nguy cơ phạm tội cao
nhất.
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ngày càng trầm trọng, các ngân hàng đang tự
rút ra bài học từ chính những lỗi lầm trong quá khứ. Lấy HSBC là một ví dụ, ngân
hàng này đã thay đổi hoàn toàn chiến lược kinh doanh trên toàn cầu với các tiêu
chuẩn áp dụng chặt chẽ hơn.
Đã có nhiều ý kiến cho rằng các ngân hàng nên quay về với mô hình ban đầu, khi
lương thưởng của nhân viên phải gắn với những rủi ro mà họ gặp phải chứ không
phải chỉ dựa vào các hợp đồng mà họ kí được như hiện nay. Ngược lại, không ít
người cho rằng mô hình này sẽ là một bước lùi và khiến tăng trưởng kinh tế bị xói
mòn. Tuy nhiên, sự bền vững trong tương lai mới là điều quan trọng nhất.
VIII. Một số rủi ro khác:
1) Rủi ro thuần túy:
Đó là loại rủi ro do thiên tai gây ra như bão lụt, động đất, hoả hoạn, hoặc các rủi ro
do bị trộm cắp, lừa đảo, tệ nạn tham nhũng dẫn đến thiệt hại nặng nề về tài sản cho
ngân hàng. Tuy nhiên bằng các biện pháp bảo hiểm và bảo vệ sẽ phần nào hạn chế
được những thiệt hại khi rủi ro này xảy ra.
2) Rủi ro hệ thống:
Là rủi ro có thể xảy ra như nhập dữ liệu sai, kiểm soát thay đổi kém, kiểm soát dự
án kém, lỗi lập trình, lỗi dịch vụ, an ninh hệ thống, sự không phù hợp của hệ
thống….
Ví dụ: Trường hợp của 1 chủ thẻ do rút tiền tại ATM của 3 ngân hàng khách với
ngân hàng phát hành, số tiền thực tế rút là 2 triệu VND nhưng do lỗi hệ thống tài
chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. Để cho giá trị đồng
tiền được ổn định, nó đòi hỏi việc phát hành tiền phải tuân theo những nguyên tắc
nghiêm ngặt. Các nguyên tắc đó là :
• Phát hành tiền dựa vào dựa trữ vàng đảm bảo
• Phát hành tiền có đảm bảo bằng hàng hóa
2.2) Chức năng ngân hàng của các ngân hàng
Là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW thực hiện một số nghiệp vụ sau đây :
• Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các NHTM :
+ tiền gửi dự trữ bắt buộc
+ tiền gửi thanh toán
• Cho vay đối với các NHTM :
+ bổ sung vốn khả dụng cho NHTM
+ Cứu nguy cho các NHTM ( cho người vay vốn cuối cùng)
• Tổ chức thanh toán bù trừ giữa các NHTM
2.3) Chức năng NHTW là ngân hàng của nhà nước
Page 23
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
Nói chung NHTW đa số là ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước, được thành lập và
hoạt động theo pháp luật. Ở đây, NHTW thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau :
• Nhận tiền gửi của kho bạc
• Bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ
• Cho chính phủ vay khi cần thiết
2.4) Chức năng QLNN về lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
Đó là các chức năng sau :
• Quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
+ xây dựng thực thi CSTT
+ phê duyệt , cấp phép và quy định quy chế hoạt động của các NHTM
+ đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng
+thanh tra kiểm tra hoạt động của hệ thống ngân hàng
• Tư vấn và làm đại lý , đại diện cho chính phủ
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Tài chính- tiền tệ
mô. Vì vậy NHTW cần quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của các NHTM nhằm ngăn
chặn và giảm thiếu tối đa rủi ro có thể xảy ra. Một số hoạt động trong quản lý nhà
nước của NHTW là:
1) Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng của NHTW
Thống đốc NHTW có chỉ thị yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai ngay những
biện pháp nhằm tăng cường phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Trong đó, NHTW yêu cầu các tổ chức tín dụng phân tích, đánh giá các rủi ro có thể
xảy ra trong từng quy trình nghiệp vụ để triển khai ngay các biện pháp phòng ngừa,
ngăn chặn rủi ro đồng thời rà soát, lựa chọn cán bộ có năng lực, trình độ , phẩm chất
đạo đức để thực hiện các hoạt đông nghiệp vụ. Và NHTW các quốc gia đã có các
biện pháp cụ thể để hạn chế rủi ro tín dụng như sau :
1.1) Quản lý,giám sát, thanh tra chặt chẽ các NHTM
Nhằm đảm bảo các NHTM khi được cấp phép có khả năng hoạt động an toàn.
NHTW quy định các điều kiện tiêu chuẩn như : năng lực quản trị, hệ thống kiểm
tra, kiểm toán nội bộ, hệ thống công nghệ thông tin, một số chức danh lãnh đạo, tổ
chức bộ máy, vốn pháp định…
Ví dụ như : Ở Việt Nam một NHTM muốn thành lập thì phải có vốn pháp định tối
thiểu là 3000 tỉ đồng
Các quy định này nhằm loại những ngân hang không đáp ứng được tiêu chuẩn an
toàn và bảo vệ khách hang. Do đó, đây là khâu đầu tiên trong hoạt động quản lý,
tiếp đó là các công tác thanh tra, giám sát….
Page 25