BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN
Môn tài chính ngân hàng và
sự phát triển kinh tế
Đề tài :
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Gi¶ng viªn híng dÉn : TS. Đặng Anh Tuấn
Nhãm thùc hiÖn : Nhóm 9
Líp : CH 19A
Hà Nội - 2011
DANH SÁCH NHÓM 9:
1. Dương Kiều Anh
2. Nguyễn Thị Kim Dung
3. Lê Thị Như Quỳnh
4. Trần Văn Đức
5. Nguyễn Thuỳ Dương
6. Yommalalachanthavong
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ đầu năm 2000. Tuy mới đi vào
hoạt động hơn 10 năm song thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều giai
đoạn thăng trầm của thị trường: từ giai đoạn chập chững biết đi (2000 – 2005) đến
sự phát triển đột phá của thị trường vào năm 2006 và sự bùng nổ năm 2007, tiếp đó
là sự sụt giảm của thị trường chứng khoán từ năm 2008 đến nay. Nguyên nhân của
những biến động này là do đâu? Những thành tựu đã đạt được? Có nên phát triển
tiếp thị trường chứng khoán hay không? Nếu có thì chúng ta phải thực hiện những
giải pháp nào để phát triển thị trường chứng khoán bền vững….
chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc cho mọi thành viên tham gia “thị
trường”.
Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 ở Bruges (Bỉ), tại đó có một
bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch thị
trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”.
Vào năm 1547, thành phố ở Bruges (Bỉ) mất đi sự phồn thịnh do eo biển
Even bị lấp cát nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và chuyển qua thị trấn
Auvers (Bỉ), ở đây thị trường phát triển rất nhanh và giữa thế kỷ XVI một quan
chức đại thần của Anh quốc đã đến quan sát và thiết lập một mậu dịch thị trường tại
London (Anh), nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán London. Các
mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu.
Sự phát triển thị trường ngày càng mạnh cả về lượng và chất với số thành
viên tham gia đông đảo và nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy, theo tính chất tự
nhiên nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao
dịch hàng hóa, thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và
thị trường chứng khoán … với đặc tính riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao
dịch của người tham gia trong đó.
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký
hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Cho đến năm 1921,
ở Mỹ, khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán
chính thức được thành lập. Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa
học kỹ thuật, các phương thức giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán cũng đã
5
được cải tiến theo tốc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất
lượng cho các giao dịch. Các Sở giao dịch dần dần sử dụng máy tính để truyền các
lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử
dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử.
Cho đến nay, các nước trên thế giới đã có khoảng trên 160 sở giao dịch
chứng khoán phân tán trêm khắp các châu lục. Ngày nay, NYSE, AMEX,
NASDAQ và hàng trăm các thị trường chứng khoán khác đã góp phần đáng kể vào
chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ
cấp hay thị trường thứ cấp, tại sở giao dịch hay thị trường chứng khoán phi tập
trung, ở thị trường giao ngay hay thị trường có kỳ hạn. Các quan hệ trao đổi này
làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây là quá trình
vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá khác vì
hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu
về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Như vậy có thể nói,
bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung
và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi
phí vốn hay giá của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc
cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Vai trò của thị trường chứng khoán
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), của liên minh Châu Âu, của các khối thị trường
chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả
cao. Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò
quan trọng của thị trường chứng khoán trong phát triển kinh tế:
Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ tài chính có
tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn
của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế.
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc
phân phối vốn một cách có hiệu quả. Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp dụng
công nghệ mới và nhạy cảm với môi trường thường xuyên thay đổi. Thực tế trên thị
7
trường chứng khoán, tất cả các thông tin được cập nhật và được chuyển tải tởi tất
cả các nhà đầu tư, nhờ đó, họ có thể phân tích và định giá cho các chứng khoán. Chỉ
những công ty có hiệu quả và bền vững mới có thể nhận được vốn với chi phí rẻ
trên thị trường.
mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước.
Hàn Quốc, Singapore, Thailand, Malaysia là những minh chứng điển hình
về việc tận dụng các cơ hội do thị trường chứng khoán mang lại. Tuy nhiên, chúng
ta cũng phải xem xét các tác động tiêu cực có thể xảy ra như việc tăng cung tiền quá
mức, áp lực của lạm phát, vấn đề chảy máu vốn, hoặc sự thâu tóm của người nước
ngoài trên thị trường chứng khoán.
Thứ năm, thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho chính phủ huy động các
nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho
việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu
kỳ kinh doanh trong tương lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước
chu kỳ kinh doanh cho phép chính phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu
tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ. Thị trường chứng khoán cũng tạo
điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên đây, thị trường chứng khoán cũng có
những tác động tiêu cực nhất định. Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở
thông tin hoàn hảo. Song ở các thị trường mới nổi, thông tin được chuyển đổi tới
các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau. Việc quyết định giá cả, mua
bán chứng khoán của các nhà đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và xử lý thông
tin. Như vậy giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty
và không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn lực .
Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán thể hiện trên nhiều khía cạnh
khác nhau. Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán có thực sự
phát huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị trường và sự
quản lý của nhà nước.
3. Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hóa trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm tra
trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hóa thông thường mà phải dựa trên cơ
9
10
- Đấu giá trực tiếp: Các nhà môi giới chứng khoán trực tiếp gặp nhau thông
qua người trung gian (một chuyên gia chứng khoán) tại quầy giao dịch để thương
lượng.
- Đấu giá gián tiếp: Các nhà môi giới thương lượng giá qua điện thoại, mạng
máy tính.
- Đấu giá tự động: là hình thức đấu giá qua hệ thống máy tính nối giữa máy
chủ của sở giao dịch với hệ thống máy của công ty chứng khoán thành viên. Các
lệnh mua, bán được truyền đến máy chủ, máy chủ tự động khớp các lệnh mua – bán
có giá phù hợp và thông báo kết quả cho những công ty chứng khoán có các lệnh
đặt hàng được thực hiện.
Căn cứ vào phương thức đấu giá, có đấu giá định kỳ và đấu giá liên tục:
- Đấu giá định kỳ: là hệ thống trong đó các giao dịch chứng khoán được tiến
hành tại một mức giá duy nhất bằng cách tập hợp tất cả các đơn đặt hàng mua và
bán trong một khoảng thời gian nhất định.
- Đấu giá liên tục: là hệ thống trong đó việc mua bán chứng khoán được tiến
hành liên tục bằng cách phối hợp các đơn đặt hàng của khách hàng ngay khi có các
đơn đặt hàng có thể phối hợp được.
Khi thực hiện nguyên tắc đấu giá bao giờ cũng phải tuân thủ theo các thứ tự
ưu tiên về giá (giá đặt mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất), về thời gian, về
khách hàng (ưu tiên các nhà đầu tư cá nhân trước), về quy mô lệnh (cùng một mức
giá, ưu tiên các lệnh có khối lượng lớn hơn).
4. Các chủ thể tham gia thị trường
Các cá nhân và tổ chức tham gia TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau:
nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
Nhà phát hành:
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chưng khoán- hàng hóa của thị
trường chứng khoán. Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các doanh nghiệp
và một số tổ chức khác như: Quỹ đầu tư, tổ chức tài chính trung gian
- Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể phát hành các chứng
phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán. Để
có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm bảo được một số
vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền.
12
b. Các ngân hàng thương mại
Tại một số nước, các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có để tăng
và đa dạng hóa lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán. Tuy nhiên các
ngân hàng chỉ được đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạn nhất định để bảo
vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán. Một số nước cho phép
ngân hàng thương mại thành lập công ty con độc lập kinh doanh chứng khoán và
thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
Các tổ chức có liên quan đến TTCK
a. Cơ quan quản lý nhà nước:
Cơ quan quản lý, giám sát TTCK được hình thành dưới nhiều mô hình hoạt
động khác nhau, có nước do các tổ chức tự quản thành lập, có nước cơ quan này
trực thuộc chính phủ, nhưng có nước lại có sự kết hợp quản lý giữa các tổ chức tự
quản và nhà nước. Nhưng nhìn chung cơ quan quản lý này do chính phủ của các
nước thành lập, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và bảo đảm cho
TTCK hoạt động lành mạnh, suôn sẻ và phát triển vững chắc. Cơ quan này có thể
có những tên gọi khác nhau, tùy thuộc từng nhà nước và nó được thành lập để thực
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là một cơ quan thuộc chính phủ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt Nam. Ủy ban Chứng khoán nhà
nước được thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996.
b. Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy
tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên sở giao dịch.
Ngoài ra, sở giao dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao
dịch chứng khoán trên sở, phù hợp với các quy định của luật pháp và ủy ban chứng
khoán.
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
a. Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các loại chứng khoán mới phát
hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành
thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
Vai trò của thị trường sơ cấp:
- Chứng khoán hóa nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động
qua việc phát hành chứng khoán
14
- Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính, trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn
rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn.
Đặc điểm của thị trường sơ cấp:
- Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho người
phát hành.
- Những người bán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là kho bạc,
ngân hàng nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành …
- Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định và
thường được in ngay trên chứng khoán.
b. Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã phát hành trên thị
trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán
đã phát hành.
Đặc điểm của thị trường thứ cấp:
- Trên thị trường thứ cấp các khoản thu được từ việc bán chứng khoán thuộc
về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát
hành.
- Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá
chứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định.
- Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể
mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp.
Căn cứ vào phương thức hoạt động của TTCK, TTCK được phân thành thị
trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC).
không trực tiếp điều hành và giám sát thị trường. Các cơ quan này có thẩm quyền
ban hành các quy định điều chỉnh các hoạt động trên TTCK tạo nên cơ sở cho các tổ
chức tự quản trực tiếp thực hiện chức năng điều hành và giám sát thị trường của
mình. Các cơ quan quản lý của chính phát phủ gồm có Ủy ban chứng khoán nhà
nước và một số bộ, ngành có liên quan như bộ tài chính, bộ tư pháp, ngân hàng nhà
nước…
Các tổ chức tự quản
Là các tổ chức hình thành cùng với sự phát triển của TTCK, thực hiện chức
năng điều hành và giám sát thị trường nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn thị
trường. Các tổ chức tự quản bao gồm: Sở giao dịch và hiệp hội các nhà kinh doanh
chứng khoán.
16
Các tổ chức tự quản thực hiện việc quản lý và giám sát thị trường trên cơ sở
tuân thủ các quy định của các cơ quan quản lý của chính phủ. Hoạt động điều hành
và giám sát thị trường của các tổ chức này bao gồm 3 bộ phận: Quản lý giám sát các
hoạt động giao dịch (bao gồm cả việc phát hành), quản lý và giám sát công ty chứng
khoán, giải quyết các tranh chấp và xử lý các trường hợp vi phạm.
II. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỨNG KHOÁN
1. Chứng khoán và việc phát hành chứng khoán
1.1 Khái niệm và đặc điểm của chứng khoán
Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác
định số vốn đầu tư( tư bản đầu tư); chứng khoán có xác nhận quyền sở hữu hoặc
quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một
thời hạn nào đó.
Thuật ngữ “giấy tờ có giá” có nghĩa rộng hơn là thuật ngữ là chứng khoán.
Chứng khoán là một tài sản tài chính có các đặc điểm cơ bản sau:
Tính thanh khoản( tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển tài
sản đó thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian
và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc sút giá trị của tài sản đó
do việc chuyển đổi. Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác
hoá là tổ chức được phép phát hành cả trái phiếu và cổ phiếu.
Thứ ba là các quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, được hình thành bằng
vốn góp của các nhà đầu để tiến hành đầu tư vào chứng khoán và các loại hình đầu
tư khác. Mục đích của thành lập quỹ đầu tư là tập hợp và thu hút những nhà đầu tư
nhỏ, lẻ tham gia kinh doanh.
b- Các phương thức phát hành chứng khoán
Thứ nhất: Phân loại theo đợt phát hành
Theo tiêu thức này, người ta phân chia phương thức phát hành thành phát
hành chứng khoán lần đầu và phát hành các đợt tiếp theo.
Thứ hai: Phân loại theo đối tượng mua bán chứng khoán
Theo đối tượng mua bán chứng khoán, phương thức phát hành được phân
chia thành:
18
Phát hành riêng lẻ: là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán trong
phạm vi một số người nhất định (thông thường là nhà đầu tư có tổ chức), với những
điều kiện hạn chế và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
Phát hành ra công chúng: là hình thức phát hành trong đó chứng khoán được
phát hành rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn các nhà đầu tư nhất định,
trong đó phải đảm bảo một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ. Ngoài ra tổng khối lượng
phát hành chứng khoán cũng phải đạt một tỷ lệ theo quy định.
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được cơ quan quản lý nhà
nước về chứng khoán cấp giấy phép hoặc chấp thuận. Sau khi phát hành trên thị
trường sơ cấp, chứng khoán sẽ được giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán khi đã
đáp ứng được các quy định về niêm yết chứng khoán của sở giao dịch chứng
khoán. Tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế độ
báo cáo, công bố thông tin công khai và chịu sự quản lý, giám sát riêng theo quy
định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Việc phát hành ra công chúng được phân biệt thành hai hình thức: phát hành
cổ phiếu ra công chúng và phát hành trái phiếu ra công chúng.
chức đấu giá sẽ đóng hòm và mở phiếu tham dự đấu giá, nhập từng lệnh của nhà
đầu tư (theo mã số) trên bảng điện tử. Giá đấu sẽ được tính từ cao xuống thấp.
Bước 4: Nhà đầu tư nếu chúng sẽ nộp phần tiền còn lại. Nếu không chúng sẽ
nhận tiền đặt cọc về. Bốn bước trên được tóm tắt trên hình sau:
Các bước đầu tư thông qua đấu giá cổ phiếu
(Đấu giá không thành công) (Đấu giá thành công)
b- Đầu tư thông qua đấu thầu trái phiếu
Khi tham gia đấu thầu nhà đầu tư thực hiện thông qua các bước sau:
20
Tìm hiểu thông tin về đợt đấu giá
đăng ký đấu giá
Tham gia đấu giá
Nhận tiền đặt cọc Nộp phần tiền còn lại
Bước 1: Tìm hiểu thông tin về đợt đấu thầu trái phiếu trên các trang website:
www.sse.gov.vn, www.hastc.org.vn, www.vse.org.vn,
Bước 2: Nộp tiền đặt cọc và nhận phiếu đấu thầu
Bước 3: Tham dự đấu thầu và bỏ thầu. Lãi suất bỏ thầu thấp sẽ trúng giá, bỏ lãi suất
cao sẽ không trúng giá. Các bước tham dự đấu thầu được thể hiện thông qua hình
sau:
1.3.2. Thị trường thứ cấp
a-Đầu tư thông qua thị trường niêm yết và đăng ký giao dịch
Đầu tư trên thị trường niêm yết (trung tâm GDCK HCM) và đăng ký giao
dịch (trung tâm GDCK HN) được thể hiện qua minh hoạ và các bước sau:
Các bước tham gia đầu tư trên thị trường niêm yết và đăng ký giao dịch
Bước 1: Các nhà đầu tư muốn mua bán chứng khoán trên hai trung tâm này phải
tuân thủ theo nguyên tắc trung gian: Tức là phải tiến hành mở tài khoản tại các công
ty chứng khoán là thành viên của trung tâm giao dịch, thông thường tất cả 14 công
ty chứng khoán hiện đang hoạt động trên thị trường đều là thành viên của hai trung
tâm giao dịch.
Bước 2: Nghiên cứu hồ sơ các công ty có trên thị trường để đầu tư: Có thể qua các
-Thiết lập quan hệ hợp đồng giữa SGDCK với tổ chức phát hành có chứng
khoán niêm yết, từ đó quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức phát hành
trong việc công bố thông tin, đảm bảo tính trung thực, công khai và công bằng.
- Nhằm mục đích hỗ trợ thị trường hoạt động ổn định, xây dựng lòng tin
của công chúng đối với thị trường chứng khoán bằng cách lựa chọn các chứng
khoán có chất lượng cao để giao dịch.
- Cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin về các tổ chức phát hành.
- Giúp cho việc xác định giá chứng khoán được công bằng trên thị trường
đấu giá vì thông qua việc niêm yết công khai, giá chứng khoán được hình thành dựa
trên sự tiếp xúc hiệu quả giữa cung và cầu chứng khoán.
* Vai trò của việc niêm yết chứng khoán đối với tổ chức phát hành
- Thuận lợi:
22
+ Công ty dễ dàng trong việc huy động vốn: Niêm yết nhằm mục đích huy
động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán. Công ty có thể thu hút vốn dài
hạn thông qua phát hành chứng khoán với chi phí thấp.
+ Tác động đến công chúng: Niêm yết góp phần “tô đẹp” thêm hình ảnh
của công ty trong các nhà đầu tư, các chủ nợ, người cung ứng,
+ Nâng cao tính thanh khoản cho các chứng khoán: Khi các chứng khoán
được niêm yết, chúng có thể nâng cao tính thanh khoản, mở rộng phạm vi chấp
nhận làm vật thế chấp và dễ dàng được sử dụng cho mục đích tài chính, thừa kế và
các mục đích khác.
+ Ưu đãi về thuế
- Hạn chế:
+ Nghĩa vụ báo cáo như là một công ty đại chúng: Công ty niêm yết phải có
nghĩa vụ công bố thông tin một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời liên quan đến các
mặt hoạt động của công ty cũng như các biến động có ảnh hưởng đến giá cả chứng
khoán niêm yết. Nghĩa vụ công bố thông tin đại chúng trong một số trường hợp làm
ảnh hưởng đến bí quyết, bí mật kinh doanh và gây phiền hà cho công ty.
+ Những cản trở trong thâu tóm và sáp nhập:
Đến tháng 2 năm 1974, các ý tưởng về vấn đề thành lập TTCK lại được đề
cập bởi bản phúc trỡnh về TTCK Việt Nam của Ngõn Hàng quốc gia Việt nam. Vào
thời gian này Tiến sỹ N.Robbins Đại học Columbia đó tỏc động với ông Nguyễn
Bích Huệ , cố vấn của Thống đốc NHQG Việt Nam lập bản Đề án thành lập TTCK
Việt Nam…
24
*Sau năm 1975 :
Năm 1990: Chính phủ đó giao đồng thời cho Bộ tai chính NHNN Việt Nam
nghiên cứu xây dựng đề án hỡnh thành TTCK và trỡnh Chớnh phủ xem xột
Năm 1995: Chính phủ đó thành lập ban chuẩn bị tổ chức TTCK gồm cỏc
chuyờn gia của NHNN Việt Nam và Bộ Tài Chớnh
28/11/1996: Ban hành NĐ75/Cp về việc thành lập Uỷ ban CKNN. Sau đó
lập quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng chính phủ về
việc thành lập 2 trung tâm giao dịch chứng khoỏn
20/7/2000: Trung tâm GDCK TPHCM chính thức được khai trương; vào
ngày 28/07/2000 đó tổ chức phiờn giao dịch đầu tiên với 2 loại cổ phiếu được niêm
yết là : REE và SAM
Ngày 8/3/2005: TTGDCK Hà Nội được khai trương.
2. Sự phát triển của TTCK ở Việt Nam:
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị
định số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thị
trường chứng khoán Việt Nam ra đời.
Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội. Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã
do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996.
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thành lập
theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạt
động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000.
Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào
đời vào ngày 8/3/2005. Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao