Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam - Pdf 22

Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ khi Việt Nam chưa gia nhập WTO thì thị trường trong nước đã “hội
nhập” trước về cách thức thanh toán. Có lẽ không ở quốc gia nào (trừ nước Mỹ) mà
đồng đô la lại trở nên phổ dụng như nước ta. Việc mua bán, từ thỏi son môi, đến
chiếc xe, thửa đất đều được định giá bằng đồng tiền màu xanh có hình ông
Franklin. Thậm chí, những cụm từ kiểu như “con bạc triệu đô” cũng được đăng tải
trên những tờ báo lớn như thể đồng đô la Mỹ không còn là ngoại tệ. Sự sùng bái
Mỹ kim không chỉ còn đơn thuần bởi đó là một ngoại tệ mạnh. Đây còn là một vấn
đề văn hoá, thể hiện tâm lý bày đàn của dân chúng ngay trong việc dùng tiền.
Theo nguyên tắc quản lý thị trường, tất cả các luồng ngoại tệ khi chuyển vào
một quốc gia đều phải chuyển đổi qua nội tệ. Đó là về mặt pháp lý, mặt khác,
những rủi ro về sự chênh lệch tỷ giá là điều mà các doanh nghiệp cần phải tính
toán, không thể tuỳ tiện coi đồng đô la Mỹ là hình thức thanh toán bắt buộc trong
giao dịch kinh tế tại Việt Nam. Trên thực tế thì Pháp luật Việt Nam cũng đã quy
định rõ chỉ được sử dụng đồng tiền Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam. Việc lưu
hành ngoại tệ phải được Nhà nước quy định đối với một số mặt hàng cụ thể. Tuy
nhiên, quy định pháp luật thì như vậy, còn trên thực tế, những quy định đó đã
không được thực hiện một cách nghiêm túc.
Như vậy có thể thấy tình trạng đô la hóa và sùng bái ngoại tệ tại Việt Nam
đang ở mức hết sức nghiêm trọng. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng này,
tác động của nó tới nền kinh tế ra sao và giải pháp nào để giải quyết hay hạn
chế vấn đề này một cách hiệu quả?
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 1
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
PHẦN 1
THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA VÀ SÙNG BÁI NGOẠI TỆ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Khái niệm về đô la hoá.
"Đô la hoá" có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế khi
ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng nội tệ trong toàn bộ

- Đô la hoá bán chính thức: Là những nước có hệ thống lưu hành chính
thức hai đồng tiền. Ở những nước này, đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu
hành hợp pháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi
ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và
những chi tiêu hàng ngày. Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung
ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ.
- Đô la hoá chính thức (hay còn gọi là đô la hoá hoàn toàn): Xảy ra khi
đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Nghĩa là
đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa
các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính
phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường
chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ. Thông thường
các nước chỉ áp dụng đô la hoá chính thức sau khi đã thất bại trong việc
thực thi các chương trình ổn định kinh tế. Đô la hoá chính thức không có
nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ được lưu hành hợp pháp. Tuy
nhiên, các nước đô la hoá chính thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ
làm đồng tiền hợp pháp. Chính vì vậy, khi một nền kinh tế bị đôla hóa
phản ánh tình trạng bất ổn nền kinh tế vĩ mô của đất nước đó.
Hiện nay, Quỹ tiền tệ thế giới xếp Việt Nam vào nhóm nước ‘đô la hóa’
không chính thức.
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 3
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
III. Thực trạng đô la hoá ở nước ta
1. Giai đoạn trước đổi mới (trước 1988).
Việt Nam thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp. Nhà nước nắm độc quyền về
ngoại thương, ngoại hối. Quy mô nền kinh tế nhỏ, khả năng cạnh tranh của hàng
hóa, dịch vụ rất thấp, kinh tế đối ngoại kém phát triển, hệ thống ngân hàng còn sơ
khai. Điều lệ quản lý ngoại hối ban hành kèm theo Nghị định số 102/CP ngày
6/7/1963 của Chính phủ nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng ngoại tệ
trong nước, mọi giao dịch trong nước phải được thực hiện bằng VNĐ. Xuất nhập

kiềm chế lạm phát, sự phát triển của hệ thống ngân hàng hai cấp đã dần khôi phục
vị thế của VNĐ. Trung tâm giao dịch ngoại tệ và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
được hình thành, hệ thống thanh toán bắt đầu phát triển Nhờ đó đồng nội tệ đã
dần lấy lại được lòng tin trong dân chúng, mức độ đô la hóa giảm mạnh và đạt
khoảng 20% năm 1996.
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 5
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
3. Giai đoạn từ khủng hoảng tài chính tiền tệ đến nay
Đến năm 1996, mức độ đô la hóa của Việt Nam đã giảm còn 20% song lại
xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á khiến cho đồng tiền Việt Nam giảm giá
trị, và Việt Nam lại tiếp tục chịu sức ép của tình trạng đô la hoá. Đến cuối năm
2001, tỷ lệ đồng USD được gửi vào các ngân hàng tăng lên đến 31,7%. Tỷ lệ này
có xu hướng giảm đáng kể trong những năm tiếp theo, dao động từ 21% - 24%, đến
tháng giêng năm 2010 còn khoảng 20%. Mặc dù vậy, rất có thể tỉ lệ tiền gửi ngoại
tệ trên tổng lượng cung tiền ở Việt Nam có thể sẽ tăng trở lại trong năm 2011 do
các ngân hàng thương mại trong nước huy động lãi suất ở mức quá cao (trên 6%/
năm, trong khi tiền USD gửi tại các ngân hàng ở nước ngoài sinh lời thấp hơn
1%/năm) để huy động thêm các khoản tiền gửi USD ngắn hạn nhằm tài trợ cho
hoạt động cho vay bằng USD. Ta có thể xem xét qua biểu đồ dưới đây:
Đồ thị 2: Tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ ở Việt Nam trên tổng lượng cung tiền M2
Tuy nhiên số tiền gửi tuyệt đối bằng USD thì không ngừng tăng lên, năm
1995 là 1,5 tỷ USD, năm 2005 đạt 8 tỷ USD, nhất là sau khi chúng ta gia nhập
WTO con số này đã tăng lên nhiều lần. Chỉ tính riêng số Kiều hối hàng năm cũng
đạt trung bình từ 8 – 10 tỷ USD. Đến cuối quý I năm 2011, tổng số tiền gửi bằng
ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt gần 20 tỷ đồng. Con số này một
mặt cho thấy tiềm lực nguồn vốn nhàn rỗi trong dân mà hệ thống ngân hàng có thể
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 6
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
huy động được cho đầu tư phát triển kinh tế, những mặt khác cũng đáng quan tâm ở
góc độ đô la hoá.

động được dùng để cấp tín dụng ngoại tệ, gửi tại các ngân hàng nước ngoài hoặc
bán lấy VNĐ cũng phụ thuộc vào mức độ rủi ro ngoại hối, lợi ích giữa cho vay
bằng VNĐ hay ngoại tệ có lợi ích hơn, chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế,
vấn đề thanh khoản, cân đối vốn ngoại tệ Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn
1995 - 1996, lãi suất vay ngoại tệ trong nước cao hơn lãi suất trung bình trên thế
giới và khu vực đã tạo động lực lớn thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nhập
khẩu hàng trả chậm. Bởi vậy, mặc dù nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu lớn nhưng
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 8
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
nhu cầu vay vốn ngoại tệ từ các NHTM trong nước không tăng mạnh. Còn đối với
các NHTM, chúng ta không quên vào thời kỳ 1999 - 2000, lãi suất quốc tế tăng cao
hơn lãi suất trong nước. Chịu ảnh hưởng của xu hướng này, các NHTM Việt Nam
cũng từng bước nâng lãi suất huy động ngoại tệ. Tuy nhiên, khó có thể nâng lên
tương đương vì đụng phải trần lãi suất do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định.
Chênh lệch giữa lãi suất quốc tế và lãi suất trong nước (vào khoảng 1,4 - 1,8% vào
thời điểm đầu năm 2000) đã khiến việc huy động ngoại tệ trong nước, chuyển ra
nước ngoài trở thành một hoạt động sinh lời hấp dẫn đối với các NHTM, đặc biệt,
khi vào thời điểm đó thị trường tín dụng trong nước đang ở trạng thái đông cứng vì
sức hấp thụ vốn đầu tư của nền kinh tế kém. Hay trong năm 2009, khi Chính phủ
thực hiện hỗ trợ lãi suất VNĐ, nhiều doanh nghiệp đã vay VNĐ để mua ngoại tệ
cho nhu cầu nhập khẩu, gây áp lực đối với nhu cầu mua ngoại tệ trên thị trường
ngoại hối. Sang năm 2010, khi chấm dứt hỗ trợ lãi suất, nhu cầu tín dụng ngoại tệ
lại tăng mạnh.
Trái lại, tỷ trọng dư nợ cho vay bằng đô la Mỹ so với tổng dư nợ và đầu tư
của hệ thống ngân hàng thương mại lại có xu hướng tăng lên, cao hơn cả tiền gửi
đô la. Đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh, dư nợ cho vay bằng đô la Mỹ cuối
tháng 9 năm 2004 đã tăng gấp 2 lần số dư cuối năm 2002.
Đồ thị 5: Tỷ lệ dư nợ cho vay bằng ngoại tệ trên tổng dư nợ cho vay
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 9
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8

các sản phẩm nhập khẩu, nhất là đồ điện tử. Ta có thể thấy bằng trực giác việc niêm
yết giá bằng cả VNĐ lẫn USD ở hầu như 100% các trang web bán đồ điện tử như:
máy vi tính, các thiết bị gia dụng nhập ngoại v.v Mặc dù hai loại giá được đặt
song song nhưng việc thanh toán thực tế thì luôn được thực hiện bằng USD, nếu
khách hàng thanh toán bằng VNĐ thì giá của hàng hóa sẽ dựa trên tỷ giá hối đoái
giữa VNĐ và USD ngày hôm thực hiện giao dịch. Những hàng hóa này thường là
những hàng hóa mà doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu toàn bộ hoặc nhập
khẩu từng linh kiện, nên giá của chúng phụ thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy, các
doanh nghiệp, để tránh rủi ro tỷ giá cho mình, buộc phải niêm yết giá bằng USD.
Ngoài ra, doanh nghiệp niêm yết giá bằng USD còn để tăng tính "hiện đại",
"thương mại điện tử". Điều này rất đáng lo ngại vì kinh doanh qua mạng sẽ trở
thành loại hình kinh doanh chủ yếu trong tương lai.
Trong thời điểm hiện tại, trên toàn thế giới đang diễn ra tình trạng giảm giá
của đồng đô la Mỹ. Nguyên nhân là do chính sách thả nổi đồng đô của chính phủ
Mỹ, cộng với một số yếu tố: nước Mỹ đang bị thâm hụt ngân sách nặng nề (trên
400 tỷ USD); tổng số nợ của Chính phủ Mỹ đến 7/2008 là 9.000 tỷ USD (khoảng
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 11
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
31.700USD trên đầu người) vượt quá mức báo động quốc tế; thâm hụt cán cân
thanh toán vãng lai năm 2007 tăng vọt lên đến 738,64 tỷ USD; lượng đầu tư nước
ngoài vào Mỹ giảm. Đồng thời mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với thế giới Ả rập xấu đi,
làm cho một loạt nước xuất khẩu dầu mỏ Trung Cận Đông đã giảm bớt cất giữ và
sử dụng đô la, mà chuyển qua sử dụng đồng Euro nhiều hơn trong thanh toán quốc
tế và dự trữ ngoại tệ. Hơn nữa Liên bang Nga và một số nước khác cũng đã và đang
có hành động tương tự. Tất cả những điều này gây thêm sức ép đối với đồng đô la
Mỹ, làm tăng khả năng sụt giá của đồng đô la.
Vấn đề đặt ra là nếu đồng đô la Mỹ tiếp tục sụt giá mạnh thì những thiệt hại
gì sẽ xảy ra, giả sử mức sụt giá là 20%, hệ quả tất yếu là thu ngoại tệ về xuất khẩu
hàng hoá và dịch vụ tính bằng đô la của tất cả các nước trên thế giới đều bị thiệt hại
theo tỷ lệ tương ứng. Ngoài ra, kim ngạch dự trữ ngoại tệ và lượng vốn FDI của tất

xuống tới 15.400 VNĐ và vài tháng sau vọt lên 19.500 VNĐ và "con ngựa bất
kham" này chỉ chịu đứng yên khi Ngân hàng Nhà nước tung nhiều tỷ USD dự trữ
ngoại hối để bình ổn. Có thể thấy cung cầu ngoại tệ đã bị bóp méo nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, hiện tượng đô la hoá đã khiến việc kiểm soát cung tiền của Ngân
hàng Nhà nước trở nên khó khăn, làm giảm hiệu quả của các chính sách kiềm chế
lạm phát.
Bên cạnh thị trường trường ngoại hối chính thức, thị trường ngoại hối không
chính thức ở nước ta cũng đang diễn ra rất sôi động và gắn kết chặt chẽ với nhau.
Theo kết quả điều tra của Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JICA) thực hiện năm 2001, ước tính: “'Với 200 doanh nghiệp được
cấp phép kinh doanh vàng bạc ở Hà Nội, tổng doanh số bán USD trong ngày có thể
đạt trung bình 10 triệu USD, tức là chiếm từ 1/3 đến một nửa doanh số giao dịch
trên thị trường chính thức”. Sự phát triển của thị trường ngoại hối không chính thức
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 13
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
là hệ quả của các quy định hiện hành công nhận quyền cất giữ (không gửi vào ngân
hàng), quyền cho, tặng ngoại tệ và quy định cho phép rút kiều hối bằng ngoại tệ.
Những biểu hiện đô la hóa dễ thấy khác là trong các hoạt động mua nhà, đầu
cơ bất động sản, mua bán hàng hóa giá trị cao, người ta đều sử dụng USD. Hầu hết
các gia đình công chức có thu nhập trung bình hoặc có điều kiện làm kinh tế đều dự
trữ USD. Tại các siêu thị, dịch vụ bưu điện, hàng không đều thu ngoại tệ dễ dàng
dù pháp luật cấm; việc buôn bán tiểu ngạch, buôn lậu qua biên giới phổ biến bằng
USD
Vậy mức độ đô la hóa ở Việt Nam có sự biến động qua các giai đoạn, phụ
thuộc vào tính chất ổn định của nền kinh tế. Nền kinh tế càng bất ổn định thì mức
độ đô la hóa càng cao và ngược lại. Theo tiêu chuẩn đánh giá của IMF thì hiện nay
mức độ đô la hóa ở Việt Nam đang ở mức trung bình (khoảng 20%). Song đây là tỷ
lệ không tính đến số lượng ngoại tệ được sử dụng trên thị trường không chính thức.
Vì vậy, thực tế tình trạng đô la hóa ở nước ta là rất nghiêm trọng.
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 14

hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng quản lý thị trường nên
giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ tiền mặt vẫn tồn tại và hoạt động rất sôi động,
nhộn nhịp trên thị trường tự do. Với sự tồn tại của thị trường này, mỗi khi kinh tế
có rủi ro bất ổn, thị trường ngoại hối sẽ bị xáo trộn, tồn tại hai tỷ giá chênh lệch
nhau giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường chợ đen, xuất hiện tâm lý đầu cơ
ngoại tệ Trên thị trường chính thức, Nhà nước vẫn cho các ngân hàng thương mại
thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ. Trên các hợp đồng
thương mại quốc tế đều có một thỏa thuận chung là đồng tiền của các nhà xuất
khẩu Việt Nam là ngoại tệ
Trong cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam, đồng đô la Mỹ không
những được chấp nhận mà nó còn được nhiều người bán hàng chỉ định làm phương
tiện thanh toán, và đôi khi, thanh toán bằng Đôla Mỹ còn nhanh, gọn hơn cả dùng
tiền Việt Nam. Bất Động Sản, Ôtô, thời trang hàng hiệu… cho đến những đồ uống.
Thậm chí sử dụng dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, người ta cũng có thể thanh toán bằng
Đôla Mỹ. Việc dùng đồng Đôla Mỹ để thanh toán diễn ra công khai, giữa ban ngày
tại trung tâm thủ đô Hà Nội. Không ít trường học cũng niêm yết học phí bằng bằng
USD. Đồng Đôla Mỹ gần như là phương tiện thanh toán thứ 2 tại Việt Nam khi
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 16
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
người ta có thể dễ dàng mua bán mọi thứ, mọi lúc mọi nơi… từ khách sạn 5 sao
cho đến hoa quả ở chợ.
Trên những con phố “Tây balô”, việc mua bán bằng Đôla Mỹ không có gì là
lạ đối với người Việt Nam nhưng lại thật lạ đối với những người du lịch nước ngoài.
Anh David, một người Mỹ cho biết: “Tôi đã đi nhiều nước ở châu Á như Nhật Bản,
Hàn Quốc và gần đây là Thái Lan, rất khó khi cầm USD, tôi thường phải đổi ở ngân
hàng hoặc đổi ngay khi xuống sân bay, nhưng ở VN thì mọi thứ rất dễ…”.
Có không ít những quy định xung quanh việc cấm niêm yết và thanh toán
bằng USD. Nhưng cấm mà không nghiêm. Hành vi tiêu tiền đô được dung túng
trong một thời gian dài đến mức trở thành thói quen và lẽ thường trong suy nghĩ
của một bộ phận không nhỏ cư dân thành thị. Cuộc xâm thực của đồng Đôla Mỹ

Năm 2010, dự trữ ngoại hối cũng ghi nhận sự sụt giảm lớn, theo một số ước tính có
thể lên đến 4 tỷ USD, còn năm 2009 trước đó thì ghi nhận mức thâm hụt tới 8,8 tỷ
USD.
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 18
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
Đồ thị 7: Nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh
Giai đoạn 2006 - 2010

(Nguồn: Bộ tài chính)
Lượng kiều hối gia tăng cùng với các quy định cho phép các cá nhân nắm
giữ ngoại tệ dưới hình thức tiết kiệm và tài khoản ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng,
cất giữ dưới dạng ngoại tệ tiền mặt. Dưới đây là bảng thống kê lượng kiều hối
chuyển về Việt Nam qua các năm gần đây :
Bảng 1: Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượng
kiều hối
(triệu USD)
1820 2150 2580 3100 4290 4700 5500 7200 6283 8000
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 19
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
Hơn nữa, lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng tăng nhanh, năm 1996
mới là 1,607 triệu lượt người; năm 1997 là 1,715 triệu; ; năm 2002 là 2,628
triệu; ; năm 2004 đạt hơn 2,9 triệu lượt người. Số lượng khách đó mang theo một
số lượng lớn ngoại tệ, và chi tiêu bằng ngoại tệ tiền mặt tại các cơ sở tư nhân.
Thứ tư, đô la hóa do chưa cân bằng lợi ích nắm giữ giữa đồng VNĐ và
USD, chủ yếu do biến động về tỷ giá, lãi suất thực tế và kỳ vọng, nhất là khi đồng
Việt Nam chưa phải là đồng tiền chuyển đổi, lạm phát của Việt Nam tương đối cao
so với các nước trên thế giới và khu vực.

hàng nhà nước Việt Nam trong việc kìm chế lạm phát cũng theo đó mà giảm sút.
Bởi vì ngân hàng Trung ương chỉ tác động lên đồng nội tệ mà không thể tác động
lên các đồng ngoại tệ khác. Chính vì vậy sẽ diễn ra tình trạng khó kìm chế lạm
phát, khó thực hiện mực tiêu ổn định tỷ giá và thực hiện các chính sách về tỷ giá.
Để đảm bảo được mục tiêu ổn định tỷ giá trong điều kiện mức độ đô la hóa cao và
biến động, yêu cầu Chính phủ phải có Quỹ dự trữ ngoại hối lớn và đủ mạnh. Việc
duy trì Quỹ dự trữ này sẽ làm cho nền kinh tế mất một khoản chi phí lớn trong việc
duy trì và sử dụng ngoại tệ.
Hơn nữa, tình trạng đô la hoá sẽ khiến cho nền kinh tế của chúng ta bị mất
tính độc lập. Kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều vào kinh tế thế giới đặc biệt là nước Mỹ.
Nếu kinh tế thế giới hoặc kinh tế Mỹ bất ổn thì nền kinh tế nước ta cùng các nước
bị đôla hoá sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn những nước khác. Hay nói cách khác là
nền kinh tế sẽ bị phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Mỹ.
Dự đoán nhu cầu phương tiện thanh toán gặp khó khăn. Tình trạng đôla hoá
dẫn đến nhu cầu nội tệ không ổn định khiến cho ngân hàng trung ương không phán
đoán được chính xác lượng tiền đồng cần phải cung. Bất kì tình trạng thiếu hay
thừa đồng nội tệ đều sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ nền kinh tế. Đặc biệt khi
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 21
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
một nền kinh tế bị đôla hoá toàn phần thì các chức năng của các ngân hàng trung
ương sẽ không còn.
Làm mất lòng tin vào đồng nội tệ của người dân. Đồng tiền có bản chất là tín
tệ. Khi đã mất lòng tin vào đồng tiền, người dân sẽ thoát ly khỏi đồng tiền. Và vì
vậy, đồng tiền sẽ tiếp tục mất giá, nền kinh tế tiếp tục mất ổn định. Sự mất ổn định
của đồng tiền sẽ dẫn đến hệ thống tài chính gặp khó khăn, dễ dẫn đến nguy cơ bị
khủng hoảng.
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 22
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
PHẦN III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ VÀ ĐẨY LÙI TÌNH TRẠNG ĐÔ LA

nhưng hiệu quả thì chưa thực sự rõ nét. Trong nhiều giải pháp chống tham nhũng đưa
ra, quan trọng nhất là giải pháp về người đứng đầu. Vì người đứng đầu là người có
trọng trách. Trước hết là họ nêu gương chống tham nhũng và bản thân họ không tham
nhũng và chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng nếu có ở cơ quan mình. Lý thuyết
thì như thế nhưng trong thực tế chống tham nhũng là khó vì dường như chống tham
nhũng là chống xuống chứ ít khi thấy chống ngang và càng không thấy chống lên.
Việc quản lý chặt chẽ các kênh dẫn ngoại tệ vào trong nước cũng là một cách
để phòng và chống tham nhũng có hiệu quả.
Đối với nguồn vốn FDI: Tiếp tục thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đi đôi với việc xây dựng môi trường kinh doanh có khả năng hấp thụ được số
vốn ngoại tệ thu hút được. Xây dựng cơ chế quản lý ngoại hối linh hoạt, vừa thu hút
vừa kiểm soát chặt chẽ lượng ngoại hối vào trong nước, tránh tình trạng rửa tiền.
Đối với nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA: Cần quản lý chặt chẽ quá
trình giải ngân nhằm tăng hiệu quả sử dụng, tránh tình trạng tham nhũng của một
số cá nhân.
Đối với kiều hối: Cần khuyến khích nhân dân bán ngoại tệ cho ngân hàng,
cung cấp đồng bộ các dịch vụ chuyển kiều hối sang VNĐ, đồng thời phải kiểm soát
chặt chẽ để hạn chế luồng ngoại tệ chảy vào nước bất hợp pháp, không thông qua
hệ thống ngân hàng, không chịu sự quản lý của Nhà nước như kiều hối chui, ngoại
tệ từ hoạt động kinh tế bất hợp pháp (buôn lậu, tham nhũng,…).
2. Phát triển sản xuất trong nước, đặc biệt là các ngành mũi nhọn.
Tình trạng Đô la hóa và sùng bái ngoại tệ ở Việt Nam 24
Bài tập nhóm môn Tài chính Quốc tế Nhóm 8
Để giảm bớt tình trạng đô la hóa, Nhà nước nên có biện pháp để giảm nhập
siêu, cải thiện cán cân thanh toán. Mà muốn giảm nhập siêu thì yếu tố phát triển sản
xuất trong nước là hết sức quan trọng. Các doanh nghiệp lớn thuộc các ngành hàng
chủ lực phát huy vai trò của mình trong việc giữ các cân đối lớn, khai thác tối đa
năng lực sản xuất cung ứng hàng hoá theo nhu cầu thị trường, tiến tới thay thế hàng
nhập khẩu.
Về mặt trung, dài hạn, Việt Nam cần cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status