BÀI TẬP MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ Tình hình cán cân thanh toán quốc tế, các biện pháp thăng bằng cán cân khi nền kinh tế gặp bất ổn - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN SAU ĐẠI HỌC

BÀI TẬP MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Tình hình cán cân thanh toán quốc tế, các biện pháp thăng
bằng cán cân khi nền kinh tế gặp bất ổn
GVHD
:
Sinh viên
:
Lớp
:
19Z
Hà Nội, 10/2011
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 5
1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế 5
1.1. Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế 5
1.2. Ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế 5
1.3. Những nguyên tắc xây dựng Cán cân thanh toán quốc tế 6
2. Nội dung các hạng mục của cán cân thanh toán quốc tế (BOP) 7
2.1.Cán cân vãng lai (CA – Currency Account) 7
2.1.1 Cán cân thương mại (Cán cân hữu hình) 7
2.2.Cán cân vốn (KA- Capital Account) 8
2.3 Điều chỉnh sai sót (OM) 9
2.4. Cán cân tổng thể (OB – Overall Balance) 10
2.5. Kết toán chính thức (OFB- Official Financing Balance) 10
3. Thâm hụt và thặng dư Cán cân thanh toán quốc tế 10
3.1.Thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại 10
CHƯƠNG II: BÀN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 13
1.Thực trạng cán cân thanh toán 13

Tuy nhiên để lập được một bản cán cân thanh toán quốc tế đầy đủ chính xác và kịp thời là
một việc rất khó khăn do phạm vi thu thập số liệu cán cân thanh toán quốc tế quá rộng.
Việc phân tích các tình trạng và đưa ra các giải pháp điều chỉnh cán cân thanh toán trong
từng thời kì phát triển kinh tế của một quốc gia cũng là việc khó do các khu vực trong
nền kinh tế có quan hệ tác động lẫn nhau.
Việc thành lập cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam mới chỉ chính thức bắt đầu
từ năm 1990. Có thể nói rằng việc thành lập, phân tích điều chỉnh cán cân thanh toán
quốc tế đối với nước ta là rất yếu, để cán cân thanh toán quốc tế trở thành một công cụ
phân tích, quản lý tốt các hoạt động kinh tế đối ngoại thì vấn đề cấp thiết là phải có sự
nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn trong việc thành lập, phân tích và điều chỉnh cán
cân thanh toán quốc tế. Trong phạm vi bài nghiên cứu này, nhóm 3 chỉ xin đề cập đến
tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam kể từ năm 2000 đến nay. Đây là giai đoạn
Việt Nam đã hội nhập khá sâu vào nền kinh tế thế giới.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế
1.1. Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế là bản ghi chép những giao dịch kinh tế của một quốc
gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định. Những giao dịch này có thể
được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của
quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản
tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, song
thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong
nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự
thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào
bên tài sản có.
1.2. Ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế
* Ở tầm quản lý kinh tế vĩ mô
- Giúp hoạch định chính sách đối ngoại nói chung và chính sách thương mại quốc
tế nói riêng: Cán cân thanh toán quốc tế là tấm gương phản ánh tổng hợp tình hình hoạt

(cả trực tiếp và gián tiếp) cũng như những khoản thu chi khác có liên quan đến nước
ngoài. Tất cả các khoản thu chi phải được tính thống nhất theo một đồng tiền nhất định,
có thể là đồng ngoại tệ hay nội tệ, thường là một đồng tiền mạnh.
* Nguyên tắc cân bằng:
Cán cân thanh toán quốc tế luôn cân bằng. Dòng tiền chảy vào và chảy ra khỏi
quốc ra phải bằng nhau, Bên Nợ = Bên Có, số dư =O
* Điều chỉnh sai sót:
Vì công tác thống kê đối với các hoạt động tài chính quốc tế rất phức tạp, khó
khăn nên lỗi và sai sót khó tránh khỏi. Mặt khác, có những khoản giao dịch không được
Chính phủ liệt kê, ghi chép công khai. Các giao dịch này chủ yếu liên quan đến kinh tế
ngầm như buôn lậu, viện trợ bí mật, chi trả các khoản chuyển giao công nghệ quốc
phòng, hay các hoạt động phi pháp khác Vì vậy phải có hạng mục điều chỉnh sai sót
nhằm điều chỉnh những sai lệch này, để đảm bảo tính chính xác của Cán cân thanh toán
quốc tế.
* Thời gian xây dựng:
Cán cân thanh toán quốc tế được xác lập cho từng khoảng thời gian nhất định,
thường là 1 năm. Trong những trường hợp cần thiết có thể lập theo quý, tháng.
2. Nội dung các hạng mục của cán cân thanh toán quốc tế (BOP)
2.1.Cán cân vãng lai (CA – Currency Account)
2.1.1 Cán cân thương mại (Cán cân hữu hình)
- Đối chiếu và so sánh các khoản thu từ xuất khẩu được phản ánh bên “Có” với dấu
“+” và chi cho nhập khẩu hàng hoá ghi ở bên “Nợ” với dấu “-”
- Khi thu nhập từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu thì cán cân thương mại
thặng dư và ngược lại.
- Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng của cán cân thương mại: Tỷ giá, lạm
phát, giá cả hàng hoá, thu nhập, chính sách thương mại quốc tế, v.v
- Cán cân thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến cán cân thanh toán quốc tế đồng
thời tác động trực tiếp đến cung, cầu, giá cả hàng hoá và sự biến động của tỷ giá,
tiếp đến, sẽ tác động đến cả cung cầu nội tệ và tình hình lạm phát trong nước.
Chú ý: Khi tính BOP, giá hàng hóa phải tính là giá FOB (free on board)

- Quy mô và tình trạng cán cân chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc chủ yếu
vào các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, tâm lý, tình cảm, chính trị - xã hội và
ngoại giao giữa các nước.
2.2.Cán cân vốn (KA- Capital Account)
2.2.1. Cán cân di chuyển vốn dài hạn
- Bao gồm các khoản vốn đi ra hay đi vào của khu vực tư nhân và khu vực nhà nước
dưới các hình thức đầu tư trực tiếp, gián tiếp và các hình thức đầu tư dài hạn khác.
- Luồng vốn đi vào phản ánh sự gia tăng của Nguồn vốn (TSN), nhưng làm tăng
cung ngoại tệ nên vẫn được ghi “Có” với dấu “+”. Ngược lại, luồng vốn đi ra phản
ánh sự ra tăng của TS (TSC) song lại làm tăng cầu ngoại tệ nên vẫn được ghi vào
bên “Nợ” với dấu “-”
- Quy mô và tình trạng cán cân vốn dài hạn phụ thuộc vào các nhân tố như: Tỷ suất
lợi nhuận kỳ vọng dài hạn, hiệu quả biên của vốn đầu tư (MEI hay ICOR) và các
yếu tố thuộc về môi trường đầu tư, sự ổn định về chính trị, xã hội.
2.2.2.Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn
- Cũng bao gồm các khoản vốn đi ra hay đi vào của khu vực tư nhân (chiếm tỷ trọng
lớn) và khu vực nhà nước nhưng dưới rất nhiều các các hình thức khác nhau: Tín
dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, các hoạt động trên kinh doanh ngoại hối và
giấy tờ có giá ngắn hạn kể cả các luồng vốn đầu cơ.
- Luồng vốn đi vào phản ánh sự gia tăng của NV (TSN), như đã đề được cập, do
làm tăng cung ngoại tệ nên vẫn được ghi “Có” với dấu “+”. Ngược lại, luồng vốn
đi ra phản ánh sự ra tăng của TS (TSC) song lại làm tăng cầu ngoại tệ nên vẫn
được ghi vào bên “Nợ” với dấu “-”.
- Khác với cán cân vốn dài hạn, quy mô và tình trạng cán cân vốn ngắn hạn phụ
thuộc vào các nhân tố như: Chênh lệch tỷ giá, tỷ suất lợi tức kỳ vọng ngắn hạn, lãi
suất và các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, chính trị - xã hội.
2.2.3.Cán cân chuyển giao vốn một chiều
- Bao gồm các khoản chuyển giao vốn một chiều như viện trợ không hoàn lại với
mục đích đầu tư, các khoản nợ được xoá.
- Khi được nhận các khoản viện trợ không hoàn lại và được xoá nợ, tương tự như

Thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại thường quyết định đến tình trạng của
cán cân vãng lai. Để cân bằng cán cân thương mại, các biện pháp chủ yếu thường được
áp dụng sẽ tác động vào lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua các hình thức thuế
quan, quotas, v.v… và tác động vào tâm lý tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu của công
chúng.
3.2.Thâm hụt và thặng dư cán cân vãng lai
Cán cân vãng lai gồm cán cân thương mại (hữu hình), cán cân dịch vụ, thu nhập
và các chuyển giao vãng lai (vô hình)
Phân tích cán cân vãng lai có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô vì
tình trạng của cán cân này tác động trực tiếp đến tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, lạm
phát và cuối cùng tác động đến cán cân tổng thể
Để tác động đến tình trạng của cán cân vãng lai, cần phải có thêm các giải pháp
tổng thể về tài khoá và tiền tệ hơn là chỉ các giải pháp về chính sách thương mại quốc tế
và tác động vào tâm lý tiêu dùng
3.3.Thâm hụt và thặng dư cán cân cơ bản
Cán cân cơ bản bao gồm cán cân vãng lai và cán cân di chuyển vốn dài hạn.
Tình trạng cán cân cơ bản có tác động một cách không rõ ràng đến nền kinh tế tuỳ
theo cách tiếp cận.
Đối với các nước đang phát triển, vốn là yếu tố cần thiết để thực hiện công nghiệp
và hiện đại hoá, thặng dư cán cân cơ bản nhìn chung được coi là dấu hiệu tích cực.
Các chính sách thu hút vốn đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp là giải pháp cơ bản cho
vấn đề này.
3.4.Thâm hụt và thặng dư cán cân tổng thể
Tình trạng của cán cân tổng thể là rất quan trọng và tác động trực tiếp đến nền
kinh tế và sự vận hành các chính sách vĩ mô, đặc biệt khi cán cân tổng thể ở tình trạng
thâm hụt
Các giải pháp cân bằng đối với cán cân tổng thể khi ở tình trạng thặng dư không
những không khó mà luôn mang lại những hiệu ứng tích cực, kể cả trong ngắn hạn và dài
hạn
Ngược lại, các biện pháp cân bằng khi ở tình trạng thâm hụt không những khó

gần đây đã tăng nhanh lên mức đáng lo ngại. Năm 2008, theo ước tính của IMF, thâm hụt
vãng lai của Việt Nam lên mức gần 11,1 tỷ USD, cao hơn rất nhiều so với mức thâm hụt
năm 2007. Nguyên nhân lớn nhất là do cuộc khủng hoảng kinh tế, tình trạng lạm phát
tăng cao. Năm 2009, cán cân vãng lai đã được cải thiện hơn nhưng vẫn thâm hụt khá lớn.
Năm 2010, theo ước tính của Bộ kế hoạch đầu tư, cán cân vãng lai của Việt Nam có
chiều hướng tăng trở lại và có thể ở mức xấp xỉ 10,6 tỷ USD.
Bảng 4: Cán cân vãng lai của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2010
Năm Đơn vị 2008 2009 2010
Cán cân vãng lai Tỷ USD -11,1 - 8,0 - 10,6
Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của bộ kế hoạch đầu tư)
1.1.2 Phân tích cán cân vãng lai :
*Cán cân thương mại (TB)
Bảng 5: Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2007
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
XK 14448 15027 16706 20149 26485 32447 39826 48561
NK 14072 14546 17760 22730 30339 34886 42602 58921
TB 376 481 -1054 -2581 -3854 -2439 -2776 -10360
%GDP 1,2 1,5 -3,0 -6,5 -8,6 -4,6 -4,6 -14,5
Nguồn: SBV, IMF, WB
Từ bảng số liệu cho thấy, thâm hụt thương mại của Việt Nam gia tăng rất nhanh.
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng lên nhưng tốc độ tăng vẫn chậm hơn so
với tốc độ tăng giá trị nhập khẩu. Trung bình trong giai đoạn từ 2000 đến 2007, tốc độ
tăng giá trị xuất khẩu đạt 19,2%, trong khi tốc độ tăng trung bình về kim ngạch nhập
khẩu là 23,19%. Đây là nguyên nhân khiến cán cân thương mại của nước ta thâm hụt
ngày càng lớn.
Một nguyên nhân nữa khiến cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt trong những
năm gần đây là do giá cả hàng hóa trên thế giới tăng cao. Điều này đã khiến năm 2008,
mức độ thâm hụt thương mại tiếp tục tăng mạnh. Năm 2009, kinh tế thế giới tiếp tục chịu
ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Tuy nhiên, giá cả hàng hóa
thế giới sau thời kỳ tăng giá đã có xu hướng giảm dần, đặc biệt là giá dầu. Điều này đã có

Thu 331 318 167 125 188 364 668 1093
Chi 782 796 888 936 1079 1583 2097 3261
Nguồn: SBV, IMF, WB
Bảng 9: Cán cân thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2010
Năm 2008 2009 2010
I -4900 -4900 -5400
Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của bộ kế hoạch đầu tư)
Phần thu từ đầu tư của Việt Nam thì chủ yếu là từ tiền lãi của các khoản tiền gửi
của người cư trú Việt Nam ở các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên những khoản lãi đó
rất nhỏ, thậm chí còn giảm vì ta rút ngoại tệ về cho vay trong nước. Ngược lại, những
khoản phải thanh toán ngày càng tăng do phải trả lãi những khoản nợ ngước ngoài. Thêm
vào đó, những khoản chuyển lợi nhuận đầu tư cũng tăng lên do các dự án FDI được thực
hiện. Điều đó khiên cán cân thu nhâp của Việt Nam cũng bị thâm hụt ngày càng nhiều.
*Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều:
Trong cán cân chuyển giao vãng lai một chiều, chuyển giao tư nhân chiếm tỷ
trọng chủ yếu. Chuyển giao chính phủ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cán cân. Trong giai
đoạn từ 2001 đến nay, cán cân chuyển giao vãng lai một chiều luôn dương, góp phần cải
thiện cán cân vãng lai của Việt Nam.
Bảng 10: Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều Việt Nam giai đoạn 2001 - 2009
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tr 1250 1921 2239 3093 3380 4049 6430 8100 7000
Nguồn: SBV, IMF, WB
1.2.Cán cân di chuyển tư bản:
Cán cân vốn Việt Nam bao gồm các bộ phận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI,
vốn đầu tư gián tiếp, các khoản nợ ngắn hạn, tín dụng thương mại, các khoản nợ trung -
dài hạn và tài sản ngoại tệ của các NHTM.
Bảng 11: Cán cân vốn Việt Nam giai đoạn 2001 - 2009
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
K 220 1980 2533 2753 3087 3088 17540 13400 12300
FDI 1300 1400 1450 1610 1889 2315 6550 10000 7400

- Chính sách tiền tệ: Một trong những nguyên nhân có liên quan đến
đầu tư tăng cao là chính sách tiền tệ nơi lỏng của Việt Nam trong thời gian qua.
Khi thực hiện chính sách tiền tệ nơi lỏng sẽ dẫn tới tăng đầu tư trong nước, do
trong ngắn hạn điều này làm giảm lãi suất. Ngoài tác động trên, chính sách tiền tệ
còn có tác động thông qua tỷ giá. Khi thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thì sẽ
tạo nên áp lực giảm giá đồng tiền nội tệ so với đồng tiền của nước khác. Nếu tỷ
giá hối đoái được tự do thay đổi, thì khi đó, nhập khẩu sẽ trở nên đắt hơn và xuất
khẩu sẽ trở nên rẻ hơn. Tuy nhiên, khi tỷ giá không được tự do thay đổi (tỷ giá cố
định), thì đồng tiền nội tệ về bản chất là đã lên giá. Việc duy trì một đồng tiền nội
tệ đã lên giá như vậy sẽ làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu. Trong suốt một
thời gian dài Việt Nam đã duy trì tỉ giá cố định gắn vào đồng USD. Khi lạm phát
thấp đây làm một chính sách hợp lý để làm tăng khả năng xuất khẩu của hàng hóa
Việt Nam. Tuy nhiên, từ cuối năm 2006, và đặc biệt là năm 2007, lượng vốn đầu
tư (cả gián tiếp và trực tiếp) chảy vào Việt nam tăng đột biến, làm cho đồng Việt
Nam tăng giá so với các đồng tiền khác. Để duy trì tính cạnh tranh về giá của hàng
XK, Ngân hàng Nhà nước đã tung một lượng tiền lớn ra để mua USD (làm tăng dự
trữ ngoại hối), dẫn tới một lượng cung tiền rất lớn trong hệ thống thanh toán của
Việt Nam. Tác động của lạm phát có tác dụng làm đồng tiền mất giá, nhưng việc
duy trì tỷ giá cố định về cơ bản là việc duy trì một đồng tiền định giá quá cao đã
làm cho hàng VN mất tính cạnh tranh (trở nên đắt hơn) và hàng NK trở nên rẻ
hơn. Đây cũng chính là một nguyên nhân của tình trạng nhập siêu và thâm hụt các
cân thanh toán quốc tế. Phải thấy rằng tỷ giá cứng là một nguyên nhân dẫn đến
thâm hụt thương mại.
- Tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán: Trong năm 2006 và
2007 đã chứng kiến hàng loạt các công ty thực hiện cổ phần hóa, lên sàn, phát
hành thêm cổ phiếu. Năm 2007 còn được nhìn nhận là năm của IPO. Bản chất của
các hoạt động này, kể cả việc thực hiện cổ phẩn hóa (không chỉ của các công ty
nhà nước) là các hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp để đầu tư. Với lượng
vốn đầu tư được huy động qua kênh của thị trường chứng khoán, rõ ràng là mức
đầu tư của VN đã tăng lên rất nhiều. Hệ quả tất yếu của việc tăng đầu tư là nhập

quan hệ giữa ngân hàng này với ngân hàng khác mà nó được mở rộng ra nhiều ngân hàng
khác, đặc biệt là với các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế trên cơ sở các hiệp định đã
được ký giữa các bên.
1.2.Thu hút tư bản ngắn hạn từ nước ngoài
Ngân hàng Trung ương của các nước thường áp dụng những chính sách tiền tệ tín
dụng cần thiết thích hợp để thu hút được nhiều tư bản ngắn hạn từ các thị trường nước
ngoài di chuyển đến nước mình, làm tăng thêm phần thu nhập ngoại tệ cua cán cân thanh
toán, thu hẹp khoảng cách về sự thiếu hụt giữa thu và chi trong cán cân thanh toán đó.
Trong số những chính sách tiền tệ tín dụng được sử dụng để thu hút tư bản vào, thì chính
sách chiếu khấu được sử dụng phổ biến hơn.
Để thu hút được một lượng tư bản từ thị trường nước ngoài vào nước mình thì
Ngân hàng Trung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu, dẫn đến lãi suất tín dụng trên thị
trường tăng lên làm kích thích tư bản nước ngoài chuyển vào. Thế nhưng biến pháp này
chỉ góp phần tạo ra sự cân bằng cho cán cân thanh toán trong trường hợp bội chi không
lớn lắm và cũng chỉ giải quyết nhu cầu tạm thời. Cần lưu ý rằng, biện pháp nâng lãi suất
chiết khấu chỉ có hiệu quả khi tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… của quốc gia đó tương
đối ổn định, tức là ít rủi ro trong đầu tư tín dụng.
1.3.Phá giá tiền tệ
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến này, một số nước tư bản đã sử dụng
chính sách phá giá tiền tệ như là một công cụ hữu hiệu, góp phần cân bằng CCTTQT và
bình ổn tổng giá hối đoái. Phá giá tiền tệ là sự công bố của Nhà nước về sự giảm giá đồng
tiền của nước mình so với vàng hay so với một hoặc nhiều đồng tiền nước khác. Phá giá
tiền tệ để tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu từ đó cải thiện điều
kiện cán cân thanh toán. Nhưng chúng ta cũng cần nhận thấy rằng, phá giá tiền tệ chỉ là
một trong những yếu tố có tính chất tiền đề cho việc đẩy mạnh xuất khẩu mà thôi.Còn kết
quả hoạt động xuất khẩu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như năng lực sản xuất, khả
năng cạnh tranh… trên thị trường quốc tế.
Như vậy, có nhiều biện pháp cải thiện CCTCQT, song việc lựa chọn phương pháp
nào thì phải xuất phát từ kết quả phân tích những phân tích những nguyên nhân chủ yếu
gây nên tình trạng thiếu hụt của cán cân, phải xem xét tình hình cụ thể, toàn diện của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status