BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU KHẨU DIỆN HỢP LÝ
CÁC CỐNG VÙNG CUỐI HỆ THỐNG THỦY LỢI
NAM MANG THÍT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI
1
MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần hạ du sông Mekong, có
chiều dài bờ biển 830km chạy dài từ cửa Soài Rạp đến mũi Hà Tiên (giáp biên
giới CamPuChia). Phần diện tích bị nhiễm mặn khoảng 1,6 - 2,1 triệu ha, bao
gồm phần diện tích ven biển các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh,
Đây là vùng rộng lớn, đất đai tương đối bằng phẳng và màu mỡ, hệ
sinh thái đa dạng và có tiềm năng kinh tế dồi dào. Tuy nhiên, mức độ khai
thác nguồn tài nguyên này chưa tương xứng với tiềm năng đó. Vùng ĐBSCL
nằm ở hạ lưa sông Mekong, vừa chịu tác động trực tiếp chế độ dòng chảy
thượng lưu qua hai sông Tiền và Hậu, lại chịu ảnh hưởng của chế độ thủy
triều Biển Đông và Biển Tây.
Cho đến nay, cùng với hệ thống sông rạch tự nhiên, hệ thống kênh
đào mới khá dày, tạo thành mạng lưới sông, kênh, rạch khá chằng chịt làm
cho chế độ thủy văn thủy lực ở ĐBSCL nói chung, vùng nhiễm mặn và vùng
giáp ranh cần ngọt hóa nói riêng vô cùng phức tạp.
Ngọt hóa là yêu cầu cấp bách ở vùng ĐBSCL. Xây dựng hệ thống
công trình hoàn chỉnh, đồng bộ, nhằm lợi dụng nguồn nước sông Mekong và
thủy triều biên độ tương đối cao để lấy nước ngọt, tiêu mưa và chua là mục
tiêu và nhiệm vụ của công tác thủy lợi ở vùng này. Vốn đầu tư cho công trình
đầu mối tỉ lệ với khẩu độ cống. Bởi vậy tìm khẩu độ cống hợp lý của hệ
thống cống có tác dụng to lớn về kinh tế và kỹ thuật.
Trong luận văn này học viên chỉ áp dụng nghiên cứu, tính toán khẩu
cũng như cải thiện môi trường nước.
Vùng dự án ngọt hóa Nam Mang Thít đã được đầu tư xây dựng khép
kín nhằm khai thác, phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn của 2
tỉnh là Trà Vinh và Vĩnh Long. Khi dự án đi vào họat động đã cơ bản hạn chế
được tình trạng xâm nhập mặn, thau chua rửa phèn cho những diện tích bị ảnh
hưởng chua phèn, gia tăng diện tích gieo trồng, tăng hệ số sử dụng đất và sản
xuất từ 1 ÷ 2 vụ/năm, nay đã tăng lên từ 2 ÷ 3 vụ/năm. Nhìn chung khi dự án
Nam Mang Thít được xây dựng đã cải thiện, nâng cao đời sống người dân
3
trong vùng và các vùng hưởng lợi của dự án. Tuy nhiên, hiện nay do sự gia
tăng diện tích sản xuất, thay đổi cơ cấu cấy trồng và một số cống tuyến cuối
đã được xây dựng từ những thập kỷ 90 nên đã bộc lộ một số nhược về chế độ
thủy lực do khẩu diện của cống quá nhỏ.
Một số công trình cống ngăn mặn trữ ngọt được tiến hành xây dựng ở
vùng ĐBSCL trong tính toán thiết kế chưa xác định mặt cắt cống một cách
phù hợp, nên trong quá trình làm việc dẫn đến bị sự cố công trình. Những sự
cố thường gặp như xói lở ở thượng và hạ lưu cống (cống Vàm Đồn, Trà Cú,
Chủ Chí, Vĩnh Bình, ), cống bị bồi lắng lấp cửa (cống Gía Rai, Khúc Tréo,
Láng Trâm, ), chênh lệch cột nước ∇Z giữa thượng và hạ lưu (trong cống và
ngoài cống) khá lớn gây xói lở hạ lưu của công trình trong quá trình vận hành
và khai thác. Ngoài những sự cố kể trên còn ảnh hưởng trực tiếp đến những
công trình khác như làm xói lở bờ kênh, bồi lắng lòng dẫn, do đó đã gây nên
những tổn thất và lãng phí các công trình, không Mang lại hiệu quả như mong
muốn của con người.
1.2Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống thủy lợi Nam Mang Thít, thuộc hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh
Long, được xây dựng và cơ bản đã khép kín. Hệ thống đã phát huy tác dụng
ngay khi từng cống hoàn thành và đã mang lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất
nông nghiệp.
Trước đây, toàn hệ thống được thiết kế với nhiệm vụ phục vụ sản xuất
b. Mục tiêu cụ thể: Đưa ra cơ sở khoa học về quy mô các cống,
nhằm phục vụ cho việc điều chỉnh / bổ sung các công trình phía
dưới hệ thống thủy lợi Nam Mang Thít.
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
(i) Phương pháp điều tra, khảo sát.
5
(ii) Thu thập các tài liệu về tình hình sản xuất, nuôi trồng thủy hải
sản và các nhu cầu sử dụng nước phục vụ cho tính toán mô hình
(iii) Tổng hợp số liệu, tài liệu, đánh giá tổng quan vùng nghiên cứu
về chế độ thủy văn, thủy lực, các tài liệu thiết kế của các công
trình thủy lợi.
(iv) Phương pháp mô hình hoá (sử dụng mô hình toán).
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn đề cập đến việc nghiên cứu mặt cắt cống hợp lý của
một số cống tuyến cuối hệ thống thủy lợi vùng Nam Mang Thít nhằm đảm
bảo được khả năng tưới, tiêu, tiêu năng phòng xói của các công trình này,
phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp kết hợp với nuôi trồng thủy hải sản
trong vùng dự án.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Vùng nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi của hệ thống ngọt hoá
Nam Mang Thít nằm trên địa bàn của 2 tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long. Trong
luận văn chỉ đề cập đến tính toán mặt cắt hợp lý các cống vùng cuối của vùng
dự án Nam Mang Thít, vì đây là vùng đang có những tồn tại về quy mô công
trình.
1.5Nội dung nghiên cứu
Trong luận văn đi sâu vào nghiên cứu, tính tóan khẩu diện của 4 cống
vùng cuối: Trà Cú, La Ban, Thâu Râu và Vĩnh Bình.
Nội dung chính của luận văn:
- Nghiên cứu, tính toán khẩu diện hợp lý các cống vùng cuối dự án
0
59’21” đến 106
0
35’00” độ kinh Đông.
Ranh giới hành chính được giới hạn bởi (Hình 2.2):
- Phía Bắc là sông Cổ Chiên.
- Phía Nam là sông Hậu.
- Phía Đông là biển Đông.
- Phía Tây là sông Mang Thít.
Vùng dự án bao gồm toàn bộ hệ thống công trình thủy lợi của tỉnh Trà
Vinh và một phần của tỉnh Vĩnh Long, bao gồm 9 huyện: Càng Long, Cầu
Kè, Tiểu Cần, Châu Thành, Cầu Ngang, Trà Cú, Duyên Hải, Vũng Liêm, Trà
Ôn và Thị xã Trà Vinh. Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng dự án là
222.567ha trong đó có 182.050ha là đất nông nghiệp. Dân số bình quân toàn
tỉnh Trà Vinh năm 2006 là gần 1.000.000 người, trong đó 29% dân tộc
Khmer.
8
K . H a ừn g
K
e
õ
n
h
C
a
ự
n
G
g
T
r
e
ứm
T
r
e
ùm
R
.
T
i
e
õ
u
D
ử
ứ
a
H o R ử ứn g
K
.
C
h
o
ỏ
.
T
h
ử
ự
5
K
.
C
h
u
ứ
a
K
.
N
a
ờ
m
C
h
a
õ
u
K
.
X
e
o
ọ
X
e
K
.
T
a
ựm
N
g
a
ứ
n
K
.
P
h
a
ự
n
L
i
n
h
B A N ẹ O V U ỉN G D ệ ẽ A N N A M M A N G T H T
ẹ O N G B A ẩN G S O N G C ệ U L O N G
S A ẹ E C
V ể N H L O N G
T R A ỉ V I N H
C a n G i u o ọc
B ỡ n h ẹ a ùi
B a T r i
G i o n g T r o õm
B E N T R E
C h a õu T h a ứn h
V u ừn g L i e õm
T a m B ỡ n h
L o n g H o
C a ựi B e ứ
C a i L a ọy
L O N G A N
ẹ O N G T H A P
C a u N g a n
T r a ứ C u ự
B I E N
T A Y
T I E N G I A N G
C a u Q u a n
B e ỏn T r a ùi
T i e ồu C a n
T a õn T h u ỷy
M y ừ H o ựa
H ử ụ n g M y ừ
B ỡ n h T h a ứn h
C a u A n H a ù
K i e ỏn B ỡ n h
K
e
õ
n
h
T
4
K
e
õ
n
h
T
5
K
e
õ
n
h
T
6
K
.
N
.
T
a
ứ
i
R
.
N
g
a
ừ
T
a
ứ
u
K
e
õ
n
h
S
o
ự
c
T
y
ừ
L
o
n
g
-
B
a
K
y
ự
K
e
õ
n
h
3
0
7
K
.
C
a
ẹ
o
n
g
T
i
e
ỏ
n
K
.
D
ử
ụ
n
g
V
a
ờ
n
D
ử
ụ
n
P
h
ử
ụ
ự
cX
u
y
e
õ
n
K
.
H
ử
n
g
ẹ
i
e
n
.
T
r
a
ứ
C
u
ự
T
h
ử
ụ
n
g
K
e
õ
n
h
6
1
K
.
R
a
M o n g T h o ù
R a ùc h S o ỷi
T h o ỏt N o ỏt
O M o õn
B ỡ n h M i n h
K
.
R
a
ù
c
h
G
ớ
a
-
L
o
n
g
X
u
y
e
õ
e
õn
h
K
H
6
K
.
O
M
o
õ
n
T ũ n h B i e õn
ẹ a ọp C a o s u
T h a L a
ẹ a ọp C a o s u
T r a ứ S ử
N h ụ n H ử n g
C A ỉ M A U
U M i n h
C A ỉ M A U
G ớ a R a i
T h ụ ựi B ỡ n h
B a ẹ ỡ n h
B A ẽC L I E U
n
h
ẹ
e
n
-
P
h
o
ự
S
i
n
h
K
.
C
h
ụ
ù
H
o
ọ
i
T i e ỏp N h ử ùt
C a ựi X e
M y ừ T h a n h
K e ỏ S a ực h
S O C T R A ấN G
V ú n h C h a õu
M y ừ
X u y e õn
ẹ a ùi N g a ừi
T h a ùn h P h u ự
D u T h o
C a ựi O a n h
T r a ứ Q u ựi t
K
.
N
a
ứ
n
g
M
a
u
C o ỏn g
B o ỏ T h a ỷo
C o ỏn g
L o n g H ử n g
C o ỏn g B a o B i e ồn
n
K
.
N
g
a
ứ
n
D
ử
ứ
a
-
B
a
ù
c
L
i
e
õu
C o ỏn g
M y ừ T u ự
L
P
H
K
.
L
a
ự
i
H
i
e
ỏ
u
D ệ ẽ A N
B A L A I
D ệ ẽ A N
N A M M A ấN G T H T
D ệ ẽ A N
H ệ ễ N G M Y ế
K
.
Q
ử
ụ
ựi
T a m V u
C a u N o ói
C . G o ứ C a ự t
C . B a ỷo ẹ ũ n h
K e ứ S a ẹ e ự c
C a u M y ừ T h u a ọn
C o ỏn g
K i m Q u y
K
.
K
i
m
Q
u
y
R
.
T
h
ử
ự
N
h
a
ỏt
R
.
T
h
è
n
g
N
h
Ê
t
R
.
T
r
a
C
u
K
.
T
r
µ
N
g
o
K
ª
n
h
2
9
-
5
K
.
T
r
µ
T
i
n
h
K
.
N
g
u
y
Ơ
n
ª
n
h
N
g
a
n
g
K
.
M
ü
V
¨
n
K
.
N
g
ä
c
B
i
ª
n
L
ã
t
R
¹
c
h
S
©
u
K
.
V
µ
m
B
u
«
n
g
K
.
C
Ç
n
.
B
»
n
g
T
r
ê
n
g
K
.
L
o
n
g
H
i
Ư
p
-
B
a
h
o
S
«
n
g
L
a
n
g
T
h
e
C
ư
a
C
u
n
g
H
Ç
u
S
«
n
Ë
u
Tra Cu
Tra On
Duyen Hai
Cau Ke
Chau Thanh
Vung Liem
Cang Long
Cau Ngang
Tieu Can
TX. Tra Vinh
N
Tû lƯ: 1/400.000
9°31'30"
9°31'30"
9°42'00"
9°42'00"
9°52'30"
9°52'30"
10°3'00"
10°3'00"
106°3'00"
106°3'00"
106°13'30"
106°13'30"
106°24'00"
106°24'00"
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH VÙNG DỰ ÁN NMT
Ranh giíi Hun
giao động khá lớn bình quân đạt tới 8,0
0
C. (Bảng kết quả phân bố nhiệt độ
được thể hiện trong bảng 2.1)
Bảng 2.1: Bảng phân bố nhiệt độ tại trạm Vĩnh Long và Cần Thơ
Tên
trạm
Thông
số (
0
C)
Tháng Cả năm
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Vĩnh
Long
T
năm
T
max
T
min
24,9
29,4
21,4
25,5
30,8
22,0
26,7
31,8
22,9
Cần
Thơ
T
năm
T
max
T
min
25,3
35,4
14,8
25,9
35,2
17,3
27,1
38,5
17,5
28.5
40,0
19,8
29,3
38,3
18,7
27,9
37,3
19,0
26,7
36,8
19,5
26,5
Vĩnh Long
Cần Thơ
Trà Vinh
U
%
U
%
U
%
72,6
81,7
78,6
75,1
78,3
77,8
75,3
77,1
75,6
74,0
77,7
77,2
82,2
82,4
80,0
79,8
85,0
83,7
81,1
84,1
82,7
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII năm
V. Long
Cần Thơ
V
bq
(m/s)
V
bq
(m/s)
2,3
3,4
2,2
3,5
2,5
4,1
2,2
3,3
2,2
3,4
2,3
4,0
2,3
3,7
3,3
3,4
3,8
3,8
2,4
3,3
3,0
2,8
1,8
2,8
2,1
3,2
2,0
3,3
2,2
2,7
2,0
2,1
2,0
1,6
1,8
1,8
1,8
1,8
1,7
1,8
1,8
1,8
1,8
2,3
1,7
2,3
1,9
Chế độ chiếu sáng: Khu vực dự án Nam Mang Thít do ở gần
xích đạo nên số giờ nắng bình quân hàng năm khá dồi dào đạt tới 2.700
giờ/năm. Số giờ nắng bình quân ngày đạt trên 7 giờ/ngày. Mùa khô từ tháng
XII đến tháng IV đạt 8 ÷ 9 giờ/ngày. Về mùa mưa chỉ đạt 6 ÷ 7 giờ/ngày.
7,4
6,7
8,2
7,1
7,4
6,5
Về độ che phủ mây vùng dự án đạt bình quân xấp xỉ 6/10. Mùa mưa độ
che phủ đạt bình quân 6 ÷ 7/10 mùa khô trời quang mây hơn, độ che phủ chỉ
có 4,5 ÷ 5,5/10.
Mưa: Mưa năm, từ chuỗi tài liệu 15 năm (1981-1996) tính thống
kê được lượng mưa năm bình quân cho toàn vùng dự án Nam Mang Thít, kết
quả thống kê ta thấy lượng mưa năm vùng dự án là X
năm
= 1439mm.
Số ngày mưa: Số ngày mưa trong năm bình quân toàn khu vực là
113ngày/năm trong đó tại trạm đo Càng Long có số ngày mưa nhiều nhất
166ngày/năm, tại Cầu Ngang có số ngày mưa ít nhất 90ngày/năm. Trong mùa
mưa tháng IX có số ngày mưa nhiều nhất 18,3 ngày/tháng, ít nhất là tháng XII
chỉ có 7 đến 8 ngày. Trong cả năm thì tháng I, II, III hầu như không mưa.
(Bảng phân chia thời vụ theo lượng mưa thể hiện trong bảng 2.7)
Bảng 2.7: Trường hợp phân chia theo thời vụ lượng mưa toàn vụ
Đặc trưng thời vụ X
o
(mm) C
v
C
s
X
p
= 75% (mm)
Kênh rạch bắt nguồn từ Biển Đơng.
Kênh rạch bắt nguồn từ nội đồng.
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
#S
K
ª
n
h
4
-
3
K
.
.
T
r
µ
N
g
o
a
K
.
P
h
o
n
g
P
h
ó
K
.
S
a
R
µ
.
N
g
u
y
Ơ
n
V
¨
n
P
h
o
K
.
T
r
µ
Õ
c
h
K
.
H
N
g
ä
c
B
i
ª
n
R
.
V
ò
n
g
L
i
ª
m
K
.
T
ỉ
n
g
T
«
n
g
K
.
C
Ç
n
C
h
«
n
g
R
.
T
h
©
u
R
©
u
R
.
C
H
i
Ư
p
-
B
a
S
a
K
.
T
ỉ
n
g
H
n
g
K
.
N
g
u
n
g
H
Ç
u
S
«
n
g
M
a
n
g
T
h
Ý
t
S
«
n
g
C
ỉ
C
h
VÜnh Kim
Vµm Bu«n
Ng·i HiƯp
VÜnh B×nh
Hµm Giang
CÇn Ch«ng
TÇm Ph ¬ng
T©n LËp
9°31'30"
9°31'30"
9°42'00"
9°42'00"
9°52'30"
9°52'30"
10°3'00"
10°3'00"
106°3'00"
106°3'00"
106°13'30"
106°13'30"
106°24'00"
106°24'00"
Tû lƯ: 1/400.000
N
Ranh giíi Hun
Kªnh, r¹ch
§ êng giao th«ng
S«ng, hå
CHÚ DẪN
#
Trà Kha trên sông Hậu.
Tình hình ngập úng
Tỉnh Trà Vinh không bị ngập úng do lũ từ thượng nguồn sông MeKong
như các tỉnh An Giang, Đồng Tháp thuộc ĐBSCL song lại bị úng cục bộ ở
các tiểu vùng có địa hình thấp và kéo dài 3 ÷ 5 tháng. Mức ngập chủ yếu là
0,4 ÷ 0,8m. Ngập úng xảy ra trong vùng dự án do mưa với cường độ lớn diễn
ra trong thời gian ngắn (3 ÷ 5 ngày) cộng với mực nước sông dâng cao (do
nước thượng nguồn đổ về cũng như khi đỉnh triều cao), xảy ra vào tháng IX
và tháng X.
Chủ yếu diện tích ngập dưới 0,7m với thời gian ngập dưới 3 tháng.
Trên 6% diện tích ngập trên 0,7m với thời gian ngập dưới 3 tháng.
Khu vực ngập sâu nhất là ở Duyên Hải và Trà Cú.
Khu vực có diện tích ngập nhiều nhất là Trà Cú và Càng Long.
15
Như vậy ngập úng ảnh hưởng không nhiều đến sản xuất lúa của vùng
dự án, nhưng để sản xuất ổn định, tăng vụ, thâm canh cũng như đa dạng hóa
cây trồng, cần xây dựng hệ thống tiêu cho các vùng ngập, đặc biệt là các vùng
ngập trên 0,7m.
2.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng
Vùng dự án nằm trong vùng đồng bằng châu thổ mới hình thành do bồi
lấp của các cửa sông, là dạng đồng bằng trẻ, nhiều phù sa bồi, có tính thẩm
thấu mạnh. (Bản đồ đất và bảng thống kê đất được thể hiện trong hình 2.4 và
bảng 2.8). Đất đai vùng dự án đã được chương trình đất tỉnh Cửu Long (cũ)
nghiên cứu khá đầy đủ với bản đồ nền và được phân loại theo phát sinh và
gồm 3 nhóm đất chính sau:
a. Đất cát giồng
Đất giồng cát có diện tích là 14.806 ha chiếm 5,53% tổng diện tích tự
nhiên trong vùng. Là những giồng cát hình cánh cung chạy dài theo hướng
song song với bờ biển, tập trung ở 3 khu vực phía Nam gồm các huyện: Trà
Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành (thuộc tỉnh Trà Vinh) và rải rác các
hết diện tích bị ngập theo chế độ triều cường (vùng Láng Duyên Hải, Trà Cú,
Cầu Ngang) hay ngập đỉnh triều theo tháng hoặc mùa (Ngũ Lạc – Duyên
Hải). Hiện trạng canh tác rất hạn chế, chỉ trồng 1 vụ lúa mùa (mùa mưa) hoặc
1 vụ lúa kết hợp nuôi tôm – cá, một số khu vực chuyên nuôi trồng thủy sản.
Đất phù sa nhiễm mặn nhiều: 6.956ha, chiếm 3,04%. Thời gian mặn > 8
tháng đến quanh năm, độ mặn 10‰ (cao nhất > 18‰), phân bố chủ yếu ở
huyện Duyên Hải (Bao gồm các xã: Long Vĩnh, Đông Hải, Dân Thành, Long
Khánh, Trường Long Hoà). Đất bị ngập triều biển hàng ngày hay đỉnh triều
cường trong tháng. Phần lớn diện tích được sử dụng để nuôi trồng thủy sản
(tôm), một số diện tích trồng khoanh nuôi bảo vệ rừng (lá, đước, mắm …) và
sản xuất muối.
17
c. Đất phèn:
Đất phèn có diện tích 54.384ha, chiếm 27,33% diện tích tự nhiên gồm
các loại sau:
Đất phèn tiềm tàng không nhiễm mặn: phân bố chủ yếu ở Càng Long,
Cầu Kè và một ít diện tích rải rác ở Tiểu Cần, Châu Thành, thị xã Trà Vinh.
Đất có cao trình phổ biến 0,4 ÷ 0,8m, không bị ngập lũ chỉ ngập triều hàng
ngày hoặc đỉnh triều trong tháng. Phần lớn diện tích là trồng lúa theo cơ cấu 2
vụ (Đông Xuân + Hè Thu, Hè Thu - Mùa) hay một vụ lúa mùa.
Đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn ít: tập trung ở Châu Thành (Hưng Mỹ,
Phước Hảo, Thanh Mỹ) và Cầu Ngang (Hiệp Hòa, Kim Hoà), một số ít rải rác
ở Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Kè. Địa hình tương đối thấp (0,4 ÷ 0,6m). Hiện đang
sử dụng canh tác phổ biến 1 vụ lúa mùa, một ít diện tích canh tác 2 vụ lúa (Hè
Thu - Mùa).
Đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn trung bình: tập trung ở Châu Thành
(Long Hòa, Hòa Minh), Duyên Hải, Cầu Ngang và một ít diện tích rải rác ở
Trà Cú. Địa hình phổ biến cao 0,6 ÷ 1,2m. Đất không bị ngập lũ, phần lớn
ngập theo chế độ triều hoặc đỉnh triều trong tháng với độ sâu ngập 0,6 ÷
0,8m. Hiện trạng sử dụng phổ biến là vụ lúa mùa, 1 vụ lúa + nuôi tôm, cá.
Đất phèn tiềm tàng 41.955 21,08
1 Đất phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn 0 – 50 cm 6.012 3,02
2 Đất phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn 50 – 80 cm 14.752 7,41
3 Đất phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn 80 – 120 cm 9.271 4,66
4 Đất phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn > 120 cm 11.920 5,99
Đất phèn phát triển 12.429 6,25
5 Đất phèn phát triển, tầng phèn ở độ sâu 0 – 50 cm 4.830 2,43
6 Đất phèn phát triển, tầng phèn ở độ sâu 50 - 80 cm 6.960 3,50
7 Đất phèn phát triển, tầng phèn ở độ sâu 80 – 120 cm 625 0,31
8 Đất phèn phát triển, tầng phèn ở độ sâu > 120 cm 14 0,01
Nguồn: Sở Địa Chính Trà Vinh – 1998
19
Hình 2.4 Bản đồ thổ nhưỡng vùng nghiên cứu
2.1.5 Đặc điểm địa hình
Nhìn chung địa hình vùng nghiên cứu tương đối bằng phẳng, địa hình
nằm từ 0,5 ÷ 1,25m so với mực nước biển. Theo bản đồ địa hình cho thấy địa
hình thoải từ phía các cửa sông (giáp biển) dần về phía sông Mang Thít, địa
hình cao nhất (1,25m) tại Thị trấn Châu Thành và phía cửa sông Hậu. Với đặc
điểm địa hình đó thì khả năng tiêu thoát và lấy nước của các cống tuyến dưới
ít nhiều bị hạn chế, còn các cống tuyến trên của hệ thống thì khả năng lấy
nước và tiêu thoát nước là tương đối tốt. Do đó, các cống tuyến cuối chủ yếu
có tác dụng ngăn mặn, trữ ngọt từ các cống tuyến trên và tiêu thoát, lấy nước
khi cần thiết để bổ xung cho các cống tuyến trên. Với địa hình đó sẽ xuất hiện
một số vùng có địa hình thấp bị ảnh hưởng của ngập úng cục bộ do khả năng
tiêu thoát kém. (Bản đồ địa hình khu vực dự án thể hiện trong hình 2.5).
20
Hình 2.5 Bản đồ địa hình vùng nghiên cứu
2.1.6 Đặc điểm dân sinh kinh tế
Dân số bình quân vùng NMT năm 2006 là gần 1.000.000 người với
210.651 hộ, chiếm 6,04% dân số ĐBSCL. Tổng số hộ nông, lâm nghiệp, thủy
Nuôi trồng thủy sản vùng nước ngọt:
+ Nuôi tôm trong mương vườn:
Trong vài năm trở lại đây, mô hình nuôi tôm cá nước ngọt trong ao hồ,
mương vườn phổ biến, trong đó mô hình nuôi tôm càng xanh trong mương
vườn Mang lại hiệu quả kinh tế cao, nguồn giống chủ yếu là tôm tự nhiên
mua từ những người đóng đáy sông. Những người làm vườn trong tỉnh
thường đào mương vừơn chiếm 50% diện tích để nuôi tôm. Thông thường
1,0ha vườn cây ăn trái thả từ 10 ÷ 15kg tôm giống thu hoạch từ 150 ÷ 200kg
tôm, lợi nhuận từ 10,0 ÷ 20,0 triệu đồng/năm
+ Nuôi cá trong ao hồ:
22
Đây là mô hình khá phổ biến ở trong vùng Dự án nói riêng cũng như ở
toàn đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Các loại cá được nuôi bao gồm cá
tra, mè, trê phi, tai tượng. Thời gian nuôi từ 6 ÷ 8 tháng, năng suất từ 0,5 ÷
1,5tấn/ha tuỳ theo mật độ thả và lượng thức ăn
+ Nuôi tôm kết hợp trong ruộng lúa.
Mô hình nuôi tôm càng xanh kết hợp trong ruộng lúa đã xuất hiện từ
năm 1993 – 1994, đặc biệt là xã Mỹ Hưng Hoà, huyện Cầu Ngang. Mật độ
thả nuôi từ 3 ÷ 5 con/m
2
, nguồn giống chủ yếu là giống tự nhiên. Năng suất
bình quân từ 300 ÷ 400 kg/ha. Lợi nhuận thu được gấp 2 ÷ 3 lần trồng lúa.
Gần đây, một số hộ thuộc huyện trong vùng dự án nuôi thành công tôm
sú nước ngọt đã mở ra một hướng phát triển mới cho phong trào nuôi tôm sú
kết hợp trong ruộng lúa cho các huyện bên trong nội đồng.
2.3 Đặc điểm phát triển nông nghiệp
Dự án Thủy lợi Nam Mang Thít nhằm ngọt hoá vùng Nam sông Mang
Thít cùng với các dự án ngọt hoá khác đã thúc đẩy phát triển kinh tế nông
nghiệp của các tỉnh vùng ĐBSCL nói riêng và kinh tế nông nghiệp của cả
nước nói chung. Dự án Nam Mang Thít đưa sản xuất lúa một, hai vụ trong
HIỆN TRẠNG THỦY LỢI VÀ MÔ HÌNH THỦY LỰC
3.1 Hiện trạng thủy lợi
3.1.1 Hiện trạng thủy lợi vùng NMT
24
Vùng dự án Nam Mang Thít nằm trên địa bàn của 2 tỉnh Trà Vinh và
Vĩnh Long. Hiện nay, vùng NMT có hệ thống thủy lợi đã khép kín và đã
mang lại hiệu quả kinh tế cao khi hệ thống đi vào họat động, góp phần nâng
cao đời sống của người dân trong vùng. Tuy nhiên trong những năm trở lại
đây do yêu cầu gia tăng diện tích sản xuất, cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi sản
xuất nên đã có một số cống vùng cuối gặp phải những tồn tại về thủy văn thủy
lực do khẩu diện cống quá nhỏ.
(Bảng thống kê kênh rạch chính trong vùng dự án thể hiện trong bảng 3.1)
Vào mùa khô, chế độ dòng chảy của các đoạn sông trong khu
vực chịu sự chi phối mạnh của chế độ thủy triều biển Đông. Tại các vị trí như
Láng Thé, Cầu Quan, Càng Long,Vũng Liêm, Rùm Sóc, Trà Mẹt và Ba Tiêu
có sự trao đổi nước mạnh giữa trong đồng và ngoài sông.
Mục tiêu chính của dự án là lấy nước ngọt từ sông Mang Thít qua kênh
Trà Ngoa để cung cấp nước cho toàn bộ vùng dự án, tuy nhiên khả năng trao
đổi nước ở đây vào mùa khô rất yếu. Với sự trao đổi nước như trên thì nhiệm
vụ cung cấp nước ngọt cho các vùng phía dưới để sản xuất nông nghiệp là rất
khó khăn, không những không đủ nước để phục vụ sản xuất mà còn tạo điều
kiện cho mặn xâm nhập vào sâu trong nội đồng.
Tại khu vực Vũng Liêm và một phần huyện Càng Long: khu vực này
ảnh hưởng chủ yếu do dòng nguồn từ sông Mang Thít, triều và xâm nhập mặn
từ sông Cổ Chiên. Tuy nhiên do, biên độ triều ở sông Cổ Chiên nhỏ hơn so
với sông Hậu nên khả năng xâm nhập mặn tại đây không lớn. Khả năng trao
đổi nước tại hai vị trí Vũng Liêm và Càng Long tương đối tốt, việc cung cấp
nước cho sản xuất nông nghiệp và cải tạo chua phèn cũng rất hạn chế.
Khu vực Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang, Châu Thành và một phần
huyện Càng Long: vào mùa khô, toàn bộ khu vực này do tiếp nhận không đủ