Luận văn thạc sỹ NGHIÊN CỨU ỔN ĐỊNH CÔNG TRÌNH ĐẤT ĐẮP CÓ CỐT ĐỂ XÂY DỰNG ĐÊ KẾT HỢP ĐƯỜNG GIAO THÔNG ỨNG DỤNG CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
==============
“ NGHIÊN CỨU ỔN ĐỊNH CÔNG TRÌNH ĐẤT ĐẮP CÓ CỐT ĐỂ
XÂY DỰNG ĐÊ KẾT HỢP ĐƯỜNG GIAO THÔNG ỨNG DỤNG CHO
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu chung về hệ thống đê ở Đồng bằng sông Cửu Long 1
1.2. Điều kiện tự nhiên của ĐBSCL ảnh hưởng trực tiếp đến thiết kế và
xây dựng đê. 4
1.3. Những nghiên cứu trong và ngoài nước về thiết kế và xây dựng đê
trên nền đất yếu. 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 23
Chương 2.NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH CƠ CHẾ LÀM VIỆC CỦA ĐẤT
CỐT
1.
1.1. Khái niệm chung về đất có cốt 25
1.2. Quan điểm thứ nhất về đất có cốt 26
1.3. Quan điểm thứ hai về đất cốt 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 48
Chương 3.CHỌN SƠ ĐỒ THÍ NGHIỆM CỐT VÀ SỨC CHỐNG CẮT ĐẤT
CÓ CỐT PHỤC VỤ TÍNH TOÁN ỔN ĐỊNH ĐÊ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG

1.9. Đánh giá ưu, nhược điểm của 2 phương pháp. 158
KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất rộng lớn, có nhiều tiềm năng
nhưng chưa được khai thác triệt để. Mặc dù diện tích đất đai chỉ chiếm 12%
diện tích cả nước nhưng hàng năm ĐBSCL đóng góp hơn 50% tổng sản lượng
lương thực, thuỷ hải sản . . xuất khẩu gạo chiếm gần 90% kim ngạch xuất khẩu
của cả nước. Đến nay, nhìn chung tình hình kinh tế xã hội ở ĐBSCL phát triển
khá rõ nét, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân được cải
thiện.
Nhằm khai thác các tiềm năng để phát triển mạnh cả về nông nghiệp, công
nghiệp, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. . .hạn chế tối đa những thiệt hại do
thiên tai gây ra. Để khai thác tiềm năng to lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu
Long và hạn chế tối đa những thiệt hại do thiên tai gây ra, Nhà nước đã và đang
đầu tư xây dựng hệ thống các công trình kiểm sóat lũ và ngăn mặn như : Đê bao,
cống, kênh, đập Trong đó hệ thống đê đập đóng vai trò hết sức quan trọng.
Hầu hết các công trình được xây dựng ở ĐBSCL, đặc biệt là các công trình thuỷ
lợi, thường nằm trên vùng đất yếu có sức chòu tải rất nhỏ, tính biến dạng lớn,
thời gian đất cố kết chậm nên thường gặp các sự cố như : lún, sạt trượt mái đất,
nền đất … làm hư hỏng công trình. Để xử lý những sự cố vừa nêu hằng năm phải
tốn nhiều tiền của và công sức của nhà nước và nhân dân.
Để các công trình đất đắp cao trung bình trên nền đất yếu ổn đònh lâu dài và
không bò trượt người ta dùng nhiều giải pháp chống trượt như bệ phản áp, thép
bản , cọc tường vây bê tông cốt thép , vó cứng hoặc vó mềm…v v
Vấn đề chủ yếu mà các giải pháp trên giải quyết là tăng cường khả năng chống
cắt của đất. Xuất phát từ yêu cầu trên ta thấy phương pháp tăng cường ổn đònh
của mái dốc bằng các vật liệu chòu kéo (vó cứng hoặc vó mềm bằng gỗ, tre, xơ
dừa, lốp xe, thép , vải- lưới đòa kỹ thuật…v v ) cho các công trình đất đắp (như
đường vào cầu ,đê,đập nhỏ ….) tỏ ra kinh tế và thi công dễ dàng hơn so với giải
pháp khác. Phần vật liệu gia cường chòu kéo kết hợp hiệu quả với đất chòu nén

Dựa vào các giải pháp khoa học, ứng dụng những thành tựu của công nghệ
thông tin, phân tích sự ổn đònh của đê trên nền đất yếu và xử lý nền đất yếu để
tính toán và lựa chọn giải pháp thiết kế, thi công đê phù hợp với đặc điểm tự
nhiên của ĐBSCL.
2. Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu chung về hệ thống đê ở Đồng bằng sông Cửu Long
Đê biển, đê cửa sông, đê bao chống lũ là lá chắn bảo vệ an toàn cho nhân dân
vùng ven biển, vùng lũ, một số tuyến đê là tuyến phòng thủ an ninh quốc phòng.
Từ những năm đầu của thế kỷ 20, nhiều tuyến đê biển đã được xây dựng nhưng
ở quy mô nhỏ, qua thời gian sử dụng đê cũng được tu bổ bồi đắp và ổn đònh dần.
Vào thập niên 30 đến 40 thế kỷ 20, vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu, tuyến đê ngăn
mặn được đắp dài 51km, là một trong những trục giao thông ven biển quan
trọng.
Đầu thập niên 40, tuyến đê Tiếp Nhật – Long Phú cũng được đắp dọc sông Hậu,
đến năm 1973 căn bản hoàn thành với tổng chiều dài 63km.
Hệ thống đê Gò Công được xây dựng từ năm 1976 đến năm 1985 cơ bản hoàn
thành chiều dài đê biển 21,22km, cao trình đỉnh +3,5m, mặt 4 ÷ 6m.
Hệ thống đê Vónh Châu, tỉnh Sóc Trăng được xây dựng vào những năm 1994
-1995, đê dài 43km cao trình +2,8, mặt đê rộng 4m.
Hiện nay, hệ thống đê đã có ở ĐBSCL bao gồm:
a. Đê sông : Là những công trình dọc sông ngăn cách nước lũ và thủy triều ở
biển dâng vào sông và các vùng được bảo vệ khỏi bò ngập.
b. Đê biển : Là những công trình dọc ven bờ biển, ngăn cách nước biển với
các vùng đất đã lấn biển khỏi ngập nước mặn.
c. Đê ngăn lũ : Loại đê này có nhiệm vụ bảo vệ các khu vực sản xuất 3 vụ
lúa, bảo vệ các trung tâm dân cư, thò xã, thò trấn, thò tứ hoặc đê kết hợp với
đường giao thông chính vượt lũ. Đê loại này, có chiều cao đắp từ 4 ÷ 7m, có
khi đạt tới 10 m khi đắp qua các sông, rạch. Hiện nay số lượng loại đê này
chưa nhiều, đáng kể nhất là các tuyến đê như sau:
− Đê Tứ Tân bảo vệ diện tích 3.000ha sản xuất 3 vụ lúa của huyện Tân Hồng,










































 






























































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































c
Ph©n viƯn Kh¶o s¸t Quy ho¹ch Thủ lỵi Nam bé
c a m p u c h i a

S
«
n
g

T
i

n
biĨn t©y
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
Tun Kiªn Giang III
L = 90KM, B=6m, Z =2.5m
L = 90KM, B=6m, Z =2.5m
L = 90KM, B=6m, Z =2.5m
L = 90KM, B=6m, Z =2.5m
L = 90KM, B=6m, Z =2.5m
L = 90KM, B=6m, Z =2.5m
L = 90KM, B=6m, Z =2.5m

B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
Tun Cµ Mau II, L=52km
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
B=6m, Zb=3.5-3.0, Zs=3.0-2.5
(Tun xÐt thªm trong nghiªn cøu)
(Tun xÐt thªm trong nghiªn cøu)
(Tun xÐt thªm trong nghiªn cøu)
(Tun xÐt thªm trong nghiªn c øu)

L=86km, B=6m, Z=2.7-2.0
L=86km, B=6m, Z=2.7-2.0
L=86km, B=6m, Z=2.7-2.0
L=86km, B=6m, Z=2.7-2.0
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
Tun Cµ Mau IV, L=75km
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
B=6m, Zb=3.0-2.7, Zs=2.5-2.2
Tun Kiªn Giang II
Tun Kiªn Giang II
Tun Kiªn Giang II
Tun Kiªn Giang II
Tun Kiªn Giang II
Tun Kiªn Giang II
Tun Kiªn Giang II
Tun Kiªn Giang II


V
µ
m

C
á

T
©
y
S
.

V
µ
m

C
á

§
«
n
g
Tun Sãc Tr¨ng III, L=70km
Tun Sãc Tr¨ng III, L=70km
Tun Sãc Tr¨ng III, L=70km
Tun Sãc Tr¨ng III, L=70km
Tun Sãc Tr¨ng III, L=70km
















Biªn giíi
ghi chó
Hå DÇu TiÕng
K
.

C
h
Đ
t

S
Ë
y
S«ng kªnh

B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
Tun Sãc Tr¨ng I, L=62km
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
B=6m, Z=4.0-3.5
Tun Trµ Vinh II, L=129km
Tun Trµ Vinh II, L=129km
Tun Trµ Vinh II, L=129km

B = 6m, Z = 4.0-3.5
B = 6m, Z = 4.0-3.5
B = 6m, Z = 4.0-3.5
B = 6m, Z = 4.0-3.5
B = 6m, Z = 4.0-3.5
B = 6m, Z = 4.0-3.5
B = 6m, Z = 4.0-3.5
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
Tun Th¹nh Phó, L=73km
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
B = 6m, Z = 3.8-3.3
Tun Ba Tri, L=46km
Tun Ba Tri, L=46km
Tun Ba Tri, L=46km
Tun Ba Tri, L=46km
Tun Ba Tri, L=46km

B=6m, Z = 3.8-3.3m
L = 43km
L = 43km
L = 43km
L = 43km
L = 43km
L = 43km
L = 43km
L = 43km
L = 43km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
Tun B×nh §¹i, L=54km
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m
B=6m, Z=3.8-3.3m

































































§
Þ
n
h

A
n
C
ư
a

T
r
Ç
n

§

C
ư
a

T
i
Ĩ
u
C
ư
a


a
H
µ
m L

n
g
Cưa Gµnh Hµo
Cưa Bå §Ị
Cưa ¤ng §èc
Cưa B¶y H¸p
Cưa Lín
B¹c Liªu
Cµ Mau
Sãc Tr¨ng
VÜnh Long
BÕn Tre
R¹ch Gi¸ CÇn Th¬
Trµ Vinh
Hµ Tiªn
TP. Hå ChÝ Minh
Svay Rieng
Mü Tho
Cao L·nh
Long Xuyªn
T©n An
Thđ DÇu Mét
T©y Ninh
T©n Ch©u
Ch©u §èc

sông, ngăn dòng và đắp đê vùng thuỷ triều.
1.2.2. Đặc điểm thủy văn :
Chế độ thuỷ văn chòu ảnh hưởng rất lớn của dòng sông Mê-kông, thuỷ triều biển
Đông, thuỷ triều vònh Thái Lan và chế độ mưa của từng tiểu vùng.
a. Sông Mê-kông:
Diện tích lưu vực 795.000 km2. Tổng lượng nước hàng năm 450 tỷ mét khối.
Lưu lượng bình quân hàng năm khoảng 14.000 m3/s. Dòng chảy của sông Mê-
kông cũng chia ra làm 2 mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa khô kiệt. Ở thượng lưu sông
Mê-kông mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11. Nhờ sự điều tiết
của Biển Hồ nên vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long lũ đến chậm hơn 1 tháng và
kéo dài hơn dưới dạng lũ bẹt.
Hàng năm, Đồng Bằng Sông Cửu Long bò nước lũ của sông Mê-kông chảy tràn
về gây ngập lụt cho phần phía Bắc của vùng đồng bằng. Nước lũ truyền vào
đồng bằng theo các kênh rạch chằng chòt nối với sông Tiền, sông Hậu và từ phía
Bắc tràn vào theo biên giới của Việt Nam-Camphchia.
Thông thường, vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 nước lũ bắt đầu gây ngập tràn
và đạt đỉnh lũ cao nhất vào cuối tháng 9, sang đầu tháng 10. Diện tích ngập lũ ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm khoảng 1.400.000 hécta. Tuỳ từng nơi, thời
gian ngập lũ lâu từ 2 đến 5 tháng.
Mùa khô kiệt, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6.
Mùa khô kiệt, lưu lượng nước sông Mê-kông giảm dần, nhỏ nhất thường rơi vào
tháng 4 (có năm lưu lượng nước kiệt chỉ còn khoảng 2.000 m3/s), làm hạn chế
khả năng cung cấp nước ngọt và làm cho nước mặn xâm nhập sâu hơn vào đồng.
Thời đoạn chọn để lấn và ngăn dòng từ cuối tháng 2 đến trung tuần tháng 5 hàng
năm.
b. Nước thuỷ triều:
Gần như toàn bộ diện tích Đồng Bằng Sông Cửu Long chòu ảnh hưởng mạnh của
thuỷ triều biển Đông và vònh Thái Lan theo các sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ
Tây, sông Tiền, sông Hậu, sông Mỹ Thanh, sông Gành Hào, sông Bồ Đề và các
sông, rạch chằng chòt nối thông với các sông này.

Khu vực đồng bằng Sông Cửu Long được phân chia thành 4 khu vực chòu ảnh
hưởng :
Vùng 1 : Vùng chòu ảnh hưởng của lũ có độ sâu ngập < 0.5m
Vùng 2 : Vùng ngập nông có độ sâu ngập 0.5 ÷ 1m
Vùng 3 : Vùng ngập vừa có độ sâu ngập 1 ÷ 2m
Vùng 4 : Vùng ngập sâu có độ sâu ngập 2 ÷ 3m, có nơi độ ngập 3 ÷ 3.5m
và > 3.5m.

1.2.4. Đặc điển đòa hình:
ĐỘ NGẬP LỤT LỚN NHẤT NĂM 2000
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đồng Bằng Sông Cửu Long có đòa hình khá bằng phẳng, ngoại trừ một số ngọn
núi ở các tỉnh An Giang và Kiên Giang. Đại đa số diện tích có cao độ phổ biến
từ +(1,0÷1,5) mét trên mực nước biển (theo hệ mốc cao độ Mũi Nại). Ngoài các
khu vực có độ cao cục bộ khoảng +(3,0÷4,0) mét, vùng thấp nhất +(0,0÷0,5)
mét.
Do sự bồi đắp và lắng đọng của phù sa sông, biển đã tạo cho Đồng Bằng Sông
Cửu Long có đòa thế cao ở ven sông Tiền, sông Hậu và ven biển. Những vùng xa
sông chính, xa biển nằm sâu trong đất liền thì thấp và trũng.
1.2.5. Sự phân bố đất yếu ở ĐBSCL theo phương ngang.
Theo đặc trưng về đòa chất, đòa chất công trình, đòa chất thuỷ văn, chia năm khu
vực đất yếu khác nhau :
− Khu vực I:
Khu đất sét màu xám nâu, xám vàng (bmQIV) bao gồm các loại đất sét, á sét
màu xám nâu, có chỗ đất mềm nằm gối lên trên trầm tích nén chặt QI-II có
chiều dày không quá 5m.
Khu vực này thuộc đồng bằng tích tụ, có chỗ trũng lầy nội đòa, cao độ từ 1-3m.
Nước dưới đất gặp ở độ sâu 1 – 5m. Nước ở đây có tính ăn mòn acid và ăn mòn
Sulfat.
Khi xây dựng công trình ở vùng này, cần chú ý các hiện tượng đòa cơ: lầy hóa,

bùn á sét, bùn á cát (m, am, abmQIV), chúng nằm trực tiếp trên nền trầm tích
nén chặt QI-III. Chiều dày tầng trầm tích yếu ở đây không quá 60m. Đòa hình ở
khu vực này là đồng bằng tích tụ và đồng bằng tích tụ gợn sóng ven biển với độ
cao từ 1 – 2m đến 5 – 7m. Mực nước ngầm xuất hiện cách mặt đất 0.5 – 2m,
nước có tính ăn mòn. Khi xây dựng công trình ở đây cần có các biện pháp hợp lý
để phòng trách hiện tượng cát chảy và xói ngầm.
− Phân khu IIIb :
Đất phân ở khu này củng có những đặc trưng giống như phân khu IIIa nhưng
chiều dày tầng Holoxen không quá 40m.
− Phân khu IIIc :
Nền đất yếu ở đây có các tính chất, đặc trưng giống như IIIa, IIIb nhưng chiều
dày tầng Holoxen không quá 25m.
− Khu vực IV :
Nền đất yếu ở khu vực này thường gặp các loại điển hình là đất than bùn xen
kẹp bùn sét, bùn á sét, cát bụi và á cát, chúng cũng được chia thành các phân
khu như sau :
− Phân khu IVa :
Các loại đất thường gặp là : đất than bùn, sét, bùn á sét (mbQIV ), chúng thuộc
tầng đất yếu Holoxen có chiều dày không quá 25m, gối lên trên nền trầm tích
chặt QI-III.
Đòa hình vùng này có dạng đồng bằng tích tụ sinh vật biển có cao độ từ 1m đến
1.5m.
Mực nước ngầm xuất hiện ngay trên mặt đất, nước có tính ăn mòn hoá học đối
với kết cấu công trình. Khi xây dựng công trình trên khu vực này cần chú ý giải
quyết các ảnh hưởng lầy hóa đến chảy nhão của đất nền và hiện tương lún ướt
công trình.
− Phân khu IVb :
Đất yếu ở đây bao gồm than bùn, bùn sét, bùn á sét (abmQIV), thuộc tầng
Holoxen, chiều dày của chúng không quá 50m phủ trên tầng trầm tích QI-III và
N2.

BẾN TRE
HÀ TIÊN
CAO LÃNH
CHÂU ĐỐC
BÌNH DƯƠNG
BIỂN TÂY
BẢN ĐỒ
PHÂN VÙNG ĐẤT YẾU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
B
VĨNH LONG
SA ĐÉC
LONG XUYÊN
HỒNG NGỰ
IVb
IVa
V
MỸ THO
TÂN AN
IIIa
LIÊU
BẠC
SÓC
TRĂNG
Đất sét mầu xám nâu, xám vàng
Đất bùn sét ,bùn á sét,bùn á cát sen
Bùn á sét và bùn á cát ngập nước.
kẹp với các lớp á cát
Cát hạt mòn, á cát xen kẹp ít bùn á cát
Đất than bùn xen kẹp bùn sét, bùn
á sét, cát bụi, á cát

Một công trình đang san lấp để làm đường ở Malaysia trên nền đất yếu sâu 20,0
mét có sức kháng cắt (1,0÷5,0) Kpa. Giải pháp xử lý đất nền bằng vải đòa kỹ
thuật kết hợp với vật liệu truyền thống: cây tre
Trong vài năm gần đây, PVD thực sự được áp dụng rộng rãi trong các công trình
xây dựng ở đồng bằng Bangkok. Hai dự án lớn tiêu biểu là hệ thống đường cao
tốc vành đai Bangkok (Bangkok Outer Ring Road) và đường Bangkok –
Chonburi. Hai công trình này PVD được thiết kế với chiều dài (8,0÷12,0) mét,
bố trí trên mặt bằng theo lưới tam giác với khoảng cách 1,20 mét. Số liệu đo đạc
trong thời gian chất tải cho thấy PVD đã làm việc tốt.
2.3.1.2. Những sự cố về công trình đê đường:

Mất ổn đònh mái dốc có cốt ở Nhật.
Mất ổn đònh mái dốc Thái lan
Mất ổn mái dốc đê bao ĐBSCL (Việt Nam)
1.3.2. Ở trong nước:
Việt Nam, đắp đê trên nền đất yếu là một trong những loại công trình xây
dựng dân dụng có từ lâu đời và thường gặp nhất. Trong hệ thống các đê sông, đê
biển, đường ô-tô và đường sắt dài hàng nghìn kilômét, đi qua vùng đồng chiêm
trũng của Đồng Bằng Sông Hồng (Bắc Bộ) hay cắt qua các kênh rạch chằng chòt
của Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nam Bộ), có tỉ lệ không nhỏ nền đất đắp xây
đựng trên đất yếu.
Riêng trong lónh vực xây dựng đường ô-tô và đường sắt, chúng ta đã có nhiều
kinh nghiệm thành công và cũng gặp không ít thất bại. Tuy nhiên, cho đến nay
vẫn chưa có một đánh giá tương đối toàn diện về tình hình xây dựng và khai thác
nền đường, nhất là các đoạn nền đất đắp trên đất yếu.
2.3.2.1. Các giải pháp xây dựng nền đường trên đất yếu ở ĐBSCL hiện nay :
a. Giải pháp xử lý đất đắp :
− Về các nghiên cứu để đưa ra giải pháp thích hợp cho phương pháp đắp đê ở
vùng này thì có rất nhiều phương pháp. Cho tới thời điểm hiện nay thì
phương pháp kéo dài thời gian thi công vẫn là phương pháp được áp dụng

dụng cải tạo sự phân bố ứng suất lên đất yếu.
− Khi đất dưới nền quá yếu không thể sử dụng giải pháp xây dựng nền đất đắp
công trình đường theo từng giai đoạn hoặc thời gian cố kết quá dài, áp dụng
phương pháp này. Giải pháp thực hiện trong điều kiện tính toán về kinh tế
và kỹ thuật. Giá thành khi xây dựng bệ phản áp, dự trù quỹ đất mà bệ phản
áp chiếm dụng. Giải pháp này được dùng khi đắp đường trực tiếp trên nền
đất yếu có tác dụng làm tăng mức ổn đònh chống phình trồi cho nền đường
để đạt được yêu cầu về ổn đònh, cả trong quá trình đắp và khai thác lâu dài.
Nếu đắp nền đường và đắp bệ phản áp hai bên đồng thời không cần khống
chế tốc độ đắp, có thể thi công nhanh.
 Ưu điểm: Phướng pháp thi công đơn giản, nhanh gọn, tận dụng được
nguồn quỹ đất khai thác ngay tại đòa phương;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status