LUẬN VĂN THẠC SỸ NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MÔ HÌNH WEAP TÍNH CÂN BẰNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG VỆ - Pdf 15

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nguyễn Ngọc Hà
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MÔ HÌNH WEAP
TÍNH CÂN BẰNG NƢỚC LƢU VỰC SÔNG VỆ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội- 2012

LỜI CẢM ƠN Luận văn này được hoàn thành tại Khoa Khí tượng - Thủy văn và Hải
dương học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS. Nguyễn Tiền
Giang, người thầy đã luôn cổ vũ, động viên, tận tình hướng dẫn và góp ý chỉ bảo
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Học viên cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy, Cô
giáo trong Khoa khí tượng Thủy văn và Hải dương học; Bộ môn Thủy văn,
những người đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức chuyên môn và kỹ thuật

Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN BÀI TOÁN CÂN BẰNG NƢỚC LƢU VỰC
SÔNG VỆ 26
2.1. Giới thiệu mô hình WEAP 27
27
29
30
hình WEAP 31
2.2. Phân vùng tính cân bằng nước 33
2.2.1. Quan điểm, nguyên tắc phân vùng tính toán cân bằng nước 33
2.2.2. Phân vùng tính cân bằng nước 34
2.3. Tính toán nhu cầu dùng nước tại các tiểu vùng 36
2.3.1. Xác định, nhận diện các hộ ngành sử dụng nước chính 36
2.3.2. Căn cứ tính toán nhu cầu sử dụng nước 37
2.4. Tính toán dòng chảy đến tại các tiểu vùng 45
Chƣơng 3: CÂN BẰNG NƢỚC LƢU VỰC SÔNG VỆ 47
3.1. Cân bằng nước hiện trạng 2010 và đến các năm 2015, 2020 47
3.2. Tính toán cân bằng nước theo các kịch bản phát triển nguồn nước 52
3.3. Tính toán cân bằng nước theo các tỷ lệ phân bổ 63
3.4. Nhận xét 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69 ii

DANH MỤC BẢNG

Trang
Bảng 1. Phân phối dòng chảy trung bình tháng nhiều năm (m
3
/s) 21

Bảng 16. Kết quả tính toán cân bằng nước giai đoạn 2020 (triệu m
3
) 51
Bảng 17. Tổng hợp xây dựng các kịch bản tính toán 53
Bảng 18. Tổng hợp các kịch bản tính cân bằng nước giai đoạn 2011-2015 (theo các năm) 55
Bảng 19. Tổng hợp các kịch bản tính cân bằng nước giai đoạn 2011-2015 (theo các ngành) 55
Bảng 20. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2015 – kịch bản 1 58
Bảng 21. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m3) của các ngành năm 2015 – kịch bản 2 58
Bảng 22. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m3) của các ngành năm 2015 – kịch bản 3 59
Bảng 23. 59
Bảng 24. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2015 – kịch bản 4 60
Bảng 25. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2020 – kịch bản 1 60
Bảng 26. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m3) của các ngành năm 2020 – kịch bản 2 61
Bảng 27. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2020 – kịch bản 3 62
Bảng 28. Kết quả lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2020 – kịch bản 4 62
Bảng 29. Kết quả tính cân bằng giai đoạn 2011-2020 theo các tỷ lệ phân bổ 65
Bảng 30. So sánh tổng lượng nước thiếu (triệu m
3
) giữa hai kịch bản 4 và 5 65
iii

Hình 21. Xây dựng kịch bản và tính toán cân bằng nước theo các kịch bản 54
Hình 22. Biểu đồ kết qủa lượng nước thiếu giai đoạn 2011 – 2020 theo 4 kịch bản tính toán 56
Hình 23. Biểu đồ kết qủa lượng nước thiếu giai đoạn 2011 – 2020 của các ngành theo 4 kịch
bản tính toán 57
Hình 24. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m3) của các ngành năm 2015 – kịch bản 1 58
Hình 25. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m3) của các ngành năm 2015 – kịch bản 2 59
Hình 26. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2015 – kịch bản 3 59
Hình 27. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2015 – kịch bản 4 60
Hình 28. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m3) của các ngành năm 2020 – kịch bản 1 61
Hình 29. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m3) của các ngành năm 2020 – kịch bản 2 61
Hình 30. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2020 – kịch bản 3 62
Hình 31. Biểu đồ lượng nước thiếu (triệu m
3
) của các ngành năm 2020 – kịch bản 4 63
Hình 32. Biểu đồ so sánh cắt giảm tổng lượng nước thiếu (triệu m
3
) giữa kịch bản 4 và 5 66

iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT


sống sản xuất thì tình trạng thiếu hụt nước lại trở thành một trong những mối lo
ngại hàng đầu của con người.
Hệ lụy của tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên nước là không thể lường
trước, nó gây ra những ảnh hưởng to lớn tới từng cá thể trong cộng đồng sống
trên một lưu vực sông hay một vùng lãnh thổ; cuộc sống sinh hoạt và sản xuất sẽ
trở nên khó khăn hơn, dẫn đến tình trạng đói nghèo và những hệ quả liên quan.
Tính toán cân bằng nước nhằm mục đích xác định một vùng một lưu vực
hay một phân khu tiểu lưu vực nào đó có đủ nước, thừa nước hay thiếu nước hay
không trong các điều kiện phát triển tài nguyên nước khác nhau trong các trường
hợp bình thường hay hạn hán hay trong các trường hợp kịch bản nguồn nước đến
cùng với phương án khai thác sử dụng khác nhau.
Cân bằng nước được định nghĩa là sự thay đổi lưu lượng, tổng lượng dòng
chảy (số lượng nước) còn lại sau khi lấy lưu lượng, tổng lượng dòng chảy đến trừ
đi lưu lượng, tổng lượng dòng chảy đi. Cân bằng nước là nguyên lý chủ yếu được
sử dụng cho tính toán, quy hoạch và quản lý tài nguyên nước. Nó biểu thị mối
quan hệ cân bằng giữa lượng nước đến, nước đi và lượng trữ của một khu vực,
một lưu vực hoặc của một hệ thống sông trong điều kiện tự nhiên hay có sử dụng
của con người.
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu áp dụng mô hình tính toán
cân bằng nước trên lưu vực sông như một công cụ hỗ trợ quản lý tổng hợp tài
nguyên nước khi xem xét phát triển nguồn nước, quy hoạch tài nguyên nước,
điều hành quản lý nguồn nước trên một lưu vực sông ở trên thế giới cũng như ở
trong nước ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Việc áp dụng công cụ mô hình tính toán
cân bằng nước tham gia vào quá trình quản lý tổng hợp lưu vực nhằm giúp cho
2

nhà quản lý, các hộ ngành sử dụng nước trên lưu vực có cái nhìn tổng hợp và
toàn diện hơn về nguồn tài nguyên nước trên lưu vực, đồng thời, các bên liên
quan tìm kiếm sự đồng thuận, chia sẻ cơ hội và định hướng khai thác nguồn nước
trên lưu vực đáp ứng cho các mục tiêu trước mắt và lâu dài.

công trình khai thác nguồn nước, các yêu cầu về nước cùng với mối quan hệ
tương tác giữa chúng và chịu tác động của môi trường lên nó”.
(1) Nguồn nước được đánh giá bởi các đặc trưng: lượng và phân bố của nó
theo không gian và thời gian; chất lượng nước; động thái của chúng.
(2) Các biện pháp khai thác và bảo vệ nguồn nước: các công trình thủy lợi,
các biện pháp cải tạo và bảo vệ nguồn nước, bao gồm cả biện pháp công trình và
phi công trình, được cấu trúc tùy thuộc vào mục đích khai thác và bảo vệ nguồn
nước.
(3) Các yêu cầu về nước: các hộ dùng nước, các yêu cầu về mức bảo đảm
phòng chống lũ lụt, úng hạn, các yêu cầu về bảo vệ hoặc cải tạo môi trường cùng
các yêu cầu dùng nước khác.
Tác động của môi trường là những tác động về hoạt động dân sinh kinh tế,
hoạt động của con người (không kể các tác động về khai thác nguồn nước theo
quy hoạch). Những tác động đó bao gồm ảnh hưởng của các biện pháp canh tác
làm thay đổi mặt đệm và lòng dẫn, sự tác động không có ý thức vào hệ thống các
công trình thủy lợi…
Cân bằng nước hệ thống là một vấn đề rất xưa nhưng lại luôn mới, nó
vừa là phương pháp, vừa là đối tượng nghiên cứu. Cân bằng nước là mối quan
hệ định lượng giữa
nước đến và đi của hệ thống nguồn nước (toàn cầu, miền,
4

lãnh thổ, lưu vực, đoạn sông, ). Lượng nước đi gồm bốc thoát hơi nước, ngấm
xuống tầng sâu, nước cấp cho các nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực và dòng
chảy ra khỏi lưu vực. Lượng
nước đến hệ thống được thể hiện dưới các dạng
nước mưa, dòng chảy và nước hồi quy sau khi sử dụng.
Cân bằng nước hệ thống là sự cân bằng tổng thể giữa tài nguyên nước của
hệ thống; định lượng nước đến, đi khỏi hệ thống, trong đó đã bao gồm các yêu
cầu về


các hộ dùng nước biết trước và tôn trọng các tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng
nguồn nước dùng
GIBSI là tập hợp những mô hình bộ phận bao gồm:
- Mô hình thuỷ văn HYDROTEL;
- Mô hình phân giải vật lý có hệ thống viễn thám, hệ thống thông tin địa lý
- Mô hình USLE dùng cho vận chuyển phù sa và xói mòn đất;
- Mô hình lan truyền chất hoá học trong nông nghiệp dựa trên mô hình lan
truyền ni-tơ, phốt-pho, thuốc trừ sâu (sử dụng một mô đun trong mô hình
SWAT);
- Mô hình chất lượng nước QUAL2E, mô hình chất lượng nước để mô phỏng
các yếu tố: + Độ khuyếch tán và keo tụ các chất hoà tan trong nước (chất gây
ô nhiễm); + Sự phát triển loài tảo; + Chu trình của ni-tơ, phốt-pho; + Sự phân

Coliform; + Làm thông khí; + Nhiệt độ của nước;.
Mô hình BASINS được xây dựng bởi Văn phòng Bảo vệ Môi trường (Hoa
Kỳ). Mô hình được xây dựng để đưa ra một công cụ đánh giá tốt hơn và tổng hợp
hơn các nguồn phát thải tập trung và không tập trung trong công tác quản lý chất
lượng nước trên lưu vực. Đây là một mô hình hệ thống phân tích môi trường đa
mục tiêu, có khả năng ứng dụng cho một quốc gia, một vùng để thực hiện các
nghiên cứu về nước bao gồm cả lượng và chất trên lưu vực. Mô hình được xây
dựng để đáp ứng 3 mục tiêu: (1) Thuận tiện trong công tác kiểm soát thông tin
môi trường; (2) Hỗ trợ công tác phân tích hệ thống môi trường; (3) Cung cấp hệ
thống các phương án quản lý lưu vực. Mô hình BASINS là một công cụ hữu ích
trong công tác nghiên cứu về chất và lượng nước. Với nhiều mô đun thành phần
trong hệ thống, thời gian tính toán được rút ngắn hơn, nhiều vấn đề được giải
quyết hơn và các thông tin được quản lý hiệu quả hơn trong mô hình. Với việc sử
dụng GIS, mô hình BASINS thuận tiện hơn trong việc biểu thị và tổ hợp các
thông tin (sử dụng đất, lưu lượng các nguồn thải, lượng nước hồi quy, ) tại bất
kỳ một vị trí nào. Các thành phần của mô hình cho phép người sử dụng có thể


Tính đến thời điểm hiện tại, liên quan đến việc ứng dụng mô hình WEAP
ở các nước trên thế giới có khoảng hơn 30 dự án đánh giá nước ở các quốc gia
trên hầu hết các châu lục bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Mexico,
Brazil, Đức, Hàn Quốc, Ghana, Kenya, Nam Phi, Ai Cập, Israel và Oman.

Hình 1. Sơ đồ các nước, vùng lãnh thổ đã và đang ứng dụng mô hình WEAP

1.2.2. Trong nước
Các dự án phát triển nguồn nước những năm 80 chủ yếu của Viện Quy
hoạch thủy lợi dưới dạng các dự án quy hoạch chuyên ngành có liên quan đến
nguồn nước với các tên gọi như quy hoạch thủy lợi; quy hoạch tưới, tiêu; quy
hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước và bảo vệ môi trường, thời kỳ đó việc tính
toán cân bằng nước chủ yếu áp dụng công cụ mô hình MITSIM chạy trên môi
trường DOS. Sau những năm 2000 đặc biệt là sau năm 2002 với sự hỗ trợ nguồn
lực và công nghệ từ các tổ chức nước ngoài, tiêu biểu nhất là tổ chức DANIDA
của Đan Mạch đã hợp tác hỗ trợ thực hiện dự án “Tăng cường năng lực các viện
ngành nước” và đưa bộ công cụ mô hình MIKE do DHI (viện thủy lực Đan
Mạch) phát triển vào ứng dụng rộng rãi và mạnh mẽ ở Việt Nam, từ đó việc tính
toán cân bằng nước ngoài cơ quan đầu mối là Viện Quy hoạch Thủy lợi với kinh
nghiệm và thực tiễn sử dụng mô hình MITSIM cùng với “người dùng mới” từ
các cơ quan thuộc Viện Khoa học Thủy lợi (nay là viện nghiên cứu Thủy lợi);
8

các trường Trường Đại học (tiêu biểu là Đại học Thủy lợi); các Viện nghiên cứu
…vv đã bắt đầu tiếp cận ứng dụng mô hình MIKE BASIN.

Hình 2. Phạm vi và đối tượng các nghiên cứu điển hình và đào tạo từ dự án tăng cường năng
lực các Viện ngành nước (2001-2005)
Gần đây, tham gia vào việc tính toán cân bằng nước trên các lưu vực sông

các quá trình synop vĩ mô trên toàn miền Đông Á đồng thời với sự chi phối của
điều kiện mặt đệm với mức độ khác nhau. Trên cơ sở đó xây dựng lý thuyết về
kỳ dòng chảy sông ngòi gió mùa nhiệt đới Việt Nam. Tác giả đã đưa ra chỉ tiêu
phân định kỳ dòng chảy “Đường tần suất dòng chảy của các kỳ kế cận nhau
không được cắt nhau khi vẽ chúng trên cùng hệ tọa độ”. Hai công trình trên thực
sự là các công trình nghiên cứu cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu cân bằng
nước ở Việt Nam.
Trong giai đoạn này công cụ chủ yếu nghiên cứu cân bằng nước tự nhiên
là phương pháp tổng hợp địa lý kết hợp với một khối lượng khổng lồ các số liệu
quan trắc về mưa, dòng chảy, bốc hơi. Một loạt các bản đồ hoàn lưu khí quyển,
vùng khí hậu, bản đồ mưa, dòng chảy ra đời là các luận cứ khoa học giúp các nhà
hoạch định chiến lược đưa ra các quyết định chính xác trên phạm vi toàn quốc.
Tuy vậy do việc nghiên cứu còn gắn với địa giới hành chính cũng gây
không ít khó khăn trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước.
10

b. Giai đoạn nghiên cứu cân bằng nước có gắn với bài toán kinh tế nước
Khi nền kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu về nước ngày càng nhiều và
yêu cầu chất lượng ngày càng cao. Do vậy việc nghiên cứu nguồn nước được tiến
hành tỉ mỉ hơn. Đó là chương trình nghiên cứu tổng thể về cân bằng nước hệ
thống sông suối Việt Nam (Chương trình KC12), quy hoạch tổng thể đồng bằng
sông Hồng, sông Cửu Long, Tây Nguyên, Đồng Nai, vùng núi phía Bắc.
Ngoài việc đánh giá tổng lượng, nhiều mô hình toán đã được quan tâm
nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng để dự tính sự thay đổi của nguồn nước ngắn hạn
và dài kỳ. Một loạt các vấn đề như thủy văn - thủy lực hệ thống sông Hồng -
Thái Bình, hệ thống sông Mekông, quy hoạch thủy lợi, hoàn chỉnh các hệ thống
thủy nông đã được tiến hành.
Về nghiên cứu sử dụng nguồn nước các hệ thống tưới, từ những năm 1960
chúng ta đã thành lập một mạng lưới các trạm, trại thí nghiệm ở Hà Nội, các tỉnh
Hà Tây (cũ), Hải Hưng, Thanh Hóa, Nghệ An, và sau năm 1975 là các trạm ở

Tiêu chí Bảo đảm an toàn không xung đột với tiêu chí Linh hoạt chừng nào nguồn
nước dự trữ vẫn đủ đáp ứng các nhu cầu không định trước;
Có tính đến chi phí cơ hội thực do người sử dụng nước phải trả cho việc
cung cấp tài nguyên nước để cho các nhu cầu khác hoặc các yếu tố khách quan
trở thành yếu tố chủ quan. Điều này cho phép việc phân bổ nước có tính đến nhu
cầu nước cho môi trường với giá trị phi thị trường (chẳng hạn như cấp nước bảo
đảm đời sống thủy sinh). Điều này cũng hướng việc sử dụng TNN tới các hoạt
động có giá trị lợi nhuận cao nhất;
Có khả năng dự báo về kết quả của phương án phân bổ để phương án phân
bổ tốt nhất có thể đem lại giá trị vật chất thực tế và giảm thiểu tính bất định;

Có tính công bằng trong phương án phân bổ thể hiện ở chỗ bất cứ người
nào muốn dùng nước cũng đều có thể có cơ hội kiếm được lợi nhuận như nhau từ
việc sử dụng nước;
Sự chấp nhận của xã hội để phương án phân bổ đạt được các giá trị và
mục tiêu đã đề ra và vì thế được chấp nhận bởi các nhóm lợi ích khác nhau trong
xã hội;
12

Có tính hiệu quả để phương án phân bổ làm thay đổi tình trạng hiện tại
như suy thoái nước dưới đất hay ô nhiễm nước, và vì thế hướng tới mục tiêu
chính sách mong muốn;
Có tính bền vững và khả thi về hành chính để có thể thực hiện cơ chế
phân bổ và cho phép tác động của chính sách luôn được duy trì và phát huy.
Tại một số quốc gia, kinh nghiệm đề xuất các phương pháp, cơ chế phân
bổ chia sẻ nguồn nước như sau [30]
Cơ chế phân bổ trên cơ sở chi phí giá thành: Kinh nghiệm điển hình của
loại này là ở Pháp với việc thiết kế giá bán nước xuất phát từ mục tiêu mà giá bán
phải phản ánh được là: Trong thời kỳ căng thẳng, giá bán nước bao gồm cả chi
phí vận hành cộng với chi phí đầu tư công trình dài hạn; Trong thời kỳ không

nước, với việc phân cấp quản lý và chia sẻ trách nhiệm. Cụ thể là, Ủy ban
YRCC cấp phép lượng nước cho mỗi tỉnh hoặc khu tự trị và kiểm tra lưu lượng
nước tại ranh giới các tỉnh.Chính quyền của tỉnh có trách nhiệm đối với lượng
nước được phân bổ và sử dụng lượng nước đó theo quy định của địa phương
mình. Lượng nước phân bổ cho mỗi tỉnh được điều chỉnh tăng hoặc giảm một
trong các tỷ lệ với tổng lưu lượng dòng chảy tự nhiên được dự báo. Lượng nước
tăng thêm hay giảm đi của mỗi tỉnh đó lại được Ủy ban YRCC kiểm soát qua lưu
lượng nước sông tại các vị trí ở ranh giới các tỉnh. Ủy ban YRCC xây dựng kế
hoạch và thực hiện kế hoạch phân bổ hàng năm và hàng tháng.
Phương pháp phân bổ này có sự can thiệp của Nhà nước và cộng đồng
thông qua một ủy ban bảo vệ lưu vực sông và mang tính công bằng đối với các
địa phương. Trong tình huống thiếu nước các địa phương đều phải chịu rủi ro
như nhau và phải chủ động điều chỉnh nhu cầu nước của mình. Việc giám sát
chặt chẽ nguồn nước tại các vị trí thuộc ranh giới vào ra của con sông chảy qua
các tỉnh là một kinh nghiệm tốt có thể áp dụng đối với các lưu vực sông liên tỉnh
ở Việt Nam.
1.3.2. Trong nước
Ở trong nước, đã có một số nghiên cứu về phân bổ nguồn nước trên cơ sở
hiệu ích kinh tế sử dụng nước. Các nghiên cứu này sử dụng công cụ mô hình
GAMS để phân tích các phương án phân bổ nước tối ưu cho các lưu vực sông
14

Đồng Nai, sông Hồng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, kết quả của các nghiên
cứu này vẫn chưa được pháp quy hóa và chưa được ứng dụng trong thực tế.
1.3.3. Cơ sở, nguyên tắc phân bổ chia sẻ nguồn nước
Xét về hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành gồm Luật, Nghị định,
Thông tư thì hiện có 3 văn bản pháp lý quy định về vấn đề chia sẻ nguồn nước,
đó là:
- Luật Tài nguyên nước năm 1998,
- Nghị Định 179/1999 – hướng dẫn thi hành Luật tài nguyên nước, và

149/2004 điều 9)
Về ưu tiên trong cấp nước, những văn bản này quy định:
- Ưu tiên cao nhất cho cấp nước sinh hoạt trên mọi mục đích sử dụng khác
(Luật tài nguyên nước điều 20) và cung cấp thẩm quyền ưu tiên cấp nước trong
thời gian hạn hán (Nghị định 179/1999 điều 7.2), nhưng không có hướng dẫn rõ
ràng về quan hệ giữa các ưu tiên hoặc mục đích sử dụng được chọn nào, nếu có,
được ưu tiên hơn những mục đích sử dụng khác
Về quy hoạch kinh tế-xã hội, những văn bản này quy định:
- Các quy hoạch phải được điều chỉnh để phù hợp với khả năng của nguồn
nước (Nghị định 179/1999 điều 7.1);
- Ngoài ra, việc cấp phép phải dựa trên cơ sở các chiến lược phát triển kinh
tế-xã hội (Nghị định 149/2004 điều 5);
Các luật và nghị định do vậy cung cấp cơ sở cho việc xây dựng và thực thi
các hệ thống chia sẻ nước ở tất cả các nguồn nước. Luật và nghị định cũng nhận
diện được một số vấn đề cơ bản, như yêu cầu phải xác định các ưu tiên trong cấp
nước nhằm đối phó với tình trạng thiếu nước nhưng trong tình hình thực tế lại
không giải quyết đầy đủ các vấn đề. Và có thể nói rằng trong tình hình hiện tại
xem xét về vấn đề phân bổ chia sẻ nguồn nước trên lưu vực ở trong nước mới chỉ
16

được quan tâm trong vòng 5 năm trở lại đây và ở giai đoạn bước đầu nghiên cứu
phương pháp luận.
Nghiên cứu về vấn đề này ở ngoài nước cũng đã và đang có những chương
trình, dự án nghiên cứu thí điểm để tìm cách xây dựng và đưa ra bộ công cụ và
hướng dẫn thực hành tốt nhất cho việc chia sẻ nước trên một lưu vực sông, trên
một vùng hay thậm chí trên các lưu vực sông quốc tế với vấn đề chia sẻ nguồn
nước xuyên biên giới.
Các nguyên tắc và mục tiêu chính nêu trong Luật Tài nguyên nước và các
nghị định liên quan về chia sẻ nước có thể được hiểu như sau:
Nguyên tắc 1: sử dụng nước cần bền vững và không làm thoái hoá nguồn


Cơ cấu pháp lý và thể chế
Các quy tắc chia sẻ nước cụ
thể cho LVS, tiểu LVS sông
hay tầng nước ngầm:
Ø Mục tiêu và Ưu tiên
Ø Quy tắc chia sẻ và các giải
pháp thực hiện khác
“Quy hoạch” Lưu vực sông
Ø Quy hoạch chính thức quy
định trong luật, hoặc quá
trình quy hoạch khác
không quy định trong luật
nhằm thông báo các quyết
định về quy tắc chia sẻ
nước
Ø Các quyết định cân nhắc
giữa các mục đích sử dụng
nước cạnh tranh
Các nguyên tắc chính sách
và các mục tiêu về chia sẻ
Quá trình thực hiện
Ø Cấp phép
Ø Vận hành hệ thống cấp nước
Ø Quản lý việc khai thác
Các hướng dẫn xây dựng cơ
chế chia sẻ nước đảm bảo các
nguyên tắc và mục tiêu
Giám sát tính hiệu quả &
Đánh giá các quy tắc và/hoặc hướng dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status