Sưu tập một số mô hình sản phẩm mộc ghế băng ngoài trời và thiết kế mô phỏng các mẫu sản phẩm được lựa chọn - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, từ xưa đồ mộc được xem là một trong những sản
phẩm gắn liền với đời sống con người. Điều này càng rõ ràng hơn trong thực
tế vì khi con người cần nghỉ ngơi, làm việc và sinh hoạt luôn gắn liền với đồ
mộc, như giường để ngủ, tủ để cất đựng, ghế để ngồi, đều được dùng hàng
ngày và có ý nghĩa vật chất lẫn tinh thần rất thiết thực.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống con người
ngày càng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, thì nhu cầu về đồ mộc
lại càng lớn hơn và đồ mộc có chất lượng cao ngày càng được nhiều người
quan tâm hơn. Để phù hợp với phát triển xã hội, phù hợp với nhận thức và
nhu cầu của con người đã có nhiều loại sản phẩm mộc được ra đời với chức
năng, cấu tạo, kiểu dáng, chất liệu, rất đa dạng và đã đạt được những thành
tựu nhất định. Có nhiều mẫu mã sản phẩm mộc được tạo ra với chất lượng tốt
và có ý nghĩa lớn với cuộc sống hiện tại. Chính vì vậy các sản phẩm mộc có
giá trị cần được tìm hiểu và sưu tập, nhằm tạo nền tảng cho việc thiết kế các
sản phẩm mới.
Việc thu thập những loại hình sản phẩm được xã hội chấp nhân có ý
nghĩa lớn về mặt phát triển (tạo điều kiện để phát huy những kiểu dáng đẹp).
Trong số các loại hình sản phẩm mộc đa dạng và phong phú, sản phẩm ghế
nói chung và sản phẩm ghế băng phục vụ cho việc ngồi ngoài trời (trong
vườn, công viên, ) nói riêng rất có ý nghĩa cho cuộc sống hiện đại. Trước
tiên là nó có công dụng để ngồi tạo cho con người cảm giác thư giãn, nó còn
có thể là ngồi ăn uống, ngồi tâm sự, Nó thể hiện nếp sống văn minh trong
cuộc sống hiện đại. Do đó ý tưởng sưu tập các kiểu ghế băng trong vườn có ý
nghĩa to lớn và cần thiết.Nó giúp thống kê mẫu mã đẹp, tạo cơ sở cho con
người chọn kiểu dáng sản phẩm thích hợp và hoàn thiện chế tạo.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi được giao nhiệm vụ đi
nghiên cứu đề tài khoá luận với tiêu đề:
1
“Sưu tập một số mô hình sản phẩm mộc ghế băng ngoài trời và thiết kế
mô phỏng các mẫu sản phẩm được lựa chọn”

Với nội dung của đề tài là sưu tập và thiết kế mô phỏng mang tính “sơ
bộ”, có nghĩa là chưa qua chế thử và kiểm tra. Do vậy nội dung của đề tài có
giới hạn nhất định.
3
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài em đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp tham khảo tài liệu: Thư viện, internet và save tư liệu
dạng ảnh.
- Phương pháp phân tích cấu trúc sản phẩm theo lôgic về nguyên lý kết
cấu sản phẩm mộc.
- Phương pháp đồ họa để xây dựng tư liệu một bản vẽ của sản phẩm
mộc.
4
Chương 2.
TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM MỘC VÀ THIẾT KẾ
ĐỒ MỘC GIA DỤNG
2.1. Khái niệm về sản phẩm mộc và thiết kế đồ mộc gia dụng
2.1.1. Khái niệm về sản phẩm mộc hay đồ gia dụng
Đồ gia dụng, hiểu theo nghĩa thông dụng ban đầu là đồ dùng trong nhà
- chủ yếu chỉ đồ gỗ (đồ mộc), bao gồm cả dụng cụ nhà bếp. Tiếng Anh là
“Furniture”, bắt nguồn từ tiếng Pháp là “Fourniture”, có nghĩa là thiết bị.
Trong ngôn ngữ của các nước phương tây còn có một cách nói khác bắt
nguồn từ tiếng Latin Mobilis, có nghĩa là di động, như: tiếng Đức là Mobel,
tiếng Pháp là Meulbe, tiếng Italia là Mobile, tiếng Tây Ban Nha là Mueble,…
Như vậy khái niệm tổng hợp theo nghĩa gốc về đồ gia dụng có thể hiểu một
cách tương đối hoàn chỉnh là đồ dùng gia đình có thể chuyển dời.
Khái niệm đồ gia dụng hiện đại đã mang nghĩa rộng hơn, tức là đồ gia
dụng không nhất định giới hạn sử dụng trong gia đình, dùng ở những nơi
công cộng hoặc ở ngoài nhà cũng có thể gọi là đồ gia dụng. Đồ gia dụng
không nhất định có thể di động, nó có thể cố định trên mặt đất hoặc trên vật

Ngày nay gỗ tự nhiên đang dần dần khan hiếm và cùng với trình độ
khoa học kỹ thuật ngày càng cao, việc sử dụng gỗ tự nhiên vào làm đồ mộc
được hạn chế dần bằng các loại ván nhân tạo: ván dán, ván dăm, ván sợi hay
ván mộc,
Để nâng cao tiện nghi sử dụng, sản phẩm mộc dùng để nằm và ngồi có
thể được cấu tạo ở dạng có bọc đệm, được gọi là mộc bọc đệm hay mộc mềm.
2.2.2. Phân loại sản phẩm mộc
Như chúng ta đã biết, sản phẩm mộc rất đa dạng cả về mặt tạo dáng,
kết cấu, chất liệu cũng như chức năng sử dụng, Và chính từ sự đa dạng này
6
mà các cách thức phân loại sản phẩm mộc kéo theo cũng hết sức phong phú.
Để phân loại sản phẩm mộc chúng ta có thể căn cứ vào những quan điểm
khác nhau phù hợp với yêu cầu nghiên cứu, phát triển cũng như tổ chức xã
hội.
Trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển sản xuất hàng mộc, thì các
quan điểm phân loại sản phẩm mộc là rất có ý nghĩa. Sau đây là một số
phương pháp phân loại:
a. Phân loại theo vật liệu chính:
- Sản phẩm mộc gỗ tự nhiên: Là những sản phẩm mộc chủ yếu do gỗ
tự nhiên cấu thành.
Những sản phẩm gỗ tự nhiên như: Các đồ mỹ nghệ (bàn, ghế, bàn
thờ, ), sản phẩm mộc cao cấp gỗ tự nhiên ( bàn, ghế, giường, tủ, ) và môt số
sản phẩm khác.
- Sản phẩm mộc chất gỗ: Là những sản phẩm chủ yếu do gỗ tự nhiên
và vật liệu phức hợp các loại gỗ (như ván dăm, ván dán, ván sợi, ) cấu thành
(như hòm, tủ, bàn, cánh cửa, ).
- Sản phẩm mộc sử dụng vật liệu thay thế gỗ:
+ Thay thế một phần bằng kim loại, nhựa, kính như: mặt bàn, chân bàn,
chân ghế, ô cửa kính, chân giường, khung cửa nhôm, khung tủ nhôm, cánh tủ
kính (cánh kéo), đệm giường, đệm ghế,

chức năng là để nằm và nghỉ ngơi. Như giường đơn, giường đôi, giường 2
tầng, sạp trong đồ dụng cổ điển,
- Các loại khác: như giá treo mũ, giá để hoa, bình phong,
d. Phân loại theo nơi sử dụng:
- Sản phẩm mộc dân dụng: Là sản phẩm mộc được sử dụng trong các
gia đình, nó bao gồm: sản phẩm mộc dùng trong phòng khách, phòng ăn,
phòng ngủ, phòng trẻ nhỏ,
8
- Sản phẩm mộc dùng trong các công trình công cộng: sản phẩm
mộc dùng trong văn phòng (ghế nhân viên, tủ đựng tài liệu, ghế dài, ),
trường học (bàn, ghế), nhà thờ, chùa triền, hội trường, công viên,
e. Phân loại theo đặc trưng phong cách
- Sản phẩm mộc phong cách cổ điển: là sản phẩm mộc có đặc trưng
phong cách nào đó của lịch sử. Như đồ gia dụng kiểu truyền thống của Anh,
đồ gia dụng truyền thống của Trung Quốc: như đồ gia dụng nhà Minh, kiểu
nhà Thanh,
- Sản phẩm mộc hiện đại: là sản phẩm mộc không có đặc trưng
phong cách lịch sử rõ rệt, tương đối đơn giản, thanh thoát.
f. Phân loại theo hình thức kê đặt
- Kiểu tự do (kiểu di động): là những loại đồ gia dụng có thể căn cứ
vào sự dịch chuyển theo một yêu cầu nào đó hoặc thay đổi về vị trí khi sắp
đặt.
- Kiểu cố định, kiểu khảm: là đồ gia dụng cố định hoặc khảm vào vật
kiến trúc và công cụ giao thông, khi đã cố định thì thường không thay đổi
được vị trí nữa.
- Đồ gia dụng kiểu treo: treo trên tường, trong đó có một số di động,
một số cố định.
g. Phân loại theo đặc trưng kết cấu
* Phân loại theo phương thức kết cấu:
- Đồ gia dụng dạng cố định: là những loại đồ gia dụng mà giữa các

Tuy nhiên những cách phân loại nói trên thường chỉ mang tính chất
tương đối bởi vì nó phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau mà
người ta lựa chọn cách phân loại.
2.3. Yêu cầu chung của sản phẩm mộc
Mọi sản phẩm mộc nói chung đều cần đáp ứng được các yêu cầu sau:
10
a. Yêu cầu về công năng: Một sản phẩm mộc phải đảm bảo công năng, đáp
ứng được mục tiêu sử dụng, thoải mái trong sử dụng, an toàn và độ bền cao.
Phù hợp với môi trường sử dụng và phù hợp tâm lý người sử dụng. Yêu cầu
về tiện lợi trong quá trình sử dụng, ví dụ như cánh tủ đóng mở dễ dàng (tự
đóng), sản phẩm di chuyển dễ dàng, yêu cầu về tiện nghi ví dụ như nằm
ngồi thoải mái, hay bàn viết phải đủ cao để có khoảng trống để chân thoải
mái,
b. Yêu cầu về thẩm mỹ: Sản phẩm đòi hỏi phải đẹp, được người sử dụng yêu
thích. Để sản phẩm đẹp phải tạo dáng hài hoà, màu sắc vân thớ, sử dụng chất
liệu phù hợp tạo ra thẩm mỹ cao. Phù hợp với từng đối tượng và có ý nghĩa cả
về tinh thần.
c. Yêu cầu về tính kinh tế: Sử dụng nguyên liệu hợp lý, phù hợp điều kiện
công nghệ kỹ thuật, công nghệ gia công chế tạo dễ dàng, giá thành hạ. Sản
phẩm tốt có cấu tạo chắc chắn, bền lâu mang ý nghĩa kinh tế lớn đối với
người sử dụng cũng như đối với xã hội.
2.4. Các chỉ tiêu đánh giá sản phẩm mộc
Tương ứng với những yêu cầu đối với sản phẩm mộc như trên, ta cũng
có các chỉ tiêu để đánh giá một sản phẩm mộc như sau:
- Sản phẩm mộc có đảm bảo chức năng hay không?
Theo chỉ tiêu này thì để đánh giá sản phẩm mộc đạt yêu cầu hay không
thì ta phải xét đến chức năng của nó.
Bên cạnh đó còn có một số điểm quan trọng liên quan đến chức năng
sử dụng đó là kích thước sản phẩm, kích thước sản phẩm phải luôn tuân theo
kích thước của đối tượng sử dụng. Dựa vào đó thì chúng ta mới đánh giá được

2.5. Nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc
Người thiết kế đồ gia dụng giỏi cần kết hợp hoàn hảo công năng, vật
liệu, kết cấu, tạo hình, công nghệ, văn hoá bao hàm bên trong, cá tính rõ ràng
và kinh tế. Đối với người tiêu dùng, mong muốn có được đồ gia dụng thực
dụng, dễ chịu, an toàn, đẹp, giá rẻ, tốt nhất và nhiều loại. Còn đối với nhà sản
12
xuất thì mong muốn đơn giản, dễ làm để giảm được giá thành, thu được lợi
nhuận cần thiết. Để làm được điều này người thiết kế cần tuân theo những
nguyên tắc cơ bản về thiết kế đồ gia dụng như sau:
2.5.1. Nguyên tắc thực dụng.
Tính thực dụng là điều kiện quan trọng đầu tiên của thiết kế đồ gia
dụng. Trong thiết kế đồ gia dụng trước tiên phải thoả mãn công dụng trực tiếp
của nó, thích ứng yêu cầu riêng của người sử dụng.
Với mỗi sản phẩm cụ thể nào đó thì nó đều chứa đựng một chức năng
xác định, ngoài ra nó còn có thể có các chức năng phụ khác, ví dụ như: Chức
năng chính của ghế là để ngồi, chức năng phụ đôi khi còn được dùng để đứng
lên nó, chức năng chính của giường là để nằm, đôi khi nó có chức năng là để
ngồi, chức năng của tủ có khi chức năng chính là chứa đựng cũng có khi để
trưng bày, Như vậy khi thiết kế, sản xuất thì phải đáp ứng được chức năng
của nó, tức là sản phẩm nào thì có chức năng đó. Nếu đồ gia dụng không thể
thoả mãn yêu cầu công năng vật chất cơ bản thì dù ngoại quan có đẹp nhất
cũng không có ý nghĩa.
2.5.2. Nguyên tắc thẩm mỹ.
Nói đến thẩm mỹ là nói về nhu cầu tinh thần của con người, hiệu quả
nghệ thuật của thiết kế đồ gia dụng sẽ thông qua cảm quan của con người tạo
ra hàng loạt phản ứng sinh lý, từ đó đưa đến những ảnh hưởng mạnh đối với
tâm lý của con người. Tính thẩm mỹ của sản phẩm mộc được thể hiện ở nhiều
khía cạnh như: kiểu dáng, kết cấu, chất liệu, mầu sắc, Trong đó tạo kiểu
dáng, tạo kết cấu là các nội dung cơ bản của việc thiết kế sản phẩm mộc.
Tạo dáng sản phẩm mộc là một công đoạn trong thiết kế sản phẩm mộc.

phải đặt việc thiết kế trong khuôn khổ công nghệ cho phép sản xuất. Bởi một
điều rất đơn giản là dù người thiết kế có thiết kế ra được mẫu nào đó có đẹp
đến đâu, hay đảm bảo được các yêu cầu chung về sản phẩm mộc, đảm bảo
được độ bền, nhưng nếu công nghệ không cho phép sản xuất ra được mẫu
đó thì việc thiết kế mẫu đó cũng trở lên vô nghĩa với hiện tại bởi không thể
14
sản xuất ra được mẫu đó, do vậy việc thiết kế đã không đáp ứng được cho
việc ra đời của sản phẩm.
Mặt khác, thời đại ngày một tiến bộ hơn, khoa học kỹ thuật ngày càng
được nâng cao. Do vậy việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đồ mộc
là rất cần thiết. Bởi nó có thể làm giảm nhân công cơ bắp, nâng cao năng xuất
sản xuất hàng hoá, rút ngắn vòng quay kinh doanh sử dụng đầu tư cho sản
xuất có thể nhanh chóng sản xuất lượng hàng hoá lớn để đưa ra thị trường có
thể đáp ứng được nhu cầu rộng khắp, từ đó có thể nhanh chóng nhìn thấy
được việc sản xuất, nhanh chóng thu lại được vốn đầu tư. Từ đó đẩy mạnh
nền kinh tế phát triển nhanh, đời sống xã hội ngày một nâng cao. Chính vì
vậy, việc thiết kế đáp ứng được việc áp dụng khoa học kỹ thuật để sản xuất là
hết sức cần thiết và nguyên tắc này không thể thiếu được trong việc thiết kế
sản phẩm mộc.
2.5.4. Nguyên tắc kinh tế
Đồ gia dụng được coi là một mặt hàng giao dịch lớn trên thị trường
trong và ngoài nước, do đó khi thiết kế cần nhấn mạnh được tính thương
phẩm và tính kinh tế đối với đồ gia dụng, tăng cường công tác nắm bắt thông
tin thị trường, mở rộng công tác điều tra nghiên cứu cũng như dự đoán đối với
thị trường, trên cơ sở không ngừng hiểu biết về tình hình thị trường và xu thế
sản xuất đối với đồ gia dụng trong nước và trên thế giới, cần phải xem xét đến
các mặt như: nguyên vật liệu, kết cấu, gia công,…, để thiết kế ra được những
sản phẩm có giá thành thấp, thiết kế ra được những sản phẩm đồ gia dụng
thích hợp cho việc bán hàng, đạt được yêu cầu về chất lượng tốt, ngoại hình
đẹp, tiêu hao nguyên liệu ít, cũng như những yêu cầu về môi trường.

hai là hệ thống thay đổi linh hoạt theo tiêu chuẩn hoá.
Tính đồng bộ là chỉ đồ gia dụng không sử dụng độc lập mà là tính nhịp
nhàng và tính bổ xung cho nhau khi sử dụng đồng bộ các đồ gia dụng khác ở
nội thất. Vì thế khi thiết kế đồ gia dụng cần chú ý tới hiệu quả cảm giác và
công năng sử dụng của toàn bộ môi trường nội thất.
16
Hệ thống thay đổi linh hoạt tiêu chuẩn hoá nhằm vào sản xuất, tiêu thu,
nhu cầu xã hội và tính hiệu quả cao.
Tiêu chuẩn hoá, là cách nói về quá trình sản xuất và bán hàng đối với
sản phẩm, trong xã hội hiện nay, thiết kế đồ gia dụng sẽ dễ dàng bị đi theo hai
hướng: hướng thứ nhất là mâu thuẫn lẩn tránh, tức là không tiến hành thiết kế
một cách tỉ mỷ, mà sẽ đưa trực tiếp những bản thảo dạng thiết kế sơ bộ cho
người công nhân sản xuất, để cho người công nhân tự do thực hiện, hiệu quả
cuối cùng là tạo ra trạng thái không thể khống chế được; tình trạng thứ hai là
thiết kế trùng lặp, người thiết kế tiến hành công việc thiết kế một cách trùng
lặp và đơn điệu, làm cho tiêu hao rất nhiều công sức của người thiết kế, lại
khó tránh khỏi những sai sót, mặt khác đối với người thiết kế mà nói thì do
thiếu mất tính thi đua sáng tạo nên dễ dàng làm cho tư tưởng bị khô cứng, tạo
ra sự chán nản,… Thiết kế tiêu chuẩn hoá và hệ thống hoá đồ gia dụng là lấy
một số lượng nhất định các chi tiết hoặc sản phẩm đã được tiêu chuẩn hoá để
cấu thành một hệ thống tiêu chuẩn đồ gia dụng cho xí nghiệp, thông qua việc
tổ hợp để làm thoả mãn được tất cả các yêu cầu, làm cho những sản phẩm
không nằm trong tiêu chuẩn đạt đến mức thấp nhất, đồng thời nó cũng giải
phóng được lượng sức lao động trùng lặp đối với người thiết kế.
2.6. Mối quan hệ giữa người và đồ mộc
2.6.1. Cấu tạo và kích thước cơ thể người
a. Cấu tạo cơ thể người
Thiết kế đồ gia dụng đầu tiên cần phải nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ
thể con người với đồ gia dụng, phải hiểu được cấu tạo của cơ thể con người
cũng như hệ thống các tổ chức chủ yếu cấu thành nên hoạt động của cơ thể

dài như: ngồi, nằm, tì mặt, tựa, Được gọi là những mối quan hệ trực tiếp.
Những sản phẩm có mối quan hệ trực tiếp như: giường, bàn, ghế,
Trong mối quan hệ trực tiếp, các kích thước của sản phẩm thường có
ràng buộc tương đối chặt chẽ với kích thước con người hơn rất nhiều so với
18
mối quan hệ gián tiếp. Ví dụ: Kích thước chiều cao mặt ngồi luôn gắn liền với
kích thước từ đầu gối tới gót chân và tư thế ngồi của con người.
b. Mối quan hệ gián tiếp:
Mối quan hệ gián tiếp là những mối quan hệ không phải trực tiếp. Là
những sản phẩm mộc không có công dụng là lưng tựa, đỡ trực tiếp cơ thể
người nhưng nó giúp con người cất giữ đồ đạc như các sản phẩm mộc thu
nạp, cất đựng: tủ áo, tủ bếp,
Trong mối quan hệ gián tiếp kích thước của sản phẩm ít chịu sự ràng
buộc hơn bởi kích thước của con người, tất nhiên nó vẫn chịu sự chi phối nhất
định. Ví dụ: Chiều rộng của tủ có rộng hay hẹp một chút cũng không ảnh
hưởng đến trạng thái ổn định của con người.
19
Chương 3.
SƯU TẬP VÀ PHÂN LOẠI SẢN PHẨM GHẾ BĂNG NGOÀI TRỜI
3.1. Khái quát chung về loại hình sản phẩm ghế ngồi
Ghế là hình thức kết cấu của sản phẩm mộc với chức năng chung là để
đỡ cơ thể người ở các tư thế ngồi hoặc nằm. Như vậy bản chất chức năng của
ghế là đỡ trọng lượng và hình dáng người ở tư thế ngồi hoặc nằm. Với chức
năng như vậy nên kết cấu của ghế ngồi là một kết cấu chịu lực, các chi tiết ở
mặt ngồi và lưng tựa chủ yếu chịu lực uốn và kéo. Cấu trúc của ghế phải đảm
bảo đủ bền trong trường hợp tải trọng động lớn nhất do người sử dụng tạo ra
(ở đây đề cập tới tải trọng của cơ thể người chứ không phải của vật nào khác).
Chức năng của ghế là để ngồi với nhiều mục đích khác nhau cho nên
cấu tạo của ghế hết sức đa dạng, kết cấu chung của ghế là kết cấu giá đỡ.
Theo đặc thù sử dụng chúng ta có thể phân ra làm nhiều loại ghế khác nhau:

năng chung là để đỡ trọng lượng cơ thể người khi nằm hoặc ngồi. Ghế băng
có nhiều hình dáng kiểu loại khác nhau được dùng trong nhà hoặc ngoài trời
nhưng chủ yếu là dùng ngoài trời như: công viên, vườn,
Đối tượng sử dụng của sản phẩm:
Sản phẩm là ghế băng, sử dụng ngoài trời như: ngoài vườn, công viên
nơi công cộng. Ghế dùng cho từ 2-3 người có thể ngồi cùng một lúc. Sau
những giờ làm việc vất vả căng thẳng chúng ta có thể ngồi uống trà, đọc báo,
thư giãn ngắm cảnh thiên nhiên, Do vậy ghế được thiết kế nhằm đáp ứng
nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn của người sử dụng.
Dưới đây là một số sản phẩm đặc trưng mà trong quá trình khảo sát thu
thập được: (thể hiện trong phụ biểu 3, trang 76).
21
3.2.2. Giới thiệu một số sản phẩm ghế băng tiêu biểu:
a. Giới thiệu mô hình ghế băng Lutchen Bench:
Đây là một loại ghế băng được sử dụng cho từ hai đến ba người ngồi,
ghế có thể đặt ở trong nhà hoặc ngoài vườn để ngồi uống nước, thư giãn,
Với mục đích sử dụng như vậy cho nên hình dáng của nó chủ yếu phục vụ
việc đỡ tải trọng của cơ thể người nhằm đạt hiệu quả thoải mái nhất cho người
sử dụng.
Kết cấu và tạo dáng mỹ thuật, đa chức năng, mang lại cho người ngồi
cảm giác quý phái, sang trọng. Loại ghế này phù hợp với việc bày ngoài vườn
để uống trà, ngắm cảnh mùa hè, nó có kết cấu đơn giản và thoáng đoãng.
Nhìn vào chiếc ghế ấn tượng đầu tiên của chúng ta là phần lưng tựa và
hai tay tựa, với những đường nét cong điển hình đối xứng nhau qua phần tâm
của ghế làm cho chiếc ghế có vẻ sang trọng và cổ kính. Chiếc ghế này làm
22
chúng ta liên tưởng tới chiếc ghế của những bậc quan gia, nho sỹ ngày xưa
hay sử dụng để đọc sách làm thơ. Lưng tựa được chia làm ba phần: Phần giữa
và hai phần bên. Tại phần giữa thì ở trên là hình cung kiểu mặt trăng. Hai bên
có cảm giác như hình hai con rồng đang vươn mình lên trên vòng cung của

e. Giới thiệu mô hình ghế băng dạng Sofa
Mô hình sản phẩm:
25

Trích đoạn Dự tính nguyên vật liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status