công ty đa quốc gia – chủ thể đặc biệt trong quan hệ quốc tế - Pdf 22



Công ty đa quốc gia – chủ thể đặc biệt
trong Quan hệ quốc tế

I. Khái quát chung
1) Định nghĩa: Công ty đa quốc gia – multinational corporation (MNC) chỉ
công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất 2 quốc gia trở nên
2) Đặc điểm
- Công ty hoạt động và có nhiều trụ sở ở nhiều nước khác nhau (khác với
công ty quốc tế: chỉ tên gọi chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó)
- Có ngân sách lớn, ảnh hưởng đến mqh quốc tế & nền kt của các quốc gia.
Đóng vai trò quan trọng trong toàn cầu hóa.

- Bảo vệ tính độc quyền dịch vụ , công nghệ hay bí quyết sx ở 1 ngành, k
mún chuyển giao cũng là lí do mở rộng đa phương sx.
7) Rủi ro
- Mua & bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kì cung
cầu, cs vĩ mô…
- Chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính quyền địa phương thay đổi
chính sách, tỉ giá, lạm phát…
II. ĐQG- chủ thể đặc biệt trong QHKT
1) Nguyên nhân
- Do quy mô, hình thức tổ chức rộng lớn & phức tạp. K chịu quản lí riêng
của 1 tổ chức, quốc gia nhất định.
- Lợi ích to lớn cũng như những rủi ro tác động đến nền kt, chính trị, ổn định
quốc gia
2) Tác động đến quốc gia cũng như đời sống quốc tế
a) Tích cực:
- Mở rộng quy mô, tính liên kết giữa các quốc gia -> thay đổi mqh.
- Thay đổi bộ mặt nền kt của quốc gia nơi nó hoạt động: tạo việc làm, thay
đổi chính sách về thuế,ưu đãi, cung cấp hàng hóa và dịch vụ trước đó k có, mang
vốn,công nghệ &kiến thức quản trị.
b) Tiêu cực: mặt có lợi đôi khi cũng chính là mặt có hại.
- Ảnh hưởng tới văn hóa (ăn uống, thời trang ).Vd: Mcdonals với gần
29000 nhà hàng tại hơn 120 quốc gia, bị cáo buộc là cổ xúy cho phong trào ăn
uống có hại.
- Tranh giành vốn đầu tư giữa các quốc gia ->bất ổn chính trị & mqh quốc tế
- Cạn kiệt TNTN
- Thường công nghệ được chuyển giao cho các nước hay bị lạc hậu ->thiệt
hại nhất định & phụ thuộc của nước được đầu tư vào ĐQG.

1. Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc
Các nguồn lực chính bao gồm:gia.
- Vị trí địa lí sẽ tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay
cùng phát triển giữa các vùng trong một nước hay giữa các quốc gia với nhau. Mặc
dù nó chưa phải là yếu tố quyết định để đất nước đó phát triển nhưng là điều kiện
tiền đề quan trọng, đặc biệt là khi đất nước mở cửa giao lưu với bên ngoài. Trong
xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới, vị trí địa lý là một nguồn lực góp phần
định hướng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế.
- Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất. Đó là những
nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển
kinh tế. Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho
sự phát triển. Đó là điều kiện ưu đãi của tự nhiên và nhiều quốc gia trở nên khá
hơn nhờ những thuận lợi đó.

2. Dân cư và nguồn lao động
- Dân số là một nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế. Một quốc gia có
dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào nếu biết khai thác thì sẽ tạo nên một động lực
to lớn cho sự phát triển. Đặc biệt khi tham gia vào phân công lao động khu vực và
quốc tế, nhân lực sẽ là một nguồn nội lực quan trọng, một điều kiện thuận lợi, một
lợi thế cần thiết. Tuy nhiên yếu tố quyết định là tính trí tuệ của lao động. Vì thế số
lượng và chất lượng lao động là nhân tố quan trọng cho các quốc gia.
3. Nguồn vốn
- Nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng nhưng không mang tính quyết định cho nền
kinh tế. Quốc gia cần phải biết tận dụng và sử dụng nguồn vốn hợp lý.
4. Chính sách của chính phủ:
Đây là nhân tố mang tính quyết định. Nếu có cơ chế chính sách tốt thì các nguồn
lực tài chính tiềm năng của quốc gia sẽ được huy động và khai thác tốt hơn. Nó
cũng tạo ra môi trường hoàn thiện thông qua các công cụ vĩ mô, tiền tệ, chứng
khoán, đưa ra chính sách đào tạo lao động, đảm bảo hòa bình an ninh để phát triển
kinh tế, hợp tác bên ngoài.

xung đột, thậm chí là chiến tranh giữa các nước.
Chuyên đề 3: Nhân tố khoa học kĩ thuật (KHKT) tác động như thế nào đến nền
kinh tế và quan hệ kinh tế quốc tế (QHKTQT) của một quốc gia.
Khái niệm: Khoa học kỹ thuật là các ngành khoa học liên quan tới việc phát
triển kỹ thuật và thiết kế các sản phẩm trong đó có ứng dụng các kiến thức khoa
học tự nhiên.
Khoa học được thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: là một hình thái
tổ chức xã hội, là công cụ nhận thức, là một lĩnh vực hoạt động xã hội
KH là một hệ thống chỉnh thể các tri thức của tiến trình lịch sử xã hội
Là quá trình hoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về
thế giới với chức năng làm cho con người nắm được những quy luật
của hiện thực khách quan, ngày càng làm chủ được những điều kiện
sinh hoạt tự nhiên và xã hội
Kỹ thuật:
- Theo từ điển American Heritage Dictionary: là sự ứng dụng các
nguyên tắc khoa học vào thực tế để thiết kế, chế tạo và vận hành
các cấu trúc, máy móc, quá trình, hệ thống một cách kinh tế và
hiệu quả.
- Theo Ủy ban kiểm định HK: là lĩnh vực ở đó kiến thức về khoa
học tự nhiên và toán học được quyết định để phát triển các cách
thức khai thác một cách kinh tế các vật liệu và năng lượng thiên
nhiên vì lợi ích con người.
- Theo Count Rumfort: là sự ứng dụng của KH để phục vụ các nhu
cầu của cuộc sống.
KHKT đóng vai trò quan trọng và tích cực trong nền kinh tế và quan hệ kinh tế
quốc tế của một quốc gia.
Đối với kinh tế trong nước, KHKT góp phần tăng sức sản xuất trong nước nhờ cơ
1, khoa học kỹ thuật:
-cơ khí hóa => tạo đà cho sản xuất phát triển
-tạo ra phương tiện vận chuyển => tác động trực tiếp đến thương mại
- cách mạng về phương tiện thong tin liên lạc
- phương tiện thanh toán
2, môi trường quốc tế:
*)hòa bình tạo ra môi trường thuận lợi,
tạo ra lòng tin và ý muốn hợp tác giữa các nhà
nhập khẩu và xuất khẩu. Khi có chiến tranh => khủng hoảng
*)môi trường pháp lí: tạo điều kiện, đảm bảo
-pháp lí trên bình diện toàn cầu( quốc tế): WTO
- pháp lí trên bình diện khu vực(mậu dịch tự do, thương mại song phương)
3, các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực(liên chính phủ) => thực hiện liên kết kinh tế
quốc tế và khu vực( thương mại là đầu ra thậm chỉ là cả đầu vào của các yếu tố như hàng hóa,
lao
động, vốn, kỹ thuật…)
4, công ty đa quốc gia
-là trao đổi trong nội bộ các công ty ->
tăng theo nhịp độ đầu tư của nước ngoài
-thông qua việc trao đổi nội bộ hợp tác => chuyển giao công nghệ tác động
ngược trở lại quá trình sản xuất.
5, chính sách bảo hộ mậu dịch và chính sách tỉ giá
- 1 nước có tiềm năng xuất khẩu-> quan tâm đến chính sách tỉ giá
Eg: trung quốc luôn
để tỉ giá của đồng NDT thấp hơn giá trị thực để xuất
khẩu hàng hóa
+, cái nhỏ: đánh thuế theo số lượng
A, Thuế là phần trăm giá trị hàng hóa tại thời điểm mở tờ khai ở cửa khẩu
1,tác động của thuế
Khi có thuế - tăng sản xuất trong nước-> góp phần tạo ra công ăn việc làm,
an sinh
xã hội -giảm nhập khẩu: có ý nghĩa khi cân bằng các cân thanh toán,
đặc biệt là
khi quốc gia đang bị thâm hụt các cân thương mại
-giảm tiêu dùng->tích lũy vốn->đầu tư lại vào sản xuất
-tăng thu cho chính phủ-
đặc biệt là với những chính phủ nghèo thì việc
thu thuế rất quan trọng=>có nhiều nguồn để đầu tư.
-phân phối lại thu nhập: từ người tiêu dùng đến nhà sản xuất.
*, đối với 1 nươc lớn( sản xuất và tiêu dùng lớn): 1 mặt hàng nào đó mà rớt giá=>
hình thành mặt bằng giá mới của thế giới.
=>>thuế là 1 cách bảo hộ cơ bản và lâu dài
B, bảo hộ thực tế và bảo hộ danh nghĩa

Nôm na như này nhé: bảo hộ danh nghĩa chính là viêc đánh thuế trực tiếp vào nguyên liệu nhập
khẩu(bán thành phẩm)- bảo hộ thực tế la viêc đánh thuế trực tiếp vào thành phẩm.
-có 3 tình huống: +thành phẩm và bán thành phẩm(phụ tùng) chiếm thuế suất như nhau
+
bán thành phẩm chiếm thuế suất cao hơn trong giá trị gia tăng của thành
phẩm-> không quốc gia nào thực hiện
+ bán thành phẩm không chịu thuế hoặc thuế suất thấp hơn thành phẩm-
>nhiều quốc gia làm do bảo hộ thực tế lớn hơn bảo hộ danh nghĩa

-bảo hộ thực tế có ý nghĩa tạo công ăn việc làm
-biện pháp thuế là biện pháp hữu hiệu và được các quốc gia công nhận thừa nhận với nha
u

- Được tự so chuyển đổi qua vàng: 35USD/ounce
- Biên độ giao động +-1%
- Cơ chế giám sát chính sách tiền tệ IMF
Tất cả các đồng tiền nước khác neo vào đô la Mỹ theo biên độ
giao động là +-1% là điểm dở của BW

IV. Điều kiện tồn tại
- Nền kinh tế, sức mạnh kinh tế áp đặt của Mỹ
- Sự phụ thuộc nặng nề của các nước
- Lòng tin tuyệt đối vào Mỹ

V. Nguyên nhân sụp đổ
Lượng USD lưu thông ngoài Mỹ lớn hơn gấp nhiều lần dự trữ
vàng của Mỹ: Quy mô kinh tế toàn cầu tăng dần => nhu cầu USD
tăng lên, ít nhu cầu đổi USD ra vàng => FED in và phát hành
lượng tiền lớn gấp nhiều lần dự trữ vàng của Mỹ mà không sợ
lạm phát. Lượng USD này được xuất ào ạt ra nước ngoài nhằm
đem lại nguồn lợi về cho Mỹ + xu hướng bành trướng dự trữ USD
của các quốc gia khác

Nền kinh tế của các nước tư bản Tây Âu (Đức, Pháp,…) và Nhật
Bản dần phục hồi => tạo ra sự thay đổi trong so sánh lực lượng
=> các quốc gia hướng về lợi ích riêng của mình, không còn phụ
thuộc vào Mỹ như trước đây
Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam; chạy đua vũ trang, vũ trụ
với Liên Xô => thâm hụt cán cân thanh toán nặng nề

1. Sự suy giảm lòng tin vào đồng đôla
Các nền kinh tế của các nước Tây Âu và Nhật Bản phục hồi, dự
trữ USD của các nước này tăng lên => thâm hụt cán cân thanh

vì lợi ích kinh tế riêng => Bretton Woods sụp đổ là tất yếu

VI. Tác động của sự sụp đổ
- Hệ thống Bretton Woods sụp đổ => thế giới đi vào hệ thống tỉ
giá hối đoái thả nối => Các nước có thể chủ động hơn trong việc
cân đối lại cán cân thanh toán
- Đồng tiền các quốc gia không còn phải giữ tỉ giá cố định so với
đồng USD nữa, tạo điều kiện cho các đồng tiền khác vươn lên,
giảm sự phụ thuộc vào kinh tế Mỹ => Thương mại quốc tế được
thúc đẩy hơn, phát triển kiên kết kinh tế khu vực (EEC)

Sự suy yếu của đồng USD và sự sụt giảm uy tín của Mỹ tạo điều
kiện để một số đồng tiền khác như đồng Yên, Nhân dân tệ và
Euro vươn lên trở thành đồng tiền trung tâm trong thương mại
quốc tế => giảm bớt sự phụ thuộc vào đồng USD
- Hệ thống tiền tệ dễ hỗn loạn sau một thời gian dài

Chuyên đề 6: Sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods

1. Quá trình hoạt động của Bretton Woods cho tới khi sụp đổ (1944 – 1973)
a. Giai đoạn từ cuối những năm 1940 đến năm 1950
Đây là giai đoạn Bretton Woods hoạt động bình thường và hiệu quả nhất.
Xét đến bối cảnh lịch sử thì đây là thời kì chiến tranh thế giới thứ 2 mới kết
thúc, nước Mỹ lúc này gần như là cường quốc duy nhất trên thế giới với việc
nắm giữ trong tay khoảng ¾ trữ lượng vàng của thế giới. Đồng đôla Mỹ có
giá trị ổn định, thậm chí còn quý hơn vàng. Trong khi đó các nước Tây Âu
lại bị thiệt hại nặng nề sau chiến tranh. Hệ thống tiền tệ Bretton Woods ra
đời lấy đồng đôla Mỹ làm trung tâm. Đây còn được biết đến với giai đoạn
“khát đôla”, nghĩa là đồng đôla được săn đón rất mạnh mẽ. Đơn giản là bởi
vì các nước Tây Âu muốn có đôla để mua bán hàng hóa cũng như trao đổi

chính dẫn đến sự sụp đổ ấy. Có thể nói, ngay từ khi ra đời, Bretton Woods
đã chứa đựng trong nó nguy cơ sụp đổ. Việc không duy trì được những điều
kiện để tồn tại hay sự bất cập trong vị thế độc tôn của đồng đôla dẫn tới kết
cục tất yếu của hệ thống Bretton Woods.
Lý do thứ nhất phải kể đến lòng tin và sự phụ thuộc của các nước Tây Âu
cũng như Nhật Bản vào Mỹ đã thay đổi kể từ khi thế chiến II kết thúc cho
đến khi những dấu hiệu suy sụp của Bretton Woods xuất hiện vào đầu những
năm 1960. Khi Bretton Woods ra đời, nó có tác dụng là đưa ra một hệ thống
tiền tệ với tỷ giá cố định, đưa ra những nguyên tắc và quy định nhằm duy trì
sự ổn định trong các quan hệ tiền tệ thanh toán giữa các nước hội viên. Lúc
này, Mỹ với tư cách là nước thắng trận sau thế chiến II nắm giữ trong tay
một khối lượng tài sản khổng lồ. Trong khi đó, các nước Tây Âu và Nhật bị
thiệt hại nặng nề. Chính vì thế họ phải phụ thuộc vào Mỹ. Muốn mua bán
hàng hóa với Mỹ thì phải có đôla. Do vậy Bretton Woods hoạt động hiệu
quả. Nhưng sau này đến khoảng thập kỉ 50, các nước hồi phục dần dần và có
sự độc lập nhất định với Mỹ. Dự trữ đôla trong tay nước ngoài tăng lên
nhanh chóng trong khi Mỹ bị thâm hụt ngân sách do chi quá nhiều vào quân
sự, đặc biệt là cuộc chiến tranh Việt Nam. Cục diện lúc này đã thay đổi. Mỹ
không còn là siêu cường duy nhất. Thế giới bây giờ chứng kiến nhiều cường
quốc nổi lên. Vị trí độc tôn của Mỹ và của đồng đôla cũng dần bị sói mòn.
Niềm tin vào Mỹ không còn như trước nữa, đặc biệt là khi nguồn khả năng
quy đôla ra vàng của Mỹ giảm sút, hàng loạt cuộc săn vàng đã nổ ra. Thậm
chí một số quốc gia còn chỉ trích hệ thống Bretton Woods. Quan điểm trong
lòng khối tư bản chủ nghĩa bị phân hóa khi mà xu thế hòa hoãn, hòa bình
phát triển chiếm ưu thế. Mục tiêu chung chống cộng sản bị giảm sút nhiều.
Những điều kiện để Bretton Woods tồn tại bị lung lay.
Nguyên nhân thứ hai đó chính là do mâu thuẫn nằm trong lòng bản chất của
Bretton Woods. Như ta đã biết Bretton Woods hoạt động dựa trên tỉ giá cố
định là vàng được quy đổi tự do từ đô la với giá 1 đô tương ứng với
35ounce. Theo lý thuyết như vậy thì dự trữ vàng của Mỹ lúc nào cũng phải

- Tổ chức tiền tệ Quốc Tế IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) và hoạt động
một cách hiệu quả cho tới ngày nay.

Chuyên đề 6 : Sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton- Woods (BW)
 Lời mở đầu ( giới thiệu)

Tiền đóng một vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế bởi nó là vật
trung gian trong trao đổi hàng hóa. Chính vì vậy mà ngày nay IMF đang cố
gắng làm hết khả năng của mình để duy trì đồng tiền trong một nền kinh tế
đầy biến động ngày nay. Nhưng quay lại thời gian chúng ta cùng tìm hiểu về
một hệ thống tiền tệ đã hoạt động tích cực trong một thời gian dài nhưng
cuối cùng vẫn sụp đổ . Đó là hệ thống tiền tệ Bretton- Woods.
 Sự ra đời. Ngay trước khi chiến tranh thế giới II kết thúc, các nước đồng minh đã bắt
đầu xây dựng một hệ thống tiền tệ quốc tế mới nhằm thúc đẩy các quan hệ
thương mại va tiền tệ quốc tế. Năm 1944, một hội nghị tiền tệ quốc tế gồm
44 nước diễn ra ở Bretton Woods. Bang New Hampshire, Mỹ đã đưa ra một
loạt các biện pháp liên quan đến lĩn vực tài chính tiền tệ dẫn đến sự hình
thành hệ thống tiền tệ BW.

 Bản chất.
1. Chế độ tỉ giá.

Các quốc gia tham gia vào IMF và Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại ( GATT) phải cam kết chuyển đổi khôn ghạn chế đồng nội tệ đối với các giao
dịch trong cán cân vawngtx lai.

*Sự vận hành của BW( sụp đổ dần trong quá trình hoạt động)
Có 2 điều kiện tồn tại của BW quan trọng nhất đó là sức mạnh nền kinh tế
của Mĩ luôn luôn áp đặt vào nền kinh tế khác song song với đó là sự yếu thế của
các nước thành viên . Sau chiến tranh thế giới II , Mĩ là một cường quốc lớn mạnh
với trữ lượng vàng lớn nhất thế giới. Với sức mạnh kinh tế to lớn của Mĩ trên bình
diện thế giới và ưu thế tuyệt đối trong thế giới tư bản chủ nghĩa, đồng đôla Mĩ lúc
này được nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước tư bản, coi như phương tiện dự trữ
chính thức của mình. Mĩ nổi lên là nước xuất khẩu chính trong các nước tư bản và
tỏ ý luôn sẵn sang giúp đỡ các nước đồng minh. 30 tỉ USD là số tiền Mĩ đã đổ vào
châu Âu theo kế hoạch Marshall nhằm phục hồi các nước này. Và cũng đã có kết
quả rõ ràng . Điều này cũng làm gia tăng sức ảnh hưởng của đồng đôla trên thế
giới cũng như vai trò của Mĩ trong các nước tham gia hệ thống BW. Nhưng kèm
theo sự giúp đỡ của Mĩ còn có những sự áp đặt khác về mặt chính trị hoặc kinh tế
mà Mĩ đặt ra cùng với đó là lòng tin của các nước đó vào Mĩ cũng như đồng đôla
ngày càng tăng. Chính vì vậy lòng tin đó là điều kiện quan trọng thứ 2 để BW tồn
tại. Cũng chính vai trò là đầu tàu nên Mĩ có vai trò rất to lớn trong sự vận hành của
BW.
Thâm hụt ngân sách nhà nước và lạm phát ở Mĩ làm cho uy tín đồng đôla giảm.
Hơn nữa năm 1965, Mĩ sa lầy cuộc chiên tranh ở Việt Nam chi phí cho chiến tranh
quá nhiều. Cùng với đó là các cường quốc mới trỗi dậy cũng muốn khẳng định vị
thế và sức ảnh hưởng của mình. Sau đó, Tây Âu tự lập ra hệ thống tiền tệ châu Âu
do mất lòng tin vào Mĩ => mất lòng tin vào đồng đôla.
Nền kinh tế châu Âu phục hồi sau kế hoạch Marshall , cán cân thay toán bắt đầu có
dấu hiệu dịch chuyển theo hướng bất lợi cho Mĩ, áp lực chuyển đôla ra vàng ngày
càng tăng đối với Mĩ. Năm 1958, Mĩ bắt đầu càng có nhiều đôla dự trữ, mở đầu
thời kỳ bội thực đồng đôla.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status