HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
BỘ MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
Bài tập lớn
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM- TRUNG
QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN NAY
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Liên Hương
Lớp/ Khóa: H33 Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2008
2
giữa hai nước cũng được khôi phục và phát triển toàn diện cả về bề rộng
lẫn bề sâu.
Về hợp tác thương mại, đầu tư, những năm gần đây, Trung Quốc
luôn là một trong những đối tác quan trọng của Việt Nam trong giao dịch
ngoại thương. Năm 2000, kim ngạch trao đổi buôn bán 2 chiều giữa 2
nước đạt khoảng 2 tỷ USD. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2001, kim
ngạch buôn bán 2 chiều giữa 2 nước đạt gần 1,5 tỷ USD, trong đó Việt
Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đạt giá trị 794 triệu USD, tăng 85% và
nhập khẩu đạt 705 triệu USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm 2000. Các
mặt hàng công nghiệp có giá trị lớn mà Việt Nam xuất khẩu sang Trung
Quốc là dầu thô ( trên 2 triệu tấn, trị giá gần 419 triệu USD), tiếp đến là
hàng hải sản (trên 126 triệu USD), hàng rau quả (trên 78 triệu USD), cao
su (40 triệu tấn, trị giá 22 triệu USD), hạt điều (4.300 tấn, trị giá gần 14
triệu USD). Đồng thời, Việt Nam xuất khẩu 774.300 xe gắn máy trị giá
hơn 179 triệu USD, xăng dầu các loại (408.000 tấn, trị giá 96,5 triêu
USD), máy móc, thiết bị, phụ tùng (trên 90 triệu USD), nguyên phụ liệu
da, dệt may (trên 34 triêu USD), phân bón các loại (221.000 tấn, trị giá 32
triệu USD), sắt thép các loại (122.000 tấn, trị giá trên 25 triệu USD. Năm
2000, chính phủ Trung Quốc đã dành cho Việt Nam khoản hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) trị giá 55,2 triệu USD để cải tạo và nâng cấp Nhà
máy gang thép Thái Nguyên, nhà máy phân đạm và hoá chất Hà Bắc.
Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc còn dùng một ngân khoản khoảng 300
triệu USD cho Việt Nam vay không lấy lãi để xây dựng một số công trình
4
khác như nhà máy điện Cao Ngạn, nhà máy dệt Đà Nẵng, nhà máy thuỷ
điện, thuỷ lợi Rào Quán. Hiện nay, tại Việt Nam, Trung Quốc có khoảng
110 dự án còn hiệu lực, với tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 221 triệu
USD, đứng hàng thứ 22 trong số 60 nước và vùng lãnh thổ đang đầu tư tại
Việt Nam, 8 tháng đầu năm nay, Trung Quốc đã có thêm 26 dự án được
cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký trên 41,7 triệu USD, đứng hàng
hai chiều năm 1988 là 5 triệu USD; năm 1989 tăng gấp 10 lần năm 1988,
đạt 50,85 triệu USD; năm 1990 tăng gấp khoảng 3 lần so với năm 1989,
đạt 152,24 triệu USD; năm 1991 con số đó lên đến 290,48 triệu USD.
Trước tháng 11/1991, mậu dịch qua biên giới Việt Nam- Trung
Quốc là mậu dịch phi chính phủ, diễn ra theo quy luật cung cầu của kinh
tế thị trường, mang tính tự phát, vượt qua cả sự khống chế và kiểm soát
của chính quyền, cán cân thương mại thường nghiêng về phía Trung
Quốc, phía Việt Nam bị thua thiệt nhiều. Hàng hóa tiêu dùng, nhất là
hàng giả, hàng chất lượng kém, của Trung Quốc ồ ạt nhập vào Việt
Nam, đã gây ra một số hậu quả không tốt đối với đời sống và sản xuất của
Việt Nam. Chính vì vậy, tháng 6/1991, Chính phủ Việt Nam đã ra chỉ thị
nhấn mạnh những việc cần làm để quản lý việc qua lại và buôn bán qua
biên giới Việt- Trung.
III. TRAO ĐỔI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM- TRUNG QUỐC
TỪ SAU THÁNG 11/ 1991
III.1. Thành tựu.
6
Kể từ khi bình thường hoá, hoạt động thương mại giữa Việt Nam và
Trung Quốc đã phát triển theo chiều hướng toàn diện hơn, tích cực hơn và
đã đạt được những thành tựu đáng kể. Cùng với sự phát triển các mối
quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, cơ cấu xuất nhập khẩu (XNK)
cũng phát triển theo hướng ngày càng đa dạng hoá về mặt hàng và chủng
loại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cả hai bên.
Bảng: Kim ngạch XNK hàng hoá Việt Nam- Trung Quốc thời kỳ
1991- 2000.
Năm Tổng kim ngạch Việt Nam xuất Việt Nam nhập
1991 37,7 19,3 18,4
1992 127,4 95,6 31,8
1993 221,3 135,8 85,5
126 triệu USD hàng rau quả, 11 triệu USD hàng dệt may và 3,2 triệu USD
hàng giày dép. Đặc biệt, đối với cao su, Trung Quốc hiện đang nhập khẩu
60% sản lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam (gần 80.000 tấn).
Trao đổi thương mại giữa hai nước có tác dụng bổ sung cho nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân hai nước và cũng phù hợp với đặc thù về trình độ
phát triển kinh tế của hai nước trong những năm vừa qua.
III.2. Khó khăn và tồn tại.
III.2.1. Quan hệ ngoại thương giữa hai nước chưa tương xứng với
tiềm năng của mỗi nước.
8
- Tổng kim ngạch XNK chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn trong tổng kim
ngạch XNK của mỗi nước: Kim ngạch XNK của Việt Nam với Trung
Quốc chỉ chiếm 5% tổng kim ngạch XNK của Việt Nam nói chung và chỉ
bằng 0,4% tổng kim ngạch XNK của Trung Quốc.
- Là hai nước láng giềng, có truyền thống trao đổi buôn bán từ lâu
đời nhưng Việt Nam mới chỉ là nước xuất khẩu thứ 29 trong tổng số 220
nước xuất khẩu vào Trung Quốc, còn Trung Quốc cũng chỉ là nước xuất
khẩu lớn thứ 6 vào Việt Nam.
III.2.2. Quan hệ ngoại thương giữa 2 nước trong 10 năm qua phát
triển dựa trên sự chênh lệch rất rõ về trình độ.
- Trung Quốc chuyển đổi sang cơ chế thị trường trước Việt Nam 10
năm, là nước lớn, đông dân, có tiềm lực kinh tế mạnh và có kinh nghiệm
tiến hành các hoạt động ngoại thương với nhiều nước khác trên thế giới.
- Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc có năng lực cạnh tranh
mạnh do có ưu thế về chất lượng và chủng loại, có giá thành thấp hơn giá
thành của Việt Nam vì các doanh nghiệp Trung Quốc đủ lực và có chính
sách công nghệ tích cực.
- Chính phủ Trung Quốc có nhiều chính sách mạnh mẽ để đẩy mạnh
hoạt ngoại thương, đặc biệt là những chính sách phù hợp với thực tế của
từng nước đối tác. Ví dụ, đối với Việt Nam, Trung Quốc có chính sách
10
- Lượng hàng hoá Việt Nam sang Trung Quốc còn nhỏ bé, thậm chí
có mặt hàng cung không đủ cầu.
- Một số mặt hàng từng độc chiếm thị trường Trung Quốc nay đang
phải cạnh tranh với một số đối thủ đáng gờm mới xuất hiện như hạt điều
Ấn Độ.
- Các doanh nghiệp Việt Nam chưa có chiến lược xuất khẩu cụ thể
theo mặt hàng, theo thị trường sang Trung Quốc.
- Các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu thông tin, từ đó dẫn đến
nhiều doanh nghiệp thiếu hiểu biết cụ thể về thị hiếu người tiêu dùng, về
thị trường và về các doanh nghiệp XNK của Trung Quốc.
IV. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ VIỆT NAM- TRUNG QUỐC
TRONG THỜI GIAN TỚI
Thứ nhất, cùng với nhân loại, Việt Nam và Trung Quốc đã ở vào thế
kỷ XXI- thế kỷ của nền kinh tế tri thức, của xu thế hội nhập ngày càng
sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Kinh tế tri thức, xu thế hội
nhập và toàn cầu hoá sẽ đem đến nhiều cơ hội cho quan hệ thương mại
giữa hai nước.
Thứ hai, Việt Nam và Trung Quốc đã ký "Tuyên bố chung về hợp
tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và
nước CHND Trung Hoa" ngày 29/12/2000 và nhiều văn kiện khác nhằm
tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ ngoại thương giữa hai nước phát triển
trong thế kỷ XXI. Hiện nay, cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành
viên của tổ chức kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC).
Thứ ba, đối với Việt Nam, Trung Quốc là thị trường đầy tiềm năng :
- Trung Quốc đã là thành viên chính thức của WTO.
11
- Trung Quốc là thị trường có sức mua đa dạng, dễ tính với 1,3 tỷ
dân, có nơi thu nhập rất cao (18.000- 20.000 USD/ người/ năm), có nơi
chỉ thu nhập từ 250- 300 USD/người/ năm. Đây là thuận lợi rất cơ bản
điều kiện thuận lợi để phát triển hợp tác kinh tế- thương mại giữa Việt Nam
và Trung Quốc, trong đó đặc biệt nhấn mạnh quan hệ chính trị tốt đẹp giữa
hai nước. Trao đổi thương mại hai chiều tăng trung bình 20%/ năm và hai
nước đang hướng tới mục tiêu đạt kim ngạch 15 tỷ USD vào năm 2010.
Điều này một lần nữa khẳng định triển vọng quan hệ thương mại Việt-
Trung đang mở ra một tương lai tươi sáng, chứng tỏ mối quan hệ Việt-
Trung ngày càng phát triển.
13