HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
TIỂU LUẬN
MÔN: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
Đề tài:
Quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam –
Trung Quốc từ năm 1991 đến nay.
Hà Nội, 4/2009
LỜI NÓI ĐẦU
Xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá đang trở thành xu thế tất yếu trong giai
đoạn hiện nay. Với Việt Nam, hội nhập quốc tế, trước hết và chủ yếu trên bình
diện kinh tế, là một nội dung quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta hướng tới việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nước nhà. Việt Nam chủ động, tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế với các nước trong khu vực và với nhiều nước trên thế
giới. Và quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – Trung Quốc cũng là một trong
số đó.
được vị thế của mình trên trường quốc tế. Với việc tăng cường mở cửa, hội nhập
kinh tế quốc tế với bên ngoài, đẩy mạnh hợp tác, giao lưu đối thoại, Asean đang
có những bước tiến vững chắc. Đặc biệt, việc Asean – Trung Quốc đi đến thoả
thuận việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do hai bên (ACFTA) đã mang lại
những hiệu quả thiết thực thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam –
Trung Quốc.
3. Tình hình hai nước
Phải nói rằng, sự kiện vào tháng 11 năm 1991 đã đưa quan hệ Việt –
Trung bước sang một trang sử mới theo tinh thần “khép lại quá khứ, mở ra tương
lai”
1
. Từ đó đến nay, quan hệ giữa hai nước đã không ngừng mở rộng và phát
triển trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá…và ngày càng đi vào chiều
sâu. Từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước năm 1991, trên cơ sở những
nguyên tắc được ghi nhận trong các " Thông cáo chung" năm 1991, năm 1992,
năm 1994, năm 1995 và " Tuyên bố chung" năm 1999 nhân các cuộc gặp giữa
lãnh đạo cấp cao hai nước, quan hệ hữu nghị truyền thống, tin cậy lẫn nhau, bình
1
Nguyễn Đình Bin - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
đẳng, cùng có lợi giữa hai nước đã phát triển nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực,
giao lưu giữa các ngành, các cấp diễn ra thường xuyên. Đặc biệt trong chuyến
thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu
(2/1999), lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí xây dựng quan hệ hai nước theo
khuôn khổ mới hướng tới thế kỷ 21 là 16 chữ: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và 4 tốt “anh em tốt, đồng chí tốt, bạn
bè tốt, láng giềng tốt”. Trên cơ sở quan hê chính trị tốt đẹp, quan hệ kinh tế -
thương mại Việt – Trung cũng đã có bước phát triển đáng kể qua việc hai nước
đã ký kết Hiệp định thương mại vào ngày 7/11/1999. Đến nay, hai nước đã ký
hơn 20 văn kiện hợp tác như: Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần; Hiệp định về
ta. Trong tiến trình hội nhập này, Việt Nam đặt ưu tiên cao cho việc mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ vốn, kinh
nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiến cho sự nghiệp công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nước. Và hàng loạt các nội dung liên quan đến việc đẩy mạnh
thu hút đầu tư nước ngoài đã được thể hiện trong các Văn kiện của Đảng như:
“song song với việc khai thác các nguồn lực trong nước, cần tạo các điều kiện để
thu hút nhiều hơn và có hiệu quả hơn vốn và công nghệ bên ngoài. Thực hiện các
chính sách rộng rãi để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài”
3
; “thu hút mạnh
nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế,
đa dạng hoá các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu
tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng”
4
hay như
chính sách “tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực bên ngoài. Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng,
gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”
5
.
Trên cơ sở đó, trong quan hệ kinh tế - thương mại với Trung Quốc, hai
nước cũng đặt ra chính sách đầu tư hợp lý, cụ thể là: “…khuyến khích và ủng hộ
3
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
4
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
5
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
các doanh nghiệp hai bên triển khai các dự án hợp tác lớn, mở rộng hợp tác kinh
hộ đầu tư lẫn nhau” (2/12/1992). Từ đó đến nay, đầu tư của Trung Quốc vào Việt
Nam đã có nhiều thay đổi về số lượng, hình thức và phương thức đầu tư. Tuy
nhiên, quan hệ đầu tư giữa hai bên chủ yếu thường nghiêng về các doanh nghiệp
Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính
đến ngày 20/4/2006, Việt Nam chỉ có một dự án đầu tư vào Trung Quốc với tổng
vốn đầu tư là 1.880.000 USD. Tại sao lại có sự chênh lệch quá lớn như vậy? Có
thể đó là do chính sách đổi mới, thu nhập đầu người, khả năng sản xuất, trình độ
kỹ thuật, công nghệ của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc. Mặc dù Đảng ta cũng
đưa ra chính sách khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước
ngoài để mở rộng thị trường, song tiềm lực chưa cho phép nên Việt Nam vẫn
nhận đầu tư từ Trung Quốc là chủ yếu. Do đó, bài tiểu luận chỉ tập trung phân
tích tình hình đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam.
1. Tại sao Trung Quốc lại muốn đầu tư vào Việt Nam?
Trước hết, Việt Nam là nước có vị trí địa lý vô cùng thuân lợi, phía Đông giáp
biển, phía Bắc giáp Trung Quốc, nằm ở vị trí trung tâm châu Á - Thái Bình
Dương trên các tuyến đường hàng không và hàng hải quốc tế, có nền kinh tế phát
triển nhanh chóng và ổn định. Hơn nữa, Việt Nam còn có vị trí địa kinh tế rất đặc
biệt: là “cầu nối” Đông Nam Á với Đông Bắc Á nói chung, Asean với Trung
Quốc nói riêng; có đường bờ biển dài 2500 km với nhiều cảng nước sâu vào loại
bậc nhất ở Đông Nam Á, với nhiều thành phố công nghiệp lớn nối tiếp nhau dọc
theo bờ biển.
7
Ngoài ra, Việt Nam còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú, với thị trường trên 85 triệu dân kết nối chặt chẽ với thị trường khu vực
ASEAN rộng lớn. Lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công của Việt Nam thấp
hơn Trung Quốc khoảng 25-30% cũng là một trong những lợi thế để Việt Nam
thu hút đầu tư của nước ngoài.
7
PGS.TS Lê Văn Sang, “Nâng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc lên tầm
8
TS. Đỗ Tiến Sâm và GS.Furuta Motoo, “Chính sách mở cửa hội nhập quốc tế và sự tác động
của nó đến sự phát triển và ổn định của Việt Nam”
9
GS.Liêu Thiếu Liêm, “Công tác đối ngoại của Trung Quốc đầu thế kỷ mới”, Tạp chí nghiên
cứu Trung Quốc 2/2003, tr.43.
đầu tư còn tương đối nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của hai nước.
Số công trình đầu tư dưới 1 triệu USD/công trình chiếm 60%, chủ yếu tập trung
vào những ngành khách sạn, ăn uống, chế tạo kính…Nếu ta thử đặt một phép so
sánh với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1988-
1999, số lượng vốn đăng ký quy mô dự án bình quân là 13.4 triệu USD/dự án, thì
có thể thấy bình quân vốn đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc còn có
khoảng cách xa so với vốn đầu tư bình quân của một dự án nước ngoài vào Việt
Nam trong thời điểm trên. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, cùng với
những thay đổi về ngành nghề đầu tư, năng lực của các nhà đầu tư Trung Quốc,
vốn đầu tư bình quân mỗi dự án đã tăng lên khoảng 2 triệu USD. Nhưng tỷ lệ
trên vẫn còn thấp so với mặt bằng đầu tư chung của các nước khác vào Việt Nam.
Không chỉ thế, thời gian của các dự án đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam
thường chỉ trong khoảng 20 năm. Tại sao quy mô các dự án của Trung Quốc đầu
tư vào Việt Nam lại tăng chậm như vậy. Để lý giải cho điều này, ta chỉ có thể căn
cứ vào tình hình thực tế của cả hai nước. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều theo
mô hình quản lý kinh tế cũ, mới chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường. Do
vậy, nhiều doanh nghiệp của hai nước còn gặp khó khăn về vốn, thiếu kinh
nghiệm đầu tư ở nước ngoài. Hơn thế, do Trung Quốc cũng là một nước đang
phát triển như Việt Nam, mức sống, thu nhập đầu người không cao, cũng là một
nước cần thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài để xây dựng và phát triển
đất nước nên làm sao có thể đủ tiềm lực đầu tư nhiều, nhanh và mạnh cho Việt
Nam. Bên cạnh đó, sự liên tục thay đổi các chính sách đầu tư, luật đầu tư của
Việt Nam khiến cho các nhà đầu tư Trung Quốc chưa thực sự yên tâm khi đầu tư
vào đây. Nói tóm lại, các doanh nghiệp Trung Quốc đã quán triệt chính sách đối
sản phẩm nông nghiệp, gia công chế biến chè xuất khẩu, sản xuất lắp ráp máy
10
http:// www.vietnamchinalink.com
đếm tiền, sản xuất thức ăn gia súc
11
…thì bước vào thế kỷ 21 cơ cấu đầu tư của
Trung Quốc đã có sự chuyển dịch dần sang đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai
thác mỏ, xây dựng nhà máy luyện mangan, nhôm, gang thép, lĩnh vực công
nghiệp, cơ sở hạ tầng…
Bên cạnh đó, công nghệ đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt
Nam đã từng bước được chuyển biến bởi sự xuất hiện mới nhiều doanh nghiệp
lớn, trang thiết bị tốt hơn so với trước đây. Tuy nhiên, các thiết bị, máy móc công
nghệ đó còn sử dụng kỹ thuật công nghệ, kỹ thuật chưa cao so với các nước phát
triển, và những kỹ thuật và công nghệ sản xuất đó “thuộc loại trung bình, không
tiên tiến và hiện đại bằng Nhật Bản, các nước tư bản chủ nghĩa Âu - Mỹ và
Asean”
12
.
d. Cơ cấu theo hình thức đầu tư
Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam chủ yếu theo ba hình thức: đầu tư 100%
vốn, liên doanh và kinh doanh hợp tác. Do giai đoạn đầu các doanh nghiệp Trung
Quốc đầu tư mang tính chất thăm dò, tìm hiểu thị trường Việt Nam là chính và
cũng do Việt Nam “muốn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn hình
thức liên doanh để tạo điều kiện phát triển các đối tác sở tại, đồng thời đưa ra
những biện pháp thắt chặt hoặc hạn chế hình thức 100% vốn nước ngoài”
13
, nên
giai đoạn này hai hình thức đầu tư chủ yếu mà Trung Quốc sử dụng là liên doanh
và 100% vốn Trung Quốc.
phương.
Qua năm đặc điểm về thực trạng tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Trung
Quốc ở Việt Nam, ta có thể thấy được phần nào mức độ đầu tư của Trung Quốc
chưa tương xứng với quan hệ giữa hai nước. Nhìn chung, số dự án, số vốn đầu tư
của Trung Quốc vào Việt Nam vẫn đang tiếp tục tăng nhưng chỉ giữ ở trạng thái
bình ổn, không có sự đột phá, chuyển ngoặt. Tuy nhiên, ta không thể nào phủ
nhận hoàn toàn những ích lợi mà đầu tư từ “người bạn láng giềng” Trung Quốc
đã mang đến cho Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
IV. Đánh giá
1. Tác động của đầu tư từ Trung Quốc đối với Việt Nam
a. Tác động tích cực
Trước hết, đầu tư của Trung Quốc góp phần vào quá trình phát triển và
tăng trưởng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và cả nền kinh tế
Việt Nam nói chung. Việc nhận nguồn vốn đầu tư từ phía Trung Quốc đã giúp
Việt Nam tăng tổng lượng vốn đầu tư lên tới 70 tỷ USD, chiếm tới 30% tổng
nguồn vốn đầu tư xã hội. Đầu tư của Trung Quốc đã góp phần thúc đẩy khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không ngừng phát triển và trở
thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Khu vực đầu tư nước
ngoài đã tạo ra khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu, đóng góp gần 20% GDP của
cả nước.
Thứ hai, đầu tư của Trung Quốc ngày càng đa dạng về lĩnh vực đầu tư góp
phần làm đa dạng hoá các sản phẩm, mặt hàng trên thị trường Việt Nam, đồng
thời cũng giúp ta có cơ hội mở rộng được thị trường, quảng bá sản phẩm của
mình ra bên ngoài. Đồng thời, sự có mặt của các nhà đầu tư Trung Quốc khiến
cho các doanh nghiệp Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh cao. Do đó, các doanh
nghiệp trong nước càng cần phải nỗ lực hơn, đẩy nhanh sản xuất, do đó sản phẩm
của họ được nâng cao cả về chất lượng lẫn số lượng nhằm đáp ứng yêu cầu khắt
khe của thị trường trong nước và quốc tế. Ngoài ra, việc Trung Quốc đầu tư vào
Việt Nam còn tạo cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam tranh thủ học tập kinh
Nam không hề mong muốn bởi chính sách kinh tế đối ngoại của ta đã chỉ rõ rằng:
“…nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn
lực tổng hợp để phát triển đất nước”
14
.
14
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Mặt khác, các doanh nghiệp Trung Quốc chủ yếu đầu tư vào các ngành
công nghiệp nhẹ cần ít vốn song cũng cần nhiều tài nguyên như đất đai, nguồn
nước…nên rất dễ gây ra tình trạng nguồn tài nguyên của Việt Nam ngày càng
cạn kiệt và nguy cơ ô nhiễm môi trường sinh thái là rất cao, ảnh hưởng không
nhỏ tới cuộc sống của người dân ở những khu vực có dự án đầu tư.
Nhìn một cách toàn diện, đầu tư từ phía Trung Quốc đã mang lại rất nhiều
lợi ích và giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn cho Việt Nam. Tuy nhiên,
những bất lợi cũng cần phải đặc biệt chú ý để có hướng khắc phục tốt nhất.
2. Triển vọng quan hệ đầu tư Việt Nam - Trung Quốc
Trong bối cảnh xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá, hội nhập kinh tế vẫn đang
tiếp tục diễn ra, quan hệ kinh tế – thương mại nói chung và quan hệ đầu tư Việt
Nam – Trung Quốc nói riêng vẫn khẳng định được vị trí của mình trên trường
quốc tế. Cả hai nước đều đã tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO,
Khu vực mậu dịch tự do ACFTA đã được hình thành…đã trở thành những yếu tố
có tác động tích cực đến việc phát triển hơn nữa mối quan hệ truyền thống tốt
đẹp giữa hai nước, khi đó thị trường của cả hai nước sẽ nâng cao trình độ hội
nhập vào thị trường quốc tế và khu vực. Với những tiềm năng vốn có và những
nỗ lực, cố gắng của cả hai nước, cơ hội mới cho sự phát triển quan hệ hợp tác
đầu tư giữa hai nước luôn luôn rộng mở. Và hy vọng rằng đó không chỉ là đầu tư
một chiều mà sẽ là sự “song hành”của doanh nghiệp cả hai nước, góp phần đưa
nền kinh tế hai nước tiến nhanh, tiến xa và tiến vững chắc hơn nữa.
tương lai”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Tiến Sâm & Furuta Motoo, “Chính sách đối ngoại rộng mở của Việt
Nam và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc”, NXB KHXH, Hà Nội 2003.
2. TS Nguyễn Vũ Tùng, “Chính sách đối ngoại Việt Nam 1975-2006”, NXB
Thế giới, Hà Nội 2007.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội VII, VIII.
IX, X.
4. Kỷ yếu hội thảo, “Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hợp tác cùng nhau
phát triển hướng tới tương lai”, NXB KHXH, Hà Nội 2003.
5. Kỷ yếu hội thảo khoa học, “50 năm quan hệ Việt – Trung”, Học viện
Quan hệ quốc tế, Hà Nội - 01/2000.
6. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc.
7. Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa nước Cộng
hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
(12/2000).
8. http:// www.mofa.gov.vn
9. http:// www.vietnamchinalink.com
10. http:// www.laocai.gov.vn