TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
TRUNG TÂM NHÂN QUYỀN
***** KỶ YẾU TỌA ĐÀM
“BẢO VỆ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM”
can là người chưa thành niên, Trần Minh Sơn.
26
5.
Bảo vệ người chưa thành niên phạm tội thông qua công tác
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử
vụ án hình sự, Bùi Huỳnh Trung.
34
6. Những vướng mắc trong thực tiễn xét xử người chưa thành
niên phạm tội, Quách Hữu Thái.
43
7. Bàn về hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên phạm tội,
Nguyễn Văn Cảnh.
52
Hội thảo: “Bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong LHS và Luật TTHS” ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT HÌNH SỰ
Phan Anh Tuấn
1
Quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, tự do, bình đẳng… là
những quyền cơ bản của con người. Quyền con người là thành quả phát triển của
lịch sử lâu dài sự nghiệp đấu tranh giải phóng, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên
1
Ths. Luật, giảng viên Khoa Luật Hình sự - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
2
Chỉ thị 12/TW của Ban Bí thư, ngày 12-7-1992.
Khoa Luật hình sự, Trung tâm Nhân Quyền – Trường Đại học Luật TP.HCM
4
và nó được thể hiện ở cả các qui định ở cả Phần Chung và Phần Các tội phạm của
Bộ luật hình sự tạo thành hệ thống các quy phạm làm cơ sở cho việc bảo vệ quyền
con người đối với người chưa thành niên.
Bảo vệ quyền con người của người chưa thành trong luật hình sự là một bộ
phận của việc bảo vệ quyền con ng
ười nói chung trong luật hình sự, do vậy nó vừa
có những đặc điểm chung về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự
(chẳng hạn: qui định về cấm hồi tố, về quyền không bị tra tấn, đối xử và trừng phạt
tàn bạo ) vừa có những đặc điểm riêng (đặc thù) về bảo vệ quyền con người đối
với người chưa thành niên. Trong phạ
m vi bài viết này, tác giả chỉ nghiên cứu
những qui định của pháp luật hình sự về bảo vệ quyền con người mang tính đặc
thù đối với người chưa thành niên trong luật hình sự.
1. Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên thông qua qui định
về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được qui định tại Điều 12 Bộ lu
ật Hình sự
năm 1999:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
Việt Nam trên thực tế hiện nay cũng thể hiện yêu cầu bảo đảm quyền con người
của người chưa thành niên. Các văn bản hướng dẫ
n về cách tính độ tuổi của người
chưa thành niên phạm tội đều theo hướng có lợi cho người chưa thành niên phạm
tội.
3
2. Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên thông qua qui định
về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm được qui định tại
Điều 69 BLHS, các nguyên tắc này đã thể hiện đầy đủ quan điểm định hướng của
Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con người củ
a người chưa thành
niên phạm tội. Các nguyên tắc này bao gồm:
- Nguyên tắc thứ nhất: “Việc xử lí người chưa thành niên phạm tội chủ yếu
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành
công dân có ích cho xã hội.
1
Điểm a khoản 3 Điều 40 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em qui định:
“3. Các Quốc gia thành viên tìm cách xúc tiến việc hình thành các đạo luật, các thủ tục, quy
định các cơ quan có thẩm quyền và thể chế áp dụng riêng cho những trẻ em bị coi là, bị tố cáo
hay bị thừa nhận là đã vi phạm luật hình sự, đặc biệt là:
a) Quy định một hạn tuổi tối thiểu mà những trẻ em ở dưới hạn tuổi đó được coi như là không
có khả năng vi phạm luật hình sự;
2
Nguồn :
3
Theo Nghị quyết số 02/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày
5/11/1986 qui định:
và xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan Nhà nướ
c có
thẩm quyền phải xác định rõ khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội.
Chỉ khi làm rõ những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ nguy hiểm của
hành vi và nhân thân người phạm tội thì các cơ quan tư pháp và người tiến hành tố
tụng mới có thể giúp họ nhận thức ra được lỗi lầm và sử
a chữa để trở thành người
có ích cho xã hội. Mặt khác, người chưa thành niên chịu sự tác động chủ yếu của
môi trường sống. Sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như các đặc điểm
nhân thân khác của người chưa thành niên chịu chi phối bởi qui định bởi nền giáo
dục, đào tạo của gia đình, nhà trường, xã hội. Nguyên nhân và điều kiện dẫn đến
người chưa thành niên phạm tộ
i phần lớn do môi trường sống của họ tạo ra. Vì
vậy, khi điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các
cơ quan có thẩm quyền không những phải xác định năng lực TNHS của họ mà
Hội thảo: “Bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong LHS và Luật TTHS” phải còn xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội từ đó để đưa ra giải pháp thích
hợp, nhằm cải tạo, giáo dục người chưa thành niên phạm tội có hiệu quả.
Nguyên tắc này cũng phù hợp với yêu cầu tại Điều 40 Công ước Quốc tế về
quyền trẻ em.
1
- Nguyên tắc thứ hai: “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn
trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm
trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ
quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục”.
Theo nguyên tắc này, người chưa thành niên phạm tội được miễn trách
8
Các nguyên tắc này cũng đã thể hiện rõ nét tinh thần bảo đảm quyền con
người của người chưa thành niên củng như yêu cầu của Công ước Quốc tế về
quyền trẻ em.
1
- Nguyên tắc thứ năm:
“ Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên
phạm tội.
Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế
áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành
niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã
thành niên phạm tộ
i tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ
tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội”.
Xuất phát từ yêu cầu của nguyên tắc nhân đạo, luật hình sự không cho phép
áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm
tội. C
ũng với lập luận trên, đối với người chưa thành niên phạm tội khi buộc phải
áp dụng hình phạt tù thì mức án dành cho họ phải thấp hơn so với người đã thành
niên (Điều 74 BLHS).
Qui định không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi và các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên
phạm tội xuất phát từ th
ực tiễn là nếu áp dụng các hình phạt này đối với người
chưa thành niên phạm tội sẽ không có ý nghĩa thiết thực, không đảm bảo tính khả
với các yêu cầu của Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã được nhà nước ta ký kết
và tham gia.
3. Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên thông qua qui
định về các biện pháp xử lý hình sự khoan hồng đối với người chưa thành niên
phạm tội
Bộ luật hình sự đã qui định nhiều biện pháp xử
lý mang tính khoan hồng đối
với người chưa thành niên phạm tội, thể hiện đầy tinh thần bảo đảm quyền con
người của người chưa thành niên phạm tội. Các biện pháp xử lý khoan hồng đó
bao gồm:
a. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Điều 70 Bộ luật hình sự qui định hai biện pháp cưỡng chế tư pháp có tính
chất giáo dục, phòng ngừa và đượ
c tòa án áp dụng riêng (đặc thù) đối với người
1
Điều 37 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em qui định:
Các Quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng:
a) Không trẻ em nào phải chịu sự tra tấn, đối xử và trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay bị làm
mất phẩm giá. Sẽ không áp dụng án tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng
phóng thích đối với những hành động phạm pháp do những người dưới 18 tuổi gây ra;
b) Không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tuỳ tiện. Việc bắt, giam
giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo luật pháp và chỉ được dùng đến như một biện
pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất;
Khoa Luật hình sự, Trung tâm Nhân Quyền – Trường Đại học Luật TP.HCM
10
ất định mà thôi; mặt khác
Bộ luật hình sự không chỉ giới hạn ở các loại hình phạt áp dụng đối với người
chưa thành niên phạm tội mà còn qui định mức độ nghiêm khắc của của các hình
Hội thảo: “Bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong LHS và Luật TTHS” phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nhẹ hơn so với người
đã thành niên phạm tội (xem các Điều 72- 75 BLHS). Thông qua việc qui định xử
lý mang tính khoan hồng này, pháp luật hình sự Việt Nam đã thể hiện cụ thể việc
bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên.
c. Miễn, giảm TNHS và xóa án tích áp dụng riêng đối với người chưa thành
niên phạm tội
Bên cạnh biện pháp tư pháp, hình phạt áp dụng đối với người chưa thành
niên phạm tội, luật hình sự còn qui định nhiều biện pháp xử lý khoan hồng áp
dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội – thể hiện tinh thần bảo đảm
quyền con người của người chưa thành niên phạm tội. Các biện pháp xử lý hình sự
mang tính khoan hồng đó là:
- Miễn trách nhiệm hình sự
đối với người chưa thành niên phạm tội (Khoản
2 Điều 69 BLHS)
- Miễn chấp hành hình phạt áp dụng riêng đối với người chưa thành niên
phạm tội (Khoản 2 Điều 76 BLHS)
- Giảm chấp hành hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều
76 BLHS)
- Xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 77 BLHS)
4. Bảo đảm quyền con người của ng
ười chưa thành niên thông qua qui
định bảo vệ người chưa thành niên với tư cách là người bị hại
Luật hình sự bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên với tư
cách là người bị hại thông qua việc qui định xử lý nghiêm khắc hơn đối với những
luật như:
- Điểm c Khoản 1 Điều 93 BLHS (Tội giết người)
- Điểm c Khoản 2 Điều 103 BLHS (Tội đe dọa giết người)
- Điểm d Khoản 1 Điều 104 BLHS (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác)
- Điểm a Khoản 2 Điều 110 BLHS (Tội hành hạ ngườ
i khác)
- Khoản 4 Điều 113 BLHS (Tội cưỡng dâm)
- Điểm b Khoản 2 Điều 117 BLHS (Tội lây truyền HIV cho người
khác)
- Điểm c Khoản 2 Điều 1118 BLHS (Tội cố ý truyền HIV cho người
khác)
- Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản)
- Điểm c Khoản 2 Điều 197 BLHS (Tội tổ chức sử dụng trái phép chấ
t
ma túy)
Hội thảo: “Bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong LHS và Luật TTHS” - Điểm c Khoản 2 Điều 198 BLHS (Tội chứa chấp sử dụng trái phép
chất ma túy)
- Điểm d Khoản 2 Điều 200 BLHS (Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma túy)
- .v.v
Bằng những qui định thành các dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung tăng
nặng và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự một cách cụ thể, rõ ràng và chặt
chẽ như v
ậy, Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện vai trò rất quan trọng trong
việc đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên.
14
trên cơ sở Công ước Quyền trẻ em và chuẩn mực quốc tế có liên quan, hạn chế
việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội. Các
biện pháp cụ thể có thể là:
- Bổ sung thêm các hình phạt không tước tự do đối với người chưa
phạm tội như: Lao động bắt buộc.
- Bổ sung thêm các biện pháp tư pháp đối với ngườ
i chưa thành niên
phạm tội như: hạn chế sự nhàn rỗi hoặc đặt ra các yêu cầu riêng về giáo dục bắt
buộc đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Bổ sung thêm biện pháp miễn hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội với các điều kiện nhẹ hơn so với qui định tại Điều 54 BLHS năm
1999.
- Qui định về th
ời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi
hành bản án đối với người chưa thành niên phạm tội với thời hạn chỉ bằng một
nửa so với người đã thành niên phạm tội.
- Mở rộng phạm vi áp dụng của án treo đối với người chưa thành niên
phạm tội với các điều kiện nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tộ
i; bổ sung
thêm chế định trả tự do có điều kiện cho người chưa thành niên phạm tội đang
chấp hành hình phạt tù.
Hội thảo: “Bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong LHS và Luật TTHS” CÁC HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
quả cao nhất.
Trong phạm vi vai trò và trách nhiệm của mình, Nhà nước đã có nhiều cố
gắng trong việc bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên. Trong hoạt động lập
pháp, chúng ta đã tham gia ký kết Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989;
ban hành Luật b
ảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và 2004. Đối với
1
Thạc sỹ luật, giảng viên Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật TP.HCM.
2
Điều 18 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005.
Khoa Luật hình sự, Trung tâm Nhân Quyền – Trường Đại học Luật TP.HCM
16
người chưa thành niên phạm tội, BLHS còn có những quy định riêng trong
Chương X – “Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội” từ Điều 68
đến Điều 77 BLHS. Những quy định này được xây dựng trên cơ sở các đặc điểm
tâm sinh lý, thể chất và khả năng nhận thức, cải tạo, giáo dục của người chưa
thành niên. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đế
n hệ thống hình phạt
được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của BLHS
1999.
Theo quy định tại Điều 28 BLHS 1999, hệ thống hình phạt bao gồm bảy
hình phạt chính và bảy hình phạt bổ sung, trong đó hình phạt tiền và hình phạt trục
xuất chỉ áp dụng là hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính. Các
hình phạt chính trong BLHS Việt Nam bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo
không giam giữ, tr
ục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Trong số các
nhân và điều kiện phạm tội. Một số loại hình phạt đặc biệt nghiêm khắc trong
BLHS mang nặng tính trừng trị hơn giáo dục như hình phạt tù chung thân hoặc tử
hình thì không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Việc áp
dụng các hình phạt này không đạt được mục đích “giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,
phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” (khoản 1 Điều 69
BLHS). Vì vậy, khoảng 5 Điều 69 BLHS quy định: “Không xử phạt tù chung thân
hoaawcj tử hình đối với người chưa thành niên phậm tội”.
- Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội từ
đủ 14 đến dưới 16 tuổi
Hầu hết người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không có
thu nhập và tài sản riêng, chưa có khả năng lao động, sống phụ thu
ộc vào gia đình.
Việc quy định hình phạt tiền đối với nhóm đối tượng này là không khả thi, không
đạt được mục đích của hình phạt, đồng thời còn là gánh nặng không đáng có cho
gia đình người phạm tội, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình cải tạo, giáo dục người
phạm tội. Điều 69 BLHS quy định: “Không áp dụng hình phạt tiền đối với người
chưa thành niên phạm tội ở độ
tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội
Mục đích của việc quy định và áp dụng hình phạt bổ sung đối với người
phạm tội là hỗ trợ cho hình phạt chính nhất là trong việc ngăn ngừa người phậm
tội phậm tội mới. Do đặc điểm tâm, sinh lý và nhận thức của ng
ười chưa thành
niên, việc áp dụng hình phạt bổ sung không những không đạt được mục đích của
hình phạt này mà còn trở thành gánh nặng tâm lý và ảnh hưởng xấu đến khả năng
cải tạo, giáo dục và tái hòa nhập cộng đồng của người chưa thành niên. Vì vậy,
BLHS 1999 quy định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành
niên phạm tội.
3. Các hình phạt được phép áp dụng đối với người chư
a thành niên phạm tội
Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, khi người chưa thành niên từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, hoặc đặc biệt nghiêm
trọng, nếu có đủ điều kiện áp dụng Đ
iều 47 BLHS để chuyển sang một khung hình
phạt liền kề nhẹ hơn và trong khung hình phạt liền kề đó có quy đinh hình phạt
cảnh cáo thì chúng ta vẫn có thể áp dụng loại hình phạt này đối với họ.
- Hình phạt tiền
Theo quy định tại Điều 72 BLHS, phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính
đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổ
i phạm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản
lý hành chính và một số tội phạm khác do BLHS quy định nếu có thu nhập hoặc
có tài sản riêng. Thu nhập của người chưa thành niên phạm tội là những nguồn thu
hợp pháp từ các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiền lương lao động một cách
thường xuyên hoặc không thường xuyên. Tài sản riêng của người chưa thành niên
phạm tội là những tài sản do được thừa kế, được tặng cho… Mức phạt tiền đối với
Hội thảo: “Bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong LHS và Luật TTHS” người chưa thành niên phạm tội không quá ½ mức phạt tiền mà điều luật quy định
đối với người đã thành niên, tuy nhiên mức phạt tiền tối thiểu không được dưới
một triệu đồng (Điều 30 BLHS).
Hình phạt tiền không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ
14 đến dưới 16 tuổi.
- Cải tạo không giam giữ
Theo quy định tại Điề
u 30 và Điều 73 BLHS, cải tạo không giam giữ được
áp dụng từ sáu tháng đến 18 tháng
1
đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc
Khoa Luật hình sự, Trung tâm Nhân Quyền – Trường Đại học Luật TP.HCM
20
thành niên phạm tội là chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát
triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội (Điều 69 BLHS) và hạn
chế áp dụng loại và mức hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội,
Điều 74 BLHS quy định người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn
theo quy định sau đây:
- Đối với người từ đủ 16 tu
ổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật
được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt
cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức
hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật
quy định (không quá 15 năm tù);
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổ
i khi phạm tội, nếu điều luật
được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt
cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức
hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều
luật quy định (không quá 10 năm tù).
Mức xử phạt tù tối thiểu đối với người chưa thành niên phạm tội được áp
dụng theo quy định chung tại Điều 33 BLHS là không dưới 3 tháng tù.
4. Bàn về việc áp dụng hình phạt trục xuất với tư cách là hình phạt chính đối
với người chưa thành niên phạm tội
Trục xuất là hình phạt được áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội trên
lãnh thổ Việt Nam, Tòa án buộc người bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam
trong một khoảng thời gian nhất đị
nh. Đối tượng bị áp dụng hình phạt trục xuất là
.
- Thứ hai, người chưa thành niên bị áp dụng hình phạt trục xuất có điều
kiện học tập, rèn luyện, sinh hoạt bình thường trong gia đình, cộng đồng
và xã hội (tại quốc gia nơi họ mang quốc tịch hoặc quốc gia khác) nên
khả năng cải tạo, giáo dục và hòa nhập cộng đồng của họ tốt hơn, có thể
đạt hiệu quả của hình phạt cao hơn.
- Thứ ba, người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể
chất, tâm sinh lý và nhận thức nên pháp luật quy định các hoạt động có
ảnh hưởng đến quyền lợi của người chưa thành niên đều phải có người
đại diện của họ. Theo quy định tại Điều 141 và Điều 61 Bộ luật dân sự,
cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp là đại diện
đương nhiên của người
chưa thành niên. Nếu chúng ta buộc người chưa thành niên phạm tội
chấp hành hình phạt tại Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định
(như hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù có thời hạn) thì
sẽ gây khó khăn trong việc đại diện này, nhất là khi người đại diện của
họ không thường xuyên làm việc, sinh sống tại Việt Nam.
- Thứ tư, trong mộ
t số trường hợp, khi chúng ta buộc người chưa thành
niên phạm tội chấp hành hình phạt tại Việt Nam sẽ gây một số trở ngại
không đáng có với các cơ quan thi hành án hình sự như rào cản ngôn ngữ
1
Khoản 1 Điều 69 BLHS.
Khoa Luật hình sự, Trung tâm Nhân Quyền – Trường Đại học Luật TP.HCM
22
(nhất là khi trình độ ngoại ngữ của phần đông cán bộ, công chức còn hạn
DỤC NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh
1
Nguyên tắc nhân đạo là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động
phòng chống tội phạm. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra ở đây là nội dung nguyên
tắc này được hiểu như thế nào cho phù hợp với lý luận và thực tiễn phòng chống
tội phạm trong giai đoạn hiện nay cũng như có mối quan hệ nào giữa nguyên tắc
này với việc đảm bảo nhân quyền trong hoạ
t động phòng chống các tội xâm phạm
tình dục người chưa thành niên?
Phải thừa nhận rằng thuật ngữ nhân quyền là một thuật ngữ ít được sử dụng
trong các văn bản pháp lý ở Việt Nam cho nên hiểu nhân quyền là gì còn phụ
thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Theo định nghĩa của từ điển điển tiếng Việt phổ
thông, “nhân quyền” là quyền căn bản củ
a con người
2
, “ nhân đạo” là đạo đức thể
hiện sự thương yêu, quý trọng và bảo vệ con người”
3
. Như vậy khái niệm nhân đạo
được hiểu rộng hơn khái niệm nhân quyền, nhân đạo không chỉ đơn thuần là bảo
vệ quyền lợi con người mà sự bảo vệ đó còn là đạo đức thể hiện sự tôn trọng
những giá trị, phẩm chất của con người xuất phát từ tình yêu thương. Với cách
hiểu này, nguyên tắc nhân đạo trong phòng chống các tội xâm phạm tình dục
người chưa thành niên là vi
ệc áp dụng các biện pháp phòng chống tội phạm không
được xâm phạm, gây tổn thương cho các đối tượng có liên quan, đặc biệt là người
phạm tội và nạn nhân của tội phạm.
bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự
theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công
khai.” Đối chiếu tất cả các quy định trên thì chúng ta thấy rằng hiện nay chưa có
quy định chính thức nào liên quan đến hình thức xét xử của Tòa án, việc lựa chọn
hình thức xét xử còn phụ thuộc vào quyết định chủ quan của tòa án. Đ
iều này đã
dẫn đến thực tế là cùng các vụ án xâm phạm tình dục người chưa thành niên
nhưng có thể tòa án địa phương này xét xử kín nhưng tòa án ở địa phương khác
xét xử công khai, thậm chí xét xử lưu động tại địa phương của bị cáo, nạn nhân
của tội phạm
1
. Dưới góc độ phòng ngừa tội phạm, hình thức xét xử công khai, đặc
biệt là xét xử lưu động có hiệu quả rất lớn, có ý nghĩa tác động giáo dục, răn đe
các cá nhân khác trong xã hội. Tuy nhiên, về khía cạnh nhân đạo đối với nạn nhân
thì cần được xem xét lại. Đa số trong các vụ án xâm phạm tình dục người chưa
thành niên thì nạn nhân thường vắng mặt, điều này có thể gây khó khăn trong hoạt
động xét x
ử nhưng ở khía cạnh khác, sự vắng mặt của nạn nhân đã cho thấy nạn
nhân sợ phải đối diện với việc xét xử tội phạm. Cho dù trong trường hợp nạn nhân
vắng mặt tại phiên tòa nhưng các thông tin cơ bản về nhân thân nạn nhân được
công bố công khai, hơn thế nữa, trong nội dung phần xét hỏi, tranh luận, các tình
tiết diễn biến của vụ phạm tội đượ
c bị cáo, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhắc
lại nhiều lần, thậm chí ở những nội dung mang tính nhạy cảm nhất. Nạn nhân,
người đã bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, họ một lần nữa bị tổn thương, phải đối
diện với những dư luận xã hội mà họ không hề mong muốn. Trong trường hợp có
1
Ngày 22.9.2009 tại trung tâm văn hóa Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh, TAND TP.HCM xét xử
lưu động vụ hiếp dâm trẻ em đối với bị cáo Nguyễn Văn Bình( 40 tuổi, ngụ tại Q.4 TP.HCM)
Tóm lại, phòng ngừa, phòng chống tội phạm là chức năng, nhiệm vụ thường
xuyên của các cơ quan bảo vệ pháp luật nhưng việc lựa chọn các biện pháp phòng
ngừa phải dự
a trên sự tôn trọng các quyền lợi của con người, hạn chế đến mức tối
đa khả năng nạn nhân trở thành nạn nhân một lần nữa. Có như vậy các biện pháp
phòng ngừa mới có thể phát huy hết ý nghĩa của nó và đạt được hiệu quả như
mong muốn.