Đề án môn học
A. phần mở đầu
i. Lý do chọn đề tài
Sau 10 năm đổi mới đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa rất quan trọng trên nhiều mặt, ra khối khủng hoảng KT-XH. Chuyển
sang giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN vì sự nghiệp dân
giầu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Đất nước ta đang đứng trước vận
hội mới. Có tương đối đầy đủ những điều kiện cần thiếtvề thiên thời , địa lợi,
nhân hoà.
Trong đó đô thị đóng vai trò hết sức quan trọng không chỉ là trung tâm chính
trị, hành chính, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học của khu vực mà còn của
cả nước.
Bên cạnh đó thì đất đô thị lại đóng một vai trò không kém phần quan trọng.
Đất đô thị là yếu tố cần thiết để con người tiến hành các hoạt động sản xuất và
mọi hoạt động khác. Trên địa bàn đô thị đất là điều kiện vật chất cơ bản không
thể thiếu được đối với sự phát triển KT-XH đô thị.
Vì vậy để đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển KT-XH của đất nước nói
chung và của các đô thị nước ta nói riêng. Thì việc quản lý và sử dụng đất đô
thị cần được thực hiện theo phương hướng họp lý tiết kiệm và hiệu quả.
Quản lý và sử dụng đất đô thị là vấn đề bức xúc và vô cùng quan trọng
trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đó là những lý do
khiến em chọn đề tài này cho bài viết của mình.
II. Bè cục cuả bài viết gồm 3 phần:
A: Phần mở đầu.
B: Phần nội dung
C: Kết luận
Do lần đầu thực hiện đề án trong thời gian gấp rút nên không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn và
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo để em có thể hoàn thành tốt đề án này.
Sinh viên
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
2
Đề án môn học
Đất dân dụng: là đất ở , đất phục vụ công cộng, đất cây xanh, đất giao
thông và đất các công trình hạ tầng kỹ thuật.
- Đất ngoài khu dân dụng: đất nông nghiệp, đất kho bãi , đất các trung
tâm chuyên ngành, đất cơ quan ngoài đô thị, đất quốc phòng an ninh, đất
chuyên dùng khác, đất chưa sử dụng.
c. phân loại theo nghĩa vụ tài chính của nhười sử dụng đất, tuỳ theo mục đích
sử dụng, đất đô thị gồm 3 loại:
- Đất cho thuê, chủ yếu để xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh
và giao đất sử dụng có thời hạn.
- Giao đất có thu tiền sử dụng đất.
- Giao đất không thu tiền sử dụng đất.
* Việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, phải tuân theo các qui định về bảo vệ
môi trường, mĩ quan đô thị.
- Đất đô thị phải được xây dựng cơ sở hạ tầng khi sử dụng.
- Mức sử dụng đất vào các công trình xây dựng phải tuân theo các tiêu
chuẩn kỹ thuật quy định.
3. Nội dung quản lý sử dụng đất đô thị ở nước ta hiện nay
a. Điều tra, khảo sát, đo đạc lập bản đồ địa chính và định giá các loại đất đai
đô thị
* Điều tra khảo sát, lập bản đồ địa chính.
Điều tra, khảo sát đo đạc,lập bản đồ địa chính là biện pháp đầu tiên phải
thực hiện trong công tác quản lý sử dụng đất đô thị. Thực hiện tốt công viêc
này giúp cho ta nắm được số lượng, phân bố, cơ cấu chủng loại đất đai. Đây
là công việcbắt buộc đã được quy đinh rõ trong điều 13, 14, 15 của luật đất
đai.
Việc điều tra, khảo sát đo đạc thường được tiến hành dựa trên một bản
đồ hoặc tài liệu gốc sẵn co. Dựa vào tài liệu này, các thửa đất được trích lục
4
Đề án môn học
+ Đô thị loại IV là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chÝnh trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội hoặc hoặc trung tâm chuyên nghành của các hoạt động
sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và có vai trò thúc đẩy sư phát triẻn
kinh tế của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh.
+ Đô thị loại V là đô thị nhỏ, là trung tâm tổng hợp kinh tế – xã hội hoặc
trung tâm chuyên nghành của các hoạt động sản xuất công nghiệp, trung tâm
công nghiêp và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng trong tỉnh hoặc
một vùng trong huyện.
Những thị trấn hoặc thị xã chưa phân loại đô thị thì được đưa vào đô thị
loại 5 để xác định gía đất.
- Căn cứ vào phân loại đường phố trong đô thị để xác định mức độ trung
tâm, khả năng sinh lợi, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thuận tiện trong sinh
hoạt của lô đất. Nếu một đường phố có nhiều đoạn có, khả năng sinh lợi, cơ sở
hạ tầng khác nhau thì giá đất được đánh giá xếp hạng với các đường phố tương
đương.
- Đối với những đô thị có những tiểu vùng khác nhau về điều kiện sinh lợi
và giá đất thì mỗi tiểu vùng đều phân loại đường phố theo các tiêu chuẩn riêng
như trên.
Việc quy định giá đất cụ thể do uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cư vào
khung giá đất của chính phủ và giá đất thực tế ở địa phương được hình
thành qua chuyển nhượng quyền sử dụng đất, loại đô thị, loại đường phố để
định giá đất cụ thể cho mỗi lô đất.
Đối với đô thị là trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội của một vùng,
đồng thời là trung tâm thương mai, du lịch thì giá đất có thể được xác định cao
hơn nhưng không quá 1,2 lần bảng khung giá đất của các đô thị cùng loại
b. Quy hoạch xây dựng đô thị và lập kế hoạch sử dụng đất đô thị
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
5
kế quy hoạch chi tiết các bộ phận của đô thị là việc cụ thể hoá hình khối
không gian, đường nét, màu sắc và bộ mặt kiến trúc, trung tâm,các khu ở,
sản xuất và nghỉ ngơi, giải trí của đô thị.
*. Lập kế hoạch và phân phối đất đai xây dựng đô thị
Việc phân bố đất đai sử dụng vào xây dựng đô thị có thể chia thành
các nhóm chính sau đây:
- Đất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung: bao gồm để xây dựng
các công trình sản xuất, kho tàng, các xí nghiệp dịch vụ sản xuất, hành chính
quản lý, đào tạo, nghiên cứu và giao thông phục vụ các hoạt động sản xuất và
đi lại của người lao động.
Ngoài ra còn có thể bố trí trong khu đất công nghiệp các công trình dịch
vụ công cộng, thể thao và nghỉ nghơi, giải trí.
- Đất các khu ở: bao gồm đất để xây dựng các khu ở mới và các khu ở
cũ (thường gọi là khu hỗn hợp ở, làm việc). Trong các khu đất ở dùng để xây
dựng nhà ở có các công trình dịch vụ công cộng, đất cây xanh, thể dục thể thao
và giao thông phục vụ cho khu ở.
Ngoài ra còn bố trí trong khu ở các cơ sở sản xuất không độc hại và sử
dụng đất Ýt, các cơ quan hành chính sự nghiệp, các cơ sở nghiên cứu khoa
học, thực nghiệm và tiểu thủ công nghiệp.
- Đất khu trung tâm đô thị: bao gồm đất trung tâm đô thị, các trung tâm
phụ và trung tâm chức năng của đô thị trong các khu quận dùng để xây dựng
các công trình hành chính- chính trị, dịch vụ cung cấp hàng hoá vật chất, văn
hoá, giáo dục đào tạo, nghỉ dưỡng du lịch và các công trình giao thông.
Ngoài ra còn có thể bố trí các khu đất trung tâm của đô thị các nhà
ở,khách sạn, các công trình nghỉ nghơi, giải trí, các cơ sở sản xuất không độc
hại, chiếm Ýt diện tích, các cơ sở làm việc cao tầng.
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
7
Đề án môn học
- Đất cây xanh, thể dục thể thao: bao gồm đất vườn hoa, công viên, các
Tổng cộng đất có chức năng đô thị: 80-100 100
Sù giao động của các chỉ tiêu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa hình
của khu đất xây dựng, địa chất công trình của khu đất xây dựng,số tầng cao
của công trình, hiện trạng tự nhiên và xây dựng của đô thị.
Đối với chỉ tiêu diện tích đất bình quân đầu người, các đô thị nhỏ
thường lây chỉ tiêu cao, các đô thị lớn lấy chỉ tiêu thấp.
c. Giao đất, cho thuê
*. Giao đất.
Các tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng đất đô thị vào các mục
đích đã được phê duyệt có thể lập hồ sơ xin giao đất để sử dụng vào mục
đích đó.
+ Hồ sơ xin giao đất bao gồm:
- Đơn xin giao đất.
- Dự án đầu tư xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt.
- Bản đồ địa chính hoặc hiện trạng khu đất xin giao tỷ lệ 1/ 200-
1/1000.
- Phương án đền bù.
+ Thẩm quyền quyết định việc giao đất đô thị:
Hồ sơ trên được gửi đến cơ quan địa chính cùng cấp để thẩm tra và
trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
9
Đề án môn học
Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền giao đất của Chính phủ thì
Tổng cục Địa chính và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương trình Chính phủ quyết định.
+ Trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định giao đất đô thị:
Việc tổ chức thực hiện quyết định giao đất đô thị được thực hiện
như sau:
- Tổ chức mặt bằng phục vụ cho việc thi công xây dựng các công
trình trong đô thị.
- Sử dụng mặt bằng làm kho bãi.
- Tổ chức các hoạt động xã hội như cắm trại, hội chợ, lễ hội.
- Xây dựng các công trình cố định theo các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhà ở.
Các tổ chức, cá nhân nếu có nhu cầu thuê đất trong đô thị dành cho
các mụch đích đã được phê duyệt thì phải làm hồ sơ xin thuê đất.
* Hồ sơ xin thuê đất bao gồm:
- Đơn xin thuê đất.
- Thiết kế sơ bộ mặt bằng khu đất xin thuê kèm theo thuyết minh.
- Bản đồ địa chính khu đất xin thuê.
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
11
Đề án môn học
- Giới thiệu địa điểm của Kiến trúc sư trưởng thành phố hoặc Sở
Xây dựng (đối với nơi không có Kiến trúc sư trưởng).
Đối với việc xin thuê đất để xây dựng các công trình cố định, việc
xin thuê đất được tiến hành như các thủ tục và trình tự xin giao đất.
* Thẩm quyền quyết định cho thuê đất:
Cơ quan địa chính cấp tỉnh xem xét, thẩm tra hồ sơ xin thuê đất và
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
* Hợp đồng cho thuê đất:
Sau khi có quyết định cho thuê đất, cơ quan nhà nước được uỷ
quyền tiến hành ký hợp đồng với bên xin thuê đất.
Người thuê đất có nghĩa vụ:
- Sử dụng đất đúng mục đích.
- Nộp tiền thuê đất, lệ phí địa chính theo đúng quy định của pháp
luật.
- Thực hiên đúng hợp đồng thuê đất.
Nam Việt Nam cấp.
- Những người đang có các giấy tờ hợp lệ chứng nhận quyền sử
dụng đất do các cơ quan có thẩm quyền thuộc chÕ độ cũ cấp, không có
tranh chấp về quyền sử dụng đất và đang sử dụng đất không thuộc diện
phải giao lại cho người khác theo chính sách của Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Chính phủ Cách
mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
13
Đề án môn học
- Các cá nhân đang sử dụng đất đã thực hiện hoặc cam kết thực
hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước về quyền sử dụng đất.
Những người sử dụng đất đô thị không có nguồn gốc hợp pháp, nếu
không có đủ các giấy tờ hợp lệ như quy định song có đủ các điều kiện sau
đây thì cũng được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Đất đang sử dụng phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
- Không có tranh chấp hoặc không có quyết định thu hồi đất của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
- Không vi phạm các công trình cơ sở hạ tầng công cộng và các
hành lang bảo vệ các công trình kỹ thuật đô thị.
- Không lấn chiếm đất thuộc các công trình di tích lich sử, văn hoá,
tôn giáo đã được Nhà nước công nhận
- Nép tiền sử dụng đất và cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
đối với Nhà nước về sử dụng đất.
*. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Hồ sơ xin xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị phải
bao gồm đầy đủ những giấy tờ sau đây:
- Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị.
- Các giấy tờ hợp lệ chứng minh quyền sử dụng đất.
thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất.
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
15
Đề án môn học
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất: là hình thức chuyển quyền sử
dụng đất trong đó các bên chuyển giao đất và chuyển quyền sử dụng đất
cho nhau theo các nội dung, hình thức chuyển sử dụng đất theo quy định
của các cơ quan có thẩm quyền được quy định trong Bộ Luật Dân sự và
pháp luật về đất đai.
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất: là hình thức chuyển quyền sử
dụng đất, trong đó người sử dụng đất (gọi là bên chuyển quyền sử dụng
đất) chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển
nhượng (gọi là bên nhận quyền sử dụng đất), còn người được chuyển
nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng.
- Cho thuê quyền sử dụng đất: là hình thức chuyển quyền sử dụng
đất có thời hạn, trong đó bên cho thuê chuyển giao đất cho bên thuê để sử
dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải sử dụng đất đúng mục đích,
trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê.
- Thế chấp quyền sử dụng đất: là hình thức chuyển quyền sử dụng
đất không đầy đủ, trong đó bên thế chấp dùng quyền sử dụng đất để đảm
bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế
chấp.Thông thường việc thế chấp đất đô thị thường đi liền với thế chấp về
nhà ở hoặc thế chấp về nhà ở nhưng thực chất là thế chấp cả về đất ở.
- Thừa kế quyền sử dụng đất: là việc chuyển quyền sử dụng đất của
người chết sang người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật phù hợp
với quy định của Bộ Luật Dân sự và pháp luật về đất đai.
*. Thẩm quyền và thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
16
quyền thu hồi phần diện tích đất đai đã giao cho các tổ chức, cá nhân sử
dụng hiện đang nằm trong vùng quy hoạch xây dựng phát triển đô thị.
Khi thu hồi đất đang có người sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng
công cộng, các công trình lợi Ých chung, thực hiện việc cải tạo và xây
dựng đô thị theo quy hoạch và các dự án đầu tư lớn đã được duyệt thì
phải có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trước khi thu hồi đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông
báo cho người đang sử dụng đất biết về lý do thu hồi, kế hoạch di chuyển
và phương án đền bù thiệt hại về đất đai và tài sản gắn với đất.
Người đang sử dụng đất bị thu hồi đất phải chấp hành nghiêm
chỉnh quyết định thu hồi đất của Nhà nước. Trong trường hợp người có
đất cố tình không chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thì bị cưỡng chế di chuyển ra khái khu đất đó.
Khi thu hồi đất để xây dựng đô thị mới, hoặc phát triển các công
trình công cộng, Uỷ ban nhân dân các thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận
huyện phải lập và thực hiện các dự án di dân, giải phóng mặt bằng, tạo
điều kiện sinh hoạt cần thiết và ổn định cuộc sống cho người có đất bị thu
hồi.
Đối với các trường hợp các tổ chức, cá nhân tự nguyện chuyển
nhượng thừa kế, biếu tặng và trường hợp chuyển đổi quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất hợp pháp khác thì việc đền bù, di chuyển và giải
phóng mặt bằng do hai bên thoả thuận không thuộc vào chế độ đền bù
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
18
Đề án môn học
thiệt hại của Nhà nước. Nhà nước chỉ thực hiện việc thu hồi và giao đất
về thủ tục theo quy định của pháp luật.
*. Đền bù thu hồi đất đô thị.
Đối tượng được hưởng đền bù thiệt hại khi thu hồi đất bao gồm các
hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất hợp pháp; các doanh nghiệp, các tổ
quá giá xây dựng mới.
g. Thanh tra, giải quyết các tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
sử lý các vi phạm về đất đô thị.
*. Những nội dung tranh chấp về đất đai đô thị
Trong thực tế thực hiện quyền sử dụng đất luôn luôn xuất hiện
những mâu thuẫn và làm phát sinh các tranh chấp. Những hình thức tranh
chấp đất đai thường xảy ra trong quản lý đất đô thị là:
- Tranh chấp về diện tích đất đai sử dụng.
- Tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ( chuyển
nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất).
- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp về bồi thường hại về đất.
- Tranh chấp về ranh giới sử dụng đất.
- Tranh chấp về lối đi.
- Tranh chấp về cản trở thực hiện quyền sử dụng đất ( như không
cho đào rãnh thoát nước qua bất động sản liền kề ).
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
20
Đề án môn học
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất đai.
*. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai.
Theo quy định tại Điều 38, Luật Đất đai, thì thẩm quyền giải quyết
tranh chấp về đất thuộc Uỷ ban nhân dân và toà án nhân dân các cấp.
* Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử
dụng đất mà người sử dụng đất không có các giấy tờ chứng nhận quyền
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể:
- Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải
quyết các tranh chấp giữa cá nhân, hộ gia đình với nhau; giữa cá nhân, hộ
gia đình với các tổ chức nếu các tổ chức đó thuộc quyền quản lý của
mình.
môn hoá phải đi đôi với hiệp tác hoá xã hội rộng rãi. Các đơn vị kinh tế của đô
thị có thể sử dụng chung hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật công cộng; điều đó
chứng tỏ việc sử dụng đất đô thị có tác dụng thúc đẩy rất lớn đối với sự phát
triển kinh tế đô thị.
Kinh tế đô thị không ngừng phát triển về phía trước mà sự phụ tải kinh tế
của đô thị thì thường có mức độ nhất định. Nếu như đất đô thị không được sử
dụng hợp lý, sức phụ tải kinh tế của nó sẽ bị giảm bớt. Khi quĩ đất hiện có của
đô thị không dung nạp được qui mô là đạt tới của sự phát triển kinh tế đô thị,
thì phải mở rộng đất đô thị, dẫn đến làm nảy sinh những vấn đề xã hội mới.
Như vậy sự hạn chế của việc mở rộng đất đô thị có tác dụng kiềm chế đối với
sự phát triển kinh tế đô thị.
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
22
Đề án môn học
b. Kết cấu sử dụng đất đô thị ảnh hưởng trực tiếp đên toàn bộ công
năng và cơ cấu kinh tế đô thị, do đó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế đô
thị.
Các loại đất sử dụng của đô thị là một chỉnh thể hữu cơ có quan hệ tỷ lệ
nhất định; nếu tỷ lệ sử dụng đất đô thị không cân đối, tất sẽ gây ra sự không ăn
khớp giữa các loại công năng của đô thị, từ đó hạ thấp công năng kinh tế và
cản trở sự phát triển của kinh tế đô thị. Khi kết cấu sử dụng đất đô thị được bố
trí hợp lý, sẽ có thể nâng cao mạnh mẽ công năng kinh tế của toàn bộ đô thị.
Theo tài liệu nước ngoài, nếu đất sử dụng cho công nghiệp được bố trí hợp lý
thì có thể tiết kiệm 10 - 20% đất sử dụng của đô thị; đất sử dụng cho các tuyến
đường giao thông nếu được bố trí hợp lý sẽ rút ngắn được 20 - 40%.
Nói chung, kết cấu và tỷ lệ các loại đất sử dụng của đô thị có mối tương
quan với sự bố cục và tỷ lệ giữa các ngành kinh tế đô thị. Sự phát triển của
kinh tế đô thị thường đi liền với sự biến động của cơ cấu kinh tế đô thị, trong
trường hợp kết cấu sử dụng đất đô thị không thay đổi hoặc không thay đổi hợp
lý, sẽ cản trở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị, do đó tác động tiêu cực đến
Trên đất đô thị, tất cả các loại hoạt động kinh tế cùng được tiến hành.
Trong trường hợp các loại hoạt động kinh tế diễn ra trên địa bàn đô thị thiếu sự
liên kết, tác động và chế ước qua lại với dây chuyền kinh tế sinh thái đô thị, sử
dụng không hợp lý đất đô thị thì kinh tế sinh thái đô thị sẽ bị phá hoại, tất sẽ
mang lại những tổn thất không lường được cho sự phát triển kinh tế đô thị.
Các nhu cầu về ăn, ở, mặc, học hành, việc làm, đi lại của dân cư đô thị
đều cần phải có một địa điểm nhất định để đáp ứng. Thông qua các hoạt động
kinh tế tiêu dùng của dân cư trên địa bàn đô thị, sản xuất và tái sản xuất sức lao
động của đô thị sẽ được tiến hành, bảo đảm cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu
Sinh viên : Lê Thọ Cường: Lớp QLĐC.K39
24
Đề án môn học
cho sự phát triển kinh tế đô thị theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
II. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở NƯỚC TA.
1. Hiện trạng quỹ đất và quản lý đất đô thị của nước ta.
Tính đến năm 1995, cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(hiện nay là 61); 560 thành phố, quận, huyện, thị xã, trực thuộc cấp tỉnh. Cả
nước có 521 đô thị lớn nhỏ, trong đó có 19 thành phố, 62 thị xã, 440 thị trấn.
Diện tích chiếm đất của các đô thị nước ta là 1.102.335ha, bằng 3,3% đất
tự nhiên của cả nước.
Trong đó:
- Đất đô thị vùng đồng bằng sông Hồng là 45.675ha, bằng 3,6% diện tích
toàn vùng.
- Đất đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long là 142.649ha, bằng 3,6%
diện tích toàn vùng.
- Đất đô thị vùng đông Nam Bộ là 167.875ha, bằng 7,0% diện tích toàn
vùng.
- Đất đô thị vùng trung du, miền núi phía Bắc là 337.432ha, bằng 3,2%
diện tích toàn vùng.