BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
*
BÙI ĐỨC NGUYÊN
ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ TÍNH SINH MIỄN DỊCH
CỦA VẮC XIN ROTAVIN-M1 DO VIỆT NAM SẢN XUẤT
Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 62.72.01.17
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC HÀ NỘI - 2014
Công trình được hoàn thành tại
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Người hướng dẫn khoa học:
(2010), "Tính ổn định nhiệt vắc xin Rotavin-M1 sản xuất tại Việt
Nam", Tạp chí Y học dự phòng, Tập XX, số 5 (113), tr. 19 - 22.
4. Nguyễn Đăng Hiền, Nguyễn Thị Mai Hương, Bùi Đức Nguyên,
Đặng Đức Anh, Lê Thị Luân (2010), "Giám sát chủng virut Rota
gây bệnh viêm dạ dày ruột cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi năm
2008", Tạp chí Y học dự phòng, Tập XX, số 5 (113), tr. 23 - 28.
5. Vũ Đình Thiểm, Nguyễn Vân Trang, Nguyễn Thị Hiền Anh, Lê Huy
Hoàng, Nguyễn Đăng Hiền, Lê Thị Luân, Tống Thiện Anh, Nguyễn
Văn Mão, Nguyễn Văn Thơm, Trần Văn Dịu, Bùi Đức Nguyên, Vũ
Thị Bích Hậu, Lê Thị Hồng Nhung, Lê Thị Kim Anh, Ngô Thị Thanh
Hoa, Nguyễn Anh Tuấn và Đặng Đức Anh (2011), "Tính an toàn của
vắc xin Rotavin-M1 trên trẻ 6 đến 12 tuần tuổi ở Phú Thọ và Thái
Bình", Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXI, số 2 (120), tr. 99 - 111.
6. Nguyễn Vân Trang, Vũ Đình Thiểm, Nguyễn Thị Hiền Anh, Lê Huy
Hoàng, Nguyễn Đăng Hiền, Lê Thị Luân, Nguyễn Văn Mão, Nguyễn
Văn Thơm, Trần Văn Dịu, Bùi Đức Nguyên, Vũ Thị Bích Hậu, Lê
Thị Hồng Nhung, Lê Thị Kim Anh, Ngô Thị Thanh Hoa, Nguyễn
Anh Tuấn và Đặng Đức Anh (2011), "Tính sinh miễn dịch của vắc
xin Rotavin-M1 trên trẻ 6 đến 12 tuần tuổi ở Phú Thọ và Thái Bình",
Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXI, số 2 (120), tr. 112 – 123.
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CDC Centers for Disease Control and
Prevention
Trung tâm Kiểm soát và
phòng ngừa bệnh tật Hoa
Kỳ
FFU Fluorescent focus-forming unit Đơn vị huỳnh quang
GMT Hiệu giá kháng thể trung
bình nhân
IgA Imuno Globulin A Kháng thể IgA
Transaminase
Men gan SGOT
SGPT Serum Glutanric Pyruvic
Transaminase
Men gan SGPT
TCID50 Tissue culture infectous dose
50%
Liều gây nhiễm 50% tổ
chức
TCMRTiêm ch
ủng mở rộng
TĐLS Thực địa lâm sàng
VP Virus protein 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tiêu chảy do virút Rota là căn bệnh viêm dạ dày ruột cấp tính
phổ biến ở trẻ em trên toàn thế giới. Ở các nước phát triển có 35 - 52%
trẻ em bị tiêu chảy cấp là do virút Rota. Ở các nước đang phát triển, tỷ
lệ tử vong ở trẻ em do tiêu chảy chiếm 1/3 tổng số tử vong vì mọi
nguyên nhân, trong đó tỷ lệ tử vong do tiêu chảy liên quan đến virút
Rota chiếm khoảng 20 – 40%. Hàng năm, trên thế giới có khoảng trên
600 nghìn trẻ chết vì tiêu chảy do virút Rota, chiếm 5% số ca chết vì
mọi nguyên nhân ở trẻ em dưới 5 tuổi.
* Cấu trúc luận án
Luận án gồm 126 trang, 4 chương: Đặt vấn đề - 2 trang, chương 1:
Tổng quan - 41 trang, chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- 20 trang, chương 3: Kết quả - 50 trang, chương 4: bàn luận - 11 trang,
kết luận – trang, kiến nghị - 1 trang. Luận án có 28 bảng, 29 biểu đồ, 15
hình và 2 đồ thị, 138 tài liệu tham khảo trong và ngoài nước.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Virút Rota
RV được chia thành 7 nhóm ; A, B, C, D, E, F và G, trong đó chỉ
có nhóm A, B, C gây bệnh cho cả người và động vật. Nhóm D, E, F, G
chỉ thấy ở động vật. Nhóm A hay gặp nhất, gây ra hầu hết các vụ dịch
tiêu chảy nặng ở trẻ em. Nhóm B thường gây ra những vụ dịch tiêu
chảy nặng trên người lớn.
Phân loại RV dựa trên cùng một lúc VP4 (týp huyết thanh P) và
VP7 (týp huyết thanh G). Có rất nhiều chủng RV của người khác nhau
bởi khả năng kết hợp của các genotype G (14 chủng) và P (21 chủng).
Các kết hợp G và P thường gặp là G1P[8], G3P[8], G4P[8], G2P[4].
Đây là một thuận lợi cho mục đích phát triển vắc xin.
Ở Việt Nam theo nghiên cứu dịch tễ học phân tử RV trên trẻ em
dưới 5 tuổi nhập viện do tiêu chảy từ năm 2000 – 2003 cho thấy chủng
G1P [8] chiếm đa số. ngoài ra có một tỷ lệ nhỏ các chủng G1P [4], G2P
[4], G4P [8], G4P [6],… .
1.3. Tình hình nghiên cứu sản xuất vắc xin Rota trên thế giới
1.3.1. Vắc xin đơn giá
Ứng cử viên vắc xin RV đầu tiên là các vắc xin đơn giá
"Monovalent vaccines" sử dụng chủng RV WC3 và RIT4237 được phân
lập từ bò hoặc chủng RRV được phân lập từ khỉ Rhesus. Tuy nhiên, những
vắc xin này không còn được sử dụng do có sự khác nhau lớn về hiệu lực
1.4. Nghiên cứu sản xuất vắc xin Rota ở Việt Nam
POLYVAC là cơ sở đầu tiên, duy nhất tiến hành nghiên cứu và
sản xuất VX Rota ở Việt Nam.
Tên hệ thống chủng: Chủng virút Rota gốc týp G1P[8]
(KH0118), chủng giống gốc G1P[8]-MS(KH0118), chủng sản xuất
G1P[8]-WS(KH0118).
1.6. Các vấn đề cần lưu ý trong thử nghiệm vắc xin trên người
Để có một vắc xin được phép sử dụng trên thị trường cũng phải trải
qua các giai đoạn thử nghiệm trên động vật và trên người (Hình 1.6).
Hình 1.6. Tóm tắt các giai đoạn thử nghiệm vắc xin
4
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Giai đoạn 1: 30 người lớn, khỏe mạnh, tình nguyện, ở huyện
Thanh Sơn, Phú Thọ, gồm 12 nam và 18 nữ, tuổi từ 19 – 30. Thời gian
thực hiện từ 16/08/2009 – 11/10/2009.
- Giai đoạn 2: 200 trẻ em khỏe mạnh, gồm 119 bé trai và 81 bé gái,
tuổi từ 6-12 tuần, ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Thời gian thực
hiện từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2010.
- Giai đoạn 3: 799 trẻ khỏe mạnh từ 6-12 tuần tuổi tại huyện Thanh
Sơn của tỉnh Phú Thọ và thành phố Thái Bình. Thời gian thực hiện
tháng 5-8/2010
Đối tượng nghiên cứu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu giai đoạn 1:
Là nghiên cứu mở, không đối chứng
tượng bị cảm cúm và sốt vào ngày thứ 20 và 21, sau 2 ngày thì khỏi.
Một đối tượng khác bị cảm vào ngày thứ 25 với biểu hiện sốt nhẹ
(38
o
C), sau 2 ngày thì khỏi. Có một đối tượng bị sốt (39,2
o
C) ở ngày
thứ 9 và 10 sau khi uống vắc xin.
Bảng 3.4. Tỷ lệ có những triệu chứng đáng chú ý trong vòng 30
ngày sau mỗi liều vắc xin
Triệu chứng
Sau li
ều 1
(từ ngày 1-10)
Sau li
ều 1 (từ
ngày 11-30)
Sau li
ều 2 (từ
ngày 1-10)
Sau li
ều 2 (từ
ngày 11-30)
Tiêu ch
ảy
0
0
0
0
Đau b
ụng
1
1
0
06
0
2
4
6
8
10
12
14
E:Rotarix B: 2liều,
(10e6/ul)
M1
M2
M3
Có 1 đối tượng có biểu hiện đau bụng không liên tục trong 7 ngày
(ngày thứ 4, ngày thứ 7, 8 và ngày 10). 1 đối tượng có biểu hiện đau
bụng trong 3 ngày (từ ngày 13-15). Nhưng tất cả đều trở lại bình thường
mà không phải can thiệp gì về y tế.
3.1.2. Kết quả nghiên cứu tính an toàn trên trẻ em
3.1.2.1 Kết quả tính an toàn trên trẻ em ở giai đoạn 2
Biểu đồ 3.2. Chỉ số hồng cầu ở trẻ trước và sau khi uống vắc xin
ở các nhóm khác nhau
Ghi chú: đường kẻ: ngưỡng hồng cầu của trẻ khoẻ mạnh.
Biểu đồ 3.3. Chỉ số bạch cầu ở trẻ trước và sau khi uống vắc xin
50
60
70
80
E:Rotarix B: 2liều, 1x10e6 C: 3 liều,
1x10e6
N: 3 liều,
2x10e6
R: 2 liều,
2x10e6
Nhóm
Nồng độ SGOT (IU/ml)
M1
M2
M3
0
10
20
30
40
50
60
70
E:Rotarix B: 2liều,
1x10e6
C: 3 liều,
1x10e6
N: 3 liều,
2x10e6
R: 2 liều,
Ghi chú: đường kẻ biểu hiện ngưỡng SGPT của trẻ khoẻ mạnh dưới 6
tháng tuổi
8
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
E:Rotarix B: 2liều,
1x10e6
C: 3 liều,
1x10e6
N: 3 liều,
2x10e6
R: 2 liều,
2x10e6
Nồng độ ure (mmol/L)
M1
M2
M3
25
30
35
40
E:Rotarix B: 2liều,
1x10e6
C: 3 liều,
1x10e6
N: 3 liều,
10e6,3
R: 2 liều,
2x10e6,3
tỷ lệ trẻ có triệu chứng (%)
Sốt
nôn
Tiêu chảy
0
5
10
15
20
25
30
35
40
E:Rotarix B: 2liều,
1x10e6
C: 3 liều,
1x10e6
N: 3 liều,
gian này, có 3 trẻ tiêu chảy ở cả nhóm uống Rotarix và 1 trẻ ở mỗi
nhóm uống Rotavin. Ngoài hiện tượng trẻ quấy khóc diễn ra đồng
đều giữa các nhóm, các triệu chứng khác đều không đáng kể và
không liên quan đến vắc xin thử nghiệm.
Sau liều 3, có 1 trẻ ở mỗi nhóm C và N bị tiêu chảy và 2 trẻ ở nhóm N
bị sốt trong vòng 7 ngày sau khi uống. Các triệu chứng khác không đáng
kể. Tương tự như sau liều 1 và 2, vẫn có 5-17,5% trẻ sốt trong khoàng 8-30
ngày sau khi uống vắc xin (biểu đồ 3.13), tuy nhiên, không liên quan đến
vắc xin. Ngoài những triệu chứng quấy khóc và ho, không có triệu chứng
khác xảy ra ở nhóm uống Rotavin, còn nhóm uống Rotarix vẫn có các triệu
chứng như chán ăn, đau bụng, tuy nhiên, tỷ lệ thấp, không đáng kể.
0
5
10
15
20
25
30
35
40
E:Rotarix B: 2liều,
1x10e6
C: 3 liều,
1x10e6
N: 3 liều,
10e6,3
R: 2 liều,
2x10e6,3
tỷ lệ trẻ có triệu chứng (%)
Sốt
11
0
5
10
15
20
25
30
35
40
C: 3liều, 1x10e6 N: 3 liều, 2x10e6
tỷ lệ trẻ có triệu chứng (%)
Sốt
Nôn
Tiêu chảy
0
5
10
15
20
25
30
35
40
C: 3liều, 1x10e6 N: 3 liều, 2x10e6
tỷ lệ trẻ có triệu chứng (%)
Buồn nôn
Chán ăn
Bảng 3.10. Trường hợp tiêu chảy có RV trong phân sau khi uống
vắc xin liều 2 ở các nhóm theo liều uống
Nhóm
N
Số ca tiêu chảy
Ngày
1-7
Số mẫu dương
tính với RV-
vắc xin
Ngày
8-30
Số mẫu dương
tính với RV-
vắc xin
E 40 1 0 3 0
B(2 liều,
10
6
FFU)
40 0 0 1 0
C (3 liều,
10
6
FFU)
40 0 0 1 0
N (3 liều,
10
Vắc xin-liều 1
Vắc xin-liều 2
Giả dược-Liều 1
Giả dược-liều 2
Biểu đồ 3.16. Các triệu chứng không mong muốn ở cả 2 địa điểm
nghiên cứu trong vòng 30 ngày sau mỗi liều vắc xin/giả dược
13
3.1.2.2.3. Đặc điểm các trường hợp tiêu chảy ở trẻ trong thời gian
nghiên cứu
Trong 4 trường hợp tiêu chảy có RV phân lập được trong phân, có
2 trẻ tiêu chảy sau liều 1 và 2 trẻ sau liều 2, có 3 trường hợp đã xác
định được là chủng G1P[8], chủng vắc xin, phù hợp với thời gian phân
lập được virút dưới 1 tuần sau mỗi liều.
Bảng 3.19. Một số đặc điểm lâm sàng trẻ tiêu chảy
trong phân có virút Rota
Tr
ẻ
số
Virút
Rota
RT-
PCR
Bi
ểu hiện lâm s
à
ng
6
Không
Không
37
0
3
Không
Không
2
Dưong
tính
G1P
[8]
4 ngày
sau liều 1
4
1
Không
4
Dương
tính
*ND
28 ngày
sau liều 2
23
Không
Không
37
0
Không
Không
* ND: chưa xác định type virút
3.2. Kết quả nghiên cứu liều và lịch sử dụng
3.2.1. Hiệu giá kháng thể IgA ở các nhóm nghiên cứu
72.7
65.6
55.9
khác, khi 2 liều vắc xin dùng cách nhau 2 tháng (nhóm B và nhóm R),
tỷ lệ này cao hơn so với các nhóm dùng 3 liều vắc xin tương ứng nhưng
cách nhau 1 tháng (nhóm C và nhóm N) và cao hơn nhóm Rotarix (cũng
sử dụng 2 liều vắc xin cách nhau 1 tháng).
3.2.2. Sự biến đổi hiệu giá IgG trong huyết thanh trẻ trước và sau khi
uống các liều vắc xin ở các nhóm nghiên cứu
Sau 2 liều Sau liều 3
15.4
52.6
25.6
36.1
54.5
44.4
41.4
0
10
20
30
40
50
60
E:Rotarix B:2liều-
1x10e6
C:3liều-
1x10e6
N:3liều-
2x10e6
R:2liều-
2x10e6
C:3liều-
R:2liều-
2x10e6
Hiệu giá trung bình nhân (GMT)
trước khi uống
sau liều 2
sau liều 3
15
Mặc dù hiệu giá kháng thể mẹ truyền cao, vẫn có 25,6%-54,5% trẻ
có chuyển đổi kháng thể IgG sau 2 lần uống vắc xin Rotavin (tương ứng
với 2 liều 10
6
và 10
6,3
FFU). Một lần nữa, có thể thấy rõ 2 liều cách
nhau 2 tháng cho tỷ lệ trẻ có động lực IgG và hiệu giá IgG cao hơn so
với khi 2 lần uống chỉ cách nhau 1 tháng đối với cùng một liều lượng
vắc xin.
Về đáp ứng miễn dịch
Tỷ lệ trẻ có động lực kháng thể IgA sau khi uống vắc xin 1 tháng:
- Nhóm uống Rotavin 10
6,3
, 2 liều cách nhau 2 tháng đạt 72,7%
- Nhóm uống Rotavin 10
6,3
, 3 liều cách nhau 1 tháng đạt 65,6%
- Nhóm uống Rotavin 10
6
,
Sau 1 tháng uống liều 2, chuyển đổi huyết thanh IgA giữa nhóm
vắc xin và giả dược tại Thái Bình tương ứng là 84,3% và 15,2%; tại
Phú Thọ, tỷ lệ chuyển đổi kháng thể IgA giữa nhóm vắc xin và giả
16
dược tương ứng là 77,3% và 11,1%. Tỷ lệ chuyển đổi kháng thể trung
bình ở nhóm trẻ uống vắc xin ở cả hai địa điểm là 80,7%, so với tỷ lệ có
chuyển đổi kháng thể ở nhóm uống giả dược là 13,3%, sự khác biệt này
giữa nhóm uống vắc xin và giả dược có ý nghĩa thống kê với p<0,00001.
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Thái Bình Phú Thọ Tổng
tỷ lệ trẻ có chuyển đổi kháng thể RV-
IgA (%)
Vắc xin
Giả dược
Bi
ểu đồ
3.23. T
ỷ
Kết quả cho thấy ở cả 2 địa điểm nghiên cứu hiệu giá trung bình
nhân của kháng thể IgA của nhóm giả dược không thay đổi đáng kể 1
tháng sau liều 2, trong khi đó nhóm uống thử nghiệm vắc xin hiệu giá
của kháng thể tăng cao: tại Phú Thọ IgA GMT = 68,2 (tăng 11,4 lần so
17
với hiệu giá trước khi uống); tại Thái Bình IgA-GMT= 109,1 (tăng 20 lần
so với hiệu giá kháng thể trước khi uống) (Bảng 3.26; Biểu đồ 3.24).
3.3.4. Phân bố hiệu giá kháng thể IgA trong các đối tượng nghiên cứu
17,1
8,6
14,3
42,4
17,7
86,1
4,1
1,2
5,8
2,9
0,0
10,0
20,0
30,0
40,0
50,0
60,0
70,0
80,0
90,0
100,0
Hơn nữa, virút tìm thấy trong phân vào giai đoạn rất muộn sau khi uống
vắc xin, cho thấy có khả năng người tình nguyện bị nhiễm virút chủng
khác từ môi trường.
Trong thử nghiệm giai đoạn 1 này, giống như Rotarix, Rotavin-M1
không gây tăng men gan 28 ngày sau uống liều 1. Ngay cả với một số
đối tượng (n=5) có nồng độ SGOT gan cao (từ 47-50U/L) trước khi
uống vắc xin, nồng độ này cũng giảm xuống sau liều 1 (từ 6-29U/L).
Việc tăng men gan (trong giới hạn bình thường) đối với mẫu máu sau
khi uống liều 2 là do việc lấy mẫu máu phải chuyển xuống buổi chiều
(học sinh tại các trường dự kỳ thi cả ngày). Có 1 trường hợp men gan
trước khi uống vắc xin liều 1 là 71U/L và sau khi uống liều 2 là 57U/L.
4.1.2 Tính an toàn trên trẻ em ở giai đoạn 2
Rotavin không làm tăng đáng kể nồng độ men gan hay làm thay
đổi các chỉ số máu, nồng độ urea trong máu so với Rotarix, giống như
quan sát về thử nghiệm lâm sang Rotarix trên thế giới. Rotavin cho ít
phản ứng phụ, các phản ứng như quấy khóc, sốt xảy ra đồng đều ở các
nhóm, có thể do các vắc xin khác mà trẻ đang sử dụng trong chương
trình TCMR. Các phản ứng không mong muốn xảy ra chủ yếu sau
liều 1 và giảm đi sau liều 2 và 3. Những phản ứng này cũng được ghi
lại ở các thử nghiệm Rotarix ở nước ta cũng như trên nhiều nước ở
cả nhóm uống vắc xin và nhóm uống giả dược, cho thấy các phản
ứng này là do sử dụng đồng thời các vắc xin khác ở trẻ. Tại
Singapore, tỷ lệ trẻ có triệu chứng sốt trên 38
o
C sau khi uống đạt tới
25-30% sau mỗi liều vắc xin và không có sự khác nhau giữa nhóm
uống vắc xin và nhóm giả dược.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi không có sự khác nhau về tỷ lệ
trẻ có những triệu chứng không mong muốn giữa nhóm uống 2 liều và 3
19
đau bụng thấp, và không có trẻ nào cần nhập viện, bước đầu cho thấy
vắc xin an toàn trong nhóm trẻ này. Như vây, cả 2 hiệu giá virút trong
vắc xin, 10
6
và 10
6,3
FFU đều an toàn ở trẻ em với lịch uống 2-3 liều,
cách nhau 1-2 tháng. Nghiên cứu về tính sinh miễn dịch của vắc xin cho
phép đánh giá lịch và liều uống nào cho kết quả tốt nhất ở trẻ.
20
4.1.3. Tính an toàn trên trẻ em ở giai đoạn 3
Giống như ở giai đoạn 2, các triệu chứng trong vòng 7 ngày sau
mỗi liều thấp (<10%), chủ yếu là sốt, quấy khóc. Tỷ lệ trẻ tiêu chảy
trong thời gian này thấp 1-5%, cho thấy liều trình này không làm tăng
tỷ lệ trẻ tiêu chảy. Trong giai đoạn này, do có nhóm trẻ sử dụng giả
dược, một lần nữa cho phép chúng tôi kết luận các triệu chứng không
mong muốn quan sát thấy không liên quan đến vắc xin vì tỷ lệ trẻ có
những triệu chứng này tương đương ở nhóm uống giả dược sau mỗi
liều. Số trẻ tiêu chảy có virút phân lập trong mẫu phân thấp (4 trong 95
trẻ, 4,2%). Đồng thời ở những trẻ này, tiêu chảy không kèm theo các
triệu chứng khác điển hình của viêm dạ dày ruột cấp như nôn, sốt trên
38
o
C. Việc phân lập virút trong phân của những trẻ này có thể giải thích
được bởi thời gian trẻ bắt đầu tiêu chảy trong vòng 7 ngày sau khi uống,
cũng là thời gian đào thải và nhân lên của virút.
4.2 Đánh giá liều và lịch uống Vắc xin trên trẻ nhỏ
Trong nghiên cứu này, hiệu giá kháng thể IgG đặc hiệu RV, chủ
yếu do mẹ truyền, ở trẻ 8 tuần tuổi trước khi uống vắc xin khá cao (hiệu
Rotarix hay RotaTeq), độ tuổi trung bình của trẻ tham gia uống vắc xin
là 8 tuần tuổi ở liều 1. Như vậy, lịch uống của vắc xin Rotavin nếu được
áp dụng sẽ thuộc tháng thứ 2 và tháng thứ 4 của trẻ, trùng với lịch tiêm
vắc xin bạch hầu – ho gà -uốn ván trong chương trình TCMR. Do vậy
khả năng trẻ uống đầy đủ 2 liều vắc xin tăng lên.
4.3. Đánh giá tính sinh miễn dịch của vắc xin Rotavin ở trẻ em tại
Thái Bình và Thanh Sơn, Phú Thọ
Sau 1 tháng uống liều 2, chuyển đổi huyết thanh IgA giữa nhóm
vắc xin và giả dược tại Thái Bình tương ứng là 84,3% và 15,2%; tại
Phú Thọ, tỷ lệ chuyển đổi kháng thể IgA giữa nhóm vắc xin và giả dược
tương ứng là 77,3% và 11,1%. Tỷ lệ chuyển đổi kháng thể trung bình ở
nhóm trẻ uống vắc xin ở cả hai địa điểm là 80,7%, so với tỷ lệ có
chuyển đổi kháng thể ở nhóm uống giả dược là 13,3%, sự khác biệt này
giữa nhóm uống vắc xin và giả dược có ý nghĩa thống kê với
p<0,00001. Tỷ lệ chuyển đổi kháng thể IgA ở nhóm uống giả dược là
do một số trẻ tiếp xúc và nhiễm tự nhiên với virút Rota. Giữa 2 địa điểm
22
nghiên cứu, không có sự khác nhau về khả năng nhiễm tự nhiên với
virút Rota.
Tuy vậy, tỷ lệ trẻ có chuyển đổi kháng thể IgA thu được trong giai
đoạn này tương đương với giai đoạn 2 ở Thanh Sơn, Phú Thọ (72,7%
và 77%). Tỷ lệ này ở Thái Bình cao hơn Phú Thọ(84,3%), tuy nhiên
tương ứng với tỷ lệ trẻ nhiễm virút tự nhiên cao hơn (nhóm giả dược).
Các xét nghiệm miễn dịch học được thực hiện trên toàn bộ số trẻ tham
gia nghiên cứu, do vậy kết quả có ý nghĩa thống kê, khác với các thử
nghiệm khác trên thế giới sử dụng 1 phần mẫu huyết thanh thu thập
được. Như vậy, kết quả của giai đoạn 3 một lần nữa khẳng định sự lựa
chọn đúng đắn liệu trình sử dụng vắc xin bao gồm 2 liều,10
6,3
muốn như sốt, nôn, tiêu chảy, đau bụng, v.v so với vắc xin
Rotarix hoặc so với nhóm trẻ uống giả dược. Các trường hợp trẻ
tiêu chảy phần lớn do các nguyên nhân khác.
2. Vắc xin Rotavin-M1 tạo đáp ứng miễn dịch tốt ở trẻ 6-12 tuần tuổi:
- Tỷ lệ trẻ có chuyển đổi kháng thể IgA là 80,7%, giao động từ 77-84,3%.
- Hiệu giá kháng thể IgA trung bình nhân của trẻ ở Phú Thọ là 68,2
tăng 11,4 lần và ở Thái Bình là 109,1 tăng 20 lần so với trước khi
uống vắc xin
3. Liều sử dụng vắc xin Rotavin-M1 là 2 liều với hiệu giá virút
10
6,3
FFU/liều và lịch uống 2 liều cách nhau 2 tháng.
Tỷ lệ đáp ứng miễn dịch ở mỗi nhóm như sau:
- Nhóm uống Rotavin 10
6,3
FFU/ liều với lịch uống 2 liều cách
nhau 2 tháng đạt 72,7%.
- Nhóm uống Rotavin 10
6,3
FFU/liều với lịch uống 3 liều cách
nhau 1 tháng đạt 65,6%.
24
- Nhóm uống Rotavin 10
6
FFU/liều với lịch uống 2 liều cách nhau
2 tháng đạt 60,5%.
- Nhóm uống Rotavin 10
6
FFU/liều với lịch uống 3 liều cách nhau