BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÍNH SINH MIỄN DỊCH CỦA VẮC XIN CÚM
A/H5N1 DỰ TUYỂN THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan Phương
Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc
Sinh viên thực hiện:
Bùi Duy Khánh
Mã số sinh viên:
53130691
Khánh Hòa: 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
---------------o0o---------------
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÍNH SINH MIỄN DỊCH CỦA VẮC XIN CÚM
A/H5N1 DỰ TUYỂN THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
động viên tôi hoàn thành đề tài này.
Xin kính chúc gia đình, các Thầy Cô, bạn bè cùng toàn thể các cô chú, anh chị
tại viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế một lời chúc sức khoẻ, thành công và hạnh phúc.
Sinh viên
Bùi Duy Khánh
ii
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và được sự hướng dẫn
khoa học của TS. Nguyễn Thị Lan Phương.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào trước đây. Những số liệu trong các bảng
biểu để phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thực hiện cùng
với nhóm nghiên cứu của tổ Miễn dịch, phòng Kiểm định dưới sự hướng dẫn của T.S
Nguyễn Thị Lan Phương.
Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung luận văn của mình.
Nha Trang, ngày 15 tháng 6 năm 2015
Tác giả
(ký và ghi rõ họ tên)
iii
TÓM TẮT
Giáo viên hướng dẫn:
TS. NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
1.1. Dịch tễ học bệnh cúm A/H5N1 trên người ........................................................ 3
1.2. Virus cúm và kháng nguyên cúm....................................................................... 4
1.2.1. Lịch sử phân lập ..........................................................................................4
1.2.2. Phân loại và pháp danh ...............................................................................5
1.2.3. Tính chất kháng nguyên ..............................................................................6
1.3. Vắc xin cúm A/H5N1 ........................................................................................ 8
1.3.1. Chiến lược toàn cầu và mục tiêu sản xuất vắc xin cúm đối phó với đại
dịch của tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) ............................................................... 8
1.3.2. Tá chất và vắc xin cúm A/H5N1 .................................................................9
Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....................................18
2.1. VẬT LIỆU ....................................................................................................... 18
2.1.1. Mẫu nghiên cứu .........................................................................................18
2.1.1. Động vật thí nghiệm ..................................................................................18
2.1.2. Sinh phẩm..................................................................................................18
2.1.3. Dung dịch và hóa chất ...............................................................................18
2.1.4. Thiết bị và dụng cụ ....................................................................................18
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 19
v
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ...................................................................................19
2.2.2. Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu ............................................21
2.2.3. Phương pháp đánh giá kết quả nghiên cứu ...............................................26
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN ......................................................................27
3.1
Kết quả nghiên cứu tính sinh miễn dịch của vắc xin cúm IVACFLU- A/H5N1
dự tuyển TNLS giai đoạn 2/3 .................................................................................... 27
....................................................................................................................................... 27
Bảng 3.2: Hiệu giá kháng thể kháng HA trung bình nhân (GMT) sau liều tiêm thứ
hai .................................................................................................................................. 27
Bảng 3.3: Tỷ lệ chuyển đổi hiệu giá kháng thể trung bình nhân (GMT) của huyết thanh
chuột miễn dịch giữa các liều tiêm, trước và sau tiêm vắc xin .................................... 31
Bảng 3.4: Tỷ lệ số cá thể có chuyển đổi huyết thanh của liều miễn dịch 3 µg
HA/chuột ....................................................................................................................... 32
Bảng 3.5: Phân bố hiệu giá kháng thể HAI của chuột miễn dịch với liều tiêm 3µg HA
(%) ................................................................................................................................. 32
Bảng 3.6: Tỷ lệ số cá thể có chuyển đổi huyết thanh của liều miễn dịch 1,5 µg HA/chuột
....................................................................................................................................... 33
Bảng 3.7: Phân bố hiệu giá kháng thể HAI của chuột miễn dịch với liều tiêm 1,5 µg HA
....................................................................................................................................... 33
Bảng 3.8: Tỷ lệ số cá thể có chuyển đổi huyết thanh của liều miễn dịch 0,75 µg HA/chuột
....................................................................................................................................... 34
Bảng 3.9: Phân bố hiệu giá kháng thể HAI của chuột miễn dịch với liều tiêm 0,75 µg
HA ................................................................................................................................. 34
Bảng 3.10: Hiệu giá kháng thể HAI trung bình nhân (GMT) huyết thanh chuột miễn
dịch của vắc xin cúm A/H5N1 bảo quản trong 18 tháng .............................................. 37
Bảng 3.11: Tỷ lệ chuyển đổi kháng thể trung bình nhân của huyết thanh chuột miễn dịch
giữa các liều tiêm, trước và sau tiêm vắc xin bảo quản trong 18 tháng ........................ 40
vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: sản xuất và kiểm định IVACFLU-A/H5N1 ................................................. 15
viii
HA:
Haemagglutinin
HPAI:
High Pathogenic Avian Influenza
LPAI:
Low Pathogenic Avian Influenza
NA:
Neuraminidase
WHO:
World Health Organization
TCYTTG:
Tổ chức Y tế thế giới
MDCK :
Tế bào thận chó Madin – Darby
CEFs :
Bệnh cúm gia cầm có độc lực cao (High Pathogenic Avian Influenza) được tổ
chức thú y Quốc Tế (OIE) xếp vào bảng A các bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), từ trường hợp nhiễm bệnh
đầu tiên vào năm 2003 đến tháng 5/2015 tổng số trường hợp mắc cúm A/H5N1 trên toàn
thế giới là 826 người, số người chết là 440 người. Tại Việt Nam đã ghi nhận được 127
trường hợp mắc bệnh và trong đó có 64 trường hợp tử vong [20].
Cho đến nay các trường hợp nhiễm virus cúm A/H5N1 trên người cho thấy chỉ
xảy ra khi có sự tiếp xúc chặt chẽ giữa người và gia cầm bị bệnh. Tuy nhiên giới chuyên
môn vẫn lo lắng về khả năng xuất hiện một chủng virus cúm có khả năng lây trực tiếp
từ người sang người tạo ra viễn cảnh đen tối về đại dịch cúm. Các biến chủng như vậy
thường xảy ra một cách ngẫu nhiên mà không thể dự đoán trước, chúng rất nguy hiểm
vì có thể vượt qua được phản ứng trung hoà của kháng thể tồn lưu trong quần thể người
đã được tạo ra do bị nhiễm các chủng virus đang lưu hành trước đó. Do đó phòng chống
dịch cúm gia cầm là một trong những chương trình phòng chống dịch bệnh cấp quốc
gia. Ngoài các biện pháp về an toàn sinh học trong chăn nuôi như tiêu huỷ đàn gia cầm
bị nhiễm bệnh, cấm lưu thông và vận chuyển, tiêu thụ... thì việc sử dụng vắc xin tiêm
phòng để tạo ra đáp ứng miễn dịch chủ động chống lại bệnh cúm là một biện pháp hỗ
trợ tích cực và không thể thiếu trong việc phòng và hạn chế bệnh, bảo về sức khoẻ cộng
đồng.
Vắc xin cúm được sản xuất từ thập niên 60 nhưng chỉ tập trung ở các nước Châu
Âu và Bắc Mỹ. Với năng lực hiện nay là khoảng trên 300 triệu liều/năm, nếu đại dịch
trên người xảy ra chỉ có thể đáp ứng 10% dân số thế giới. Trước tình hình đó, TCYTTG
khuyến cáo tất cả các nước, đặc biệt là các quốc gia Châu Á, chủ động nghiên cứu và
sản xuất vắc xin cúm A/H5N1 để có thể kịp thời cung ứng cho nhu cầu bảo vệ sức khoẻ
cộng đồng khi xảy ra đại dịch.
Hiện nay trên thế giới, nhiều hướng nghiên cứu đang được xúc tiến với mục tiêu
là sản xuất được vắc xin cúm A/H5N1 có hiệu quả cao và đảm bảo an toàn khi sử dụng.
2
tại Hy Lạp là bệnh truyền nhiễm đường hô hấp cấp tính. Bệnh xảy ra theo chu kỳ và
thường gây dịch với quy mô khác nhau. Ở vùng ôn đới, các đợt phát dịch thường xảy ra
vào mùa đông hàng năm. Ngược lại, ở các vùng nhiệt đới, bệnh cúm xảy ra quanh năm,
bùng phát bất ngờ và lan rộng thành các vụ dịch.
Trên thế giới, hằng năm, tỉ lệ nhiễm cúm trung bình là 5% - 15% dân số (người
lớn 5% - 10%, trẻ em 20% - 30%). Trung bình có 3 – 5 triệu người mắc bệnh nặng, trong
đó có 250.000 đến 500.000 trường hợp tử vong. Tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở trẻ em từ 5
đến 9 tuổi, nhưng tỉ lệ phát bệnh nặng và tử vong cao nhất ở người lớn trên 65 tuổi và
những người có nguy cơ cao [9, 13, 14, 17].
Đại dịch cúm A đầu tiên được ghi nhận vào năm 1580 ở châu Á. Đến nay đã có
ít nhất 3 đại dịch nghiêm trọng xảy ra tại Tây Ban Nha năm 1918 – 1919 do chủng
H1N1(khoảng 1/3 dân số thế giới bị nhiễm bệnh và có khoảng 50 triệu đến 100 triệu
người tử vong), tại các nước Châu Á năm 1957 – 1958 do chủng H2N2 (khoảng 1 triệu
người chết) và tại Hông Kông năm 1968 – 1969 do chủng H3N2 (khoảng 33.800 người
chết) [9].
Cúm gia cầm do virus cúm type A (Avian influenza) gây bệnh trên gia cầm và có
thể nhiễm cho một số loài động vật có vú trong đó có người. Sự phân loại các chủng
cúm gia cầm dựa trên khả năng gây bệnh cao (HPAI) hoặc thấp (LPAI). Các chủng
HPAI có độc lực cao và tỉ lệ chết ở đàn bị nhiễm thường lên đến 100%. Các chủng LPAI
có độc lực thấp và được xem như tổ tiên của các chủng HPAI [11, 19].
Có nhiều chủng virus gây bệnh cúm gia cầm như H5N1, H3N2, H7N1, H7N9,
H9N2,.... Các vụ dịch cúm gia cầm gần đây chủ yếu do virus cúm A/H5N1 gây ra.
Chủng này có khả năng gây bệnh cao, lây nhiễm rất nhanh và gây chết trên diện rộng.
Nguy hiểm hơn, virus này đã lây nhiễm sang người gây bệnh nặng và có thể dẫn đến tử
vong.
4
Bảng 1.1: Số người mắc và tử vong do cúm A/H5N1 theo báo cáo của TCYTTG từ tháng
12/2003 đến tháng 5/2015 [20].
M
C
M
C
M
C
M
C
M
C
Azerbaijan
8
5
0
0
0
0
2
0
3
0
1
1
0
0
0
0
7
1
Cambodia
37
Canada
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
0
0
0
0
4
1
51
31
Djibouti
1
0
0
0
0
0
0
0
0
5
4
3
37
14
119
30
329
107
Indonesia
162
134
9
7
12
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
3
2
Lao
2
Myanmar
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
Pakistan
3
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
25
17
Turkey
12
4
0
0
0
0
0
0
4
2
2
1
2
2
0
0
127
64
Tổng số
468
282
1.2. Virus cúm và kháng nguyên cúm
1.2.1.
Lịch sử phân lập
Năm 1933, Sir Christopher Andrewers, Wilson Smith và Sir Patrick Laidlaw xác
định tác nhân gây bệnh cúm và lần đầu tiên phân lập được virus cúm lây bệnh cho người.
Năm 1940, Frank Macfarland Burnet nuôi cấy thành công virus cúm trên trứng
gà có phôi ở quy mô phòng thí nghiệm.
Năm 1941, Geogre K. Hirst xác định virus có khả năng gây ngưng kết hồng cầu
và dựa vào đặc điểm này đã xây dựng phương pháp thử nghiệm phát hiện virus cúm.
Năm 1955, Sir Christopher Andrewers xác định virus cúm thuộc loài Myxovirus.
Sau đó, các nghiên cứu đã chứng minh virus cúm cũng là tác nhân gây bệnh ở lợn và
5
xác định là tác nhân gây đại dịch năm 1918 có liên quan về mặt kháng nguyên với virus
cúm lợn, từ đó thiết lập mối quan hệ giữa cúm động vật và cúm người.
1.2.2.
Phân loại và pháp danh
1.2.2.1.
Phân loại
Virus cúm thuộc họ Orthomyxoviride, gồm 3 type A, B, C khác nhau ở kháng
nguyên bề mặt, trong đó type A là tác nhân chủ yếu gây các dịch cúm. Type B và C
thường gây bệnh nhẹ và lẻ tẻ. Chỉ virus cúm type A mới được phân chia thành các phân
Toàn bộ cấu trúc này được gọi là ribonucleoprotein [6, 11].
Bộ gen phân nhiều đoạn của virus cúm là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi kháng
nguyên liên tục để trở thành chủng virus mới, có hai kiểu thay đổi kháng nguyên là
antigen shift và antigen drift. Antigen shift là sự thay đổi di truyền quan trọng do sự tái
tổ hợp gen giữa các chủng khác nhau tạo ra. Antigen drift là sự đột biến ngẫu nhiên xảy
ra ở gen mã hóa cho HA dẫn đến sự thay đổi của một số acid amin trong protein HA.
Bộ gen của virus gồm 8 phân đoạn RNA mã hóa cho 10 loại polypeptide khác nhau [2,
6, 9, 11, 14].
1.2.3.
Tính chất kháng nguyên [3, 7, 22, 23]
Hai kháng nguyên quan trọng nhất quyết định độc tính của virus cúm là
Haemagglutinin và Neuraminidase.
Haemagglutinin
Haemagglutinin (HA) là một glycoprotein có cấu trúc trimer, dạng hình cây mọc
nhô ra từ màng lipid của virus với hình dạng hình cầu nằm ở phía ngoài. HA có khả
năng gây ngưng kết hồng cầu.
HA là kháng nguyên quan trọng nhất quyết định độc tính của virus nhờ khả năng
nhận biết và gắn vào thụ thể của tế bào chủ. Khả năng này phụ thuộc vào 2 yếu tố:
- Hai dạng phân tử sialic acid (SA) trên thụ thể của tế bào vật chủ: N –
acetylneuraminic acid và N – glycolyneuraminic acid.
7
- Hai kiểu liên kết với galactose: liên kết α – 2,6 Gal hay liên kết α – 2,3 Gal trên bề
mặt tế bào chủ.
HA virus cúm gia cầm có ái lực với liên kết SA α – 2,3 Gal, có nhiều ở các tế bào
biểu mô ruột. Ngược lại, HA virus cúm người liên kết với SA α – 2,6 Gal, các tế bào
đổi trình tự amino acid và làm thay đổi tính chất kháng nguyên của phân tử. Đột biến
kháng nguyên xảy ra ở tất cả các type cúm.
-
Quá trình chuyển đổi kháng nguyên (antigen shift)
Quá trình chuyển đổi kháng nguyên là sự biến đổi hoàn toàn một hay hai protein
bề mặt, xảy ra khi gen mã hoá cho phân type này được thay thế bằng gen mã hoá cho
một phân type khác. Hiện tượng này là kết quả của quá trình chuyển đổi gen giữa hai
chủng virus đồng thời lây nhiễm một tế bào. Hai chủng này, một có thể từ chim lây sang
8
tế bào vật chủ trung gian kết hợp với một chủng cúm ở người lây sang. Sau khi cả hai
cùng xâm nhập và nhân lên trong tế bào, khi quá trình lắp ráp các virus có khả năng trộn
lẫn giữa các gen mã hoá 2 virus với nhau. Khi xảy ra quá trình chuyển đổi kháng nguyên,
virus mới vừa mang gen của virus cúm ở gia cầm vừa mang gen virus cúm ở người.
Điều này giúp virus có độc tính của virus cúm gia cầm và có khả năng xâm nhiễm vào
cơ thể người. Khi đó, hệ miễn dịch của người thông thường không có khả năng chống
đỡ, nếu chủng virus mới này xảy ra khả năng gây bệnh cao và lây trực tiếp từ người sang
người thì một đại dịch toàn cầu sẽ xảy ra.
Khác với đột biến kháng nguyên, quá trình tái tổ hợp kháng nguyên chỉ xảy ra ở
virus cúm A vì virus cúm A gây bệnh cho nhiều loại vật chủ khác nhau. Điều này tạo cơ
hội cho quá trình tái tổ hợp bộ gen cho nhiều chủng virus khác nhau tạo nên một virus
cúm mới nguy hiểm hơn. Các đại dịch cúm châu Á 1957 (H2N2), cúm Hông Kông
(H3N2) là do chủng virus cúm A trải qua quá trình chuyển đổi kháng nguyên gây nên.
Đáp ứng miễn dịch chống virus [10]
chương trình này một mạng lưới giám sát cúm toàn cầu đã ra đời (GISN) [15, 16].
Để giải quyết vấn đề trên, TCYTTG đã đưa ra nhiều mục tiêu chiến lược khác
nhau, đồng thời làm việc với các chính phủ, các nhà khoa học, các công ty sản xuất
thuốc, vắc xin và những nhân vật có ảnh hưởng trên thế giới để đạt được một giải pháp
chung nhằm tăng khả năng đáp ứng vắc xin cúm cho đại dịch một cách có hiệu quả, đó
là:
-
Phát triển các loại vắc xin mới.
-
Kỹ thuật nuôi cấy tế bào có khả năng tăng sản lượng sản xuất
-
Chiến lược tiết kiệm kháng nguyên, trong đó sử dụng tá chất là mục tiêu
chính.
1.3.2.
Tá chất và vắc xin cúm A/H5N1
1.3.2.1.
Tá chất
Định nghĩa
Tá chất (adjuvant) được Ramon định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1926, đó là một
chất được sử dụng kết hợp với kháng nguyên đặc hiệu để làm tăng đáp ứng miễn dịch
kháng thể ứng với các epitope trên các phức hợp sinh miễn dịch.
- Làm giảm hàm lượng kháng nguyên trong vắc xin, nhờ vậy làm giảm sự cạnh tranh
kháng nguyên và sự chèn ép epitope đặc hiệu, giảm lượng kháng nguyên trong một liều
vắc xin và giảm giá thành sản xuất.
Các loại tá chất
-
Các loại tá chất cổ điển
Ngay từ khi khái niệm tá chất chưa ra đời, nhiều hợp chất tự nhiên hay tổng hợp
được sử dụng phối hợp với kháng nguyên với vai trò là một tá chất như tapioca, hợp
chất nhôm, hợp chất canxi, xác vi khuẩn ho gà, chitosan,... Hai loại tá chất kinh điển,
được sử dụng phổ biến đó là hợp chất nhôm và tá chất Freund [9].
Hợp chất nhôm (Al3+)
Hợp chất nhôm (bao gồm hydroxit nhôm Al(OH)3, photphat nhôm AlPO4 hoặc
kết hợp cả hai) được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nhiều loại vắc xin như: vắc xin uốn
ván hấp phụ, vắc xin bạch hầu – ho gà – uốn ván, vắc xin viêm gan A, B và vắc xin
dại,...
Tá chất nhôm đã trở thành căn cứ để đánh giá các tá chất mới trong vắc xin dùng
cho người. Tá chất nhôm khó được tạo ra theo cách tổng hợp hóa lí, điều này ảnh hưởng
đến tính đáp ứng miễn dịch. Vì vậy, trong quá trình hấp phụ phải chú ý đến đặc tính hóa
11
lí của kháng nguyên, loại tá chất nhôm, điều kiện hấp phụ và nồng độ tá chất. Không
phải tất cả các hợp chất nhôm đều phải có hiệu quả như nhau. Do đó, một dạng pha chế
đặc biệt của hydroxit nhôm ( Alhydro gel) đã được khuyến cáo dùng như một tá chất
chuẩn.
Tá chất Freund
12
Mặc dù không hiệu quả như các tá chất mới nhưng ứng dụng của tá chất nhôm
trong nghiên cứu sản xuất vắc xin cúm phòng chống đại dịch như cúm A/H5N1 vẫn
đang chiếm ưu thế về tính an toàn, giá thành rẻ và đặc biệt không bị rào cản bản quyền
hạn chế [8].
1.3.2.2.
Vắc xin cúm A/H5N1
Phương pháp sản xuất
Cả hai vắc xin cúm bất hoạt (IIV) và vắc xin giảm độc lực (LAIV) có thể được
sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy trên trứng gà có phôi, trên tế bào, trên nguyên bào
sợi phôi gà (CEFs) [1].
Nuôi cấy trên trứng gà có phôi
Nuôi cấy trên trứng gà có phôi là phương pháp truyền thống, an toàn, tin cậy và
đã được sử dụng để sản xuất vắc xin cúm với qui mô công nghiệp trong hơn 60 năm
qua.
Trứng gà có phôi 9 – 12 ngày tuổi được sử dụng để cấy chủng sản xuất vắc xin.
Để sản xuất số liều như nhau, vắc xin IIV cần phải có một lượng trứng tối thiểu gấp 20
lần so với vắc xin LAIV, nhưng không cần phải có trứng SPF như đối với vắc xin LAIV
vì có bước bất hoạt. Tất cả những vắc xin LAIV đã được cấp phép đều được sản xuất
trên trứng gà SPF có phôi.
Nuôi cấy trên tế bào
Có ba dòng tế bào đã được phát triển để sản xuất vắc xin cúm: MDCK (tế bào
thận chó Madin – Darby) được phân lập năm 1958 và được sử dụng rộng rãi trong sản
xuất vắc xin cho súc vật; Tế bào Vero (tế bào thận khỉ xanh Châu Phi) được dùng để sản
xuất vắc xin bại liệt trong hơn 20 năm; và tế bào PER.C6 (tế bào võng mạc người) là tế
A/vietnam/1194/2004 (H5N1) và chủng virus cúm A khác có khả năng phát triển tốt
trên trứng gà (một đặc tính quan trọng để sản xuất vắc xin), ví dụ chủng A/PR/8/34
(H1N1) hay còn gọi là chủng PR8. Chủng được tạo ra từ 2 chủng trên có chứa các đoạn
gen mã hóa cho HA và NA mà không chứa gen quyết định tính độc của chủng thứ nhất
và các đoạn gen khác của chủng thứ 2 [1].
Liều kháng nguyên
Hiện tại chưa nơi nào đưa ra được một công thức chung cho vắc xin phòng cúm
A/H5N1 có hiệu quả về kinh tế. Các cuộc thử nghiệm lâm sàng về vắc xin A/H5N1 đang
diễn ra để kiểm chứng các công thức vắc xin khác nhau, kể cả các chất hấp phụ mà về
lí thuyết có thể cho phép tăng cường đáp ứng miễn dịch tạo sự bảo vệ thích hợp ở một
mức hàm lượng kháng nguyên thấp.
Vắc xin cúm A/H5N1 là vắc xin một thành phần. Về lí thuyết một liều vắc xin
chỉ cần 15 µg HA. Tuy nhiên liều kháng nguyên đủ tạo ra hiệu lực bảo vệ phụ thuộc vào
các yếu tố khác như đối tượng miễn dịch, dạng vắc xin (có hoặc không có tá chất), loại
vắc xin, đường đưa kháng nguyên vào cơ thể,.. Cùng với việc xác định liều kháng
14
nguyên và việc phối hợp với tá chất, qui trình miễn dịch vắc xin cúm A/H5N1 đang
được nghiên cứu để phù hợp nhất với chiến lược tiết kiệm kháng nguyên.
Theo số liệu về các thử nghiệm, vắc xin cúm A/H5N1 có thể tạo ra miễn dịch
kém hơn cúm mùa. Năm 2006, nghiên cứu của Treanor và cộng sự trên vắc xin cúm tiểu
phần sản xuất từ chủng A/Vietnam/1194/04 (H5N1) cho thấy cần hai liều vắc xin không
tá chất, mỗi liều chứa 90 µg HA mới tạo ra kháng thể bảo vệ. Kết quả nghiên cứu của
Link và cộng sự năm 2006 cho thấy, 78% người tham gia thử nghiệm có huyết thanh
dương tính với hai liều vắc xin toàn thân tinh khiết, mỗi liều chứa 10 µg HA, hấp phụ
với tá chất Al(OH)3. Như vậy, đối với vắc xin cúm A/H5N1 tiểu phần hay toàn thân tinh
khiết để tạo ra mức miễn dịch bảo vệ thì cần liều kháng nguyên HA lớn hơn so với vắc
xin toàn virus [1].