đánh giá độ dài miễn dịch của vaccin dịch tả vịt và viêm gan vịt sản xuất tại xí nghiệp thuốc thú y trung ương - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI






 BÙI DOÃN MÙI ðÁNH GIÁ ðỘ DÀI MIỄN DỊCH CỦA VACCIN DỊCH TẢ
VỊT VÀ VIÊM GAN VỊT SẢN XUẤT TẠI XÍ NGHIỆP
THUỐC THÚ Y TRUNG ƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : THÚ Y
Mã số : 60.62.50
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN THỌ
TS TRẦN THỊ LIÊN HÀ NỘI - 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
i

viên giúp ñỡ tạo ñiều kiện của Ban lãnh ñạo Xí nghiệp thuốc thú y Trung
ương, Ban lãnh ñạo trung tâm vịt ðại Xuyên cùng một số hộ chăn nuôi vịt ở
các huyện thuộc một số tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nội, các bạn ñồng
nghiệp trong phân xưởng vaccin Virut, gia ñình và người thân ñã ñộng viên,
giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài. Tôi xin ñược bày tỏ lòng biết
ơn chân thành ñối với sự giúp ñỡ quý báu ñó. Hà nội, tháng 01năm 2010
Tác giả luận văn
Bùi Doãn Mùi

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
iiiMỤC LỤC Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
1 MỞ ðẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của ñề tài 2

5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 ðề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT PCR : Polymerase chain reaction
DEV Duck enteritis virus
DHV Duck hepatitis virut
ARN Axit Ribonucleic
AND Axit Deroxyribonucleic
LD
50
50 percent L
EID
50
50 percent Embryo Infective Dose
ELD
50
50 percent Embryo Lethal Dose
OIE Office International des Epizooties
PP Page
Tr Trang
Cs Công sự


nghiệp 3 tháng sau khi tiêm phòng 64
4.11.b Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
sau 3 tháng tiêm phòng. 64
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vii4.11.c Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 2
sau 3 tháng tiêm phòng 65
4.11.d Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 3
sau 3 tháng tiêm phòng 65
4.12.a ðánh giá mức ñộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xí
nghiệp 6 tháng sau khi tiêm phòng 66
4.12.b Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
sau 6 tháng tiêm phòng. 67
4.12.d Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 3
sau 6 tháng tiêm phòng 68
4.13.a ðánh giá mức ñộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xí
nghiệp 7 tháng sau khi tiêm phòng 69
4.13.b Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
sau 7 tháng tiêm phòng. 69
4.13.c Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 2
sau 7 tháng tiêm phòng 70
4.13.d Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 3
sau 7tháng tiêm phòng 70
4.14.a ðánh giá mức ñộ bảo hộ của 3 lô vaccin viêm gan vịt nuôi tại xí
nghiệp 8 tháng sau khi tiêm phòng 71
4.14.b Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 1
sau 8 tháng tiêm phòng. 72
4.14.c Kết quả thu ñược về mức ñộ bảo hộ của vaccin viêm gan vịt lô 2

thống ở nước ta hiện nay chúng ta còn có thêm một số giống vịt nhập ngoại có
năng suất, chất lượng cao ñó ñược nhập vào Việt Nam như vịt Khaki-
Cambell ñược nhập vào nước ta từ năm 1992, thích ứng tốt và phát triển
nhanh ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Vịt CV-Super M là giống vịt
chuyên thịt và ñược nhập vào nước ta từ năm 1989. Hiện nay ñang ñược nuôi
nhiều ở các vùng ñồng bằng sông Cửu Long và ñồng bằng sông Hồng.
Một trong những bệnh quan trọng nhất và gây thiệt hại nặng nề cho
ngành chăn nuôi vịt là bệnh dịch tả vịt và bệnh viêm gan vịt. Bệnh dịch tả vịt
là một loại DNA virus thuộc họ Herpesvirideae nhóm Herpesvirus. Bệnh gây
nên tình trạng bại huyết, xuất huyết cho vịt với tỷ lệ chết cao lên ñến 90%.
Theo Quyết ñịnh số 63/2005/Qð - BNN [5] và Quyết ñịnh số 64/2005/Qð -
BNN [6] ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày
13/10/2005 thì bệnh dịch tả vịt ñược coi là bệnh nguy hiểm của ñộng vật, phải
áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc. Bệnh dịch tả vịt là một trong 7
bệnh phải tiêm phòng bắt buộc và yêu cầu tỷ lệ tiêm phòng phải ñạt 100%.
Bệnh viêm gan vịt xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới, bệnh do virut
Viêm gan vịt type I gây ra. Hàng năm có rất nhiều vịt con bị chết ở khắp
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
2các quốc gia. Ở Việt Nam theo những thông báo mới nhất của Viện chăn
nuôi, Viện thú y, Trường ðại Học Nông nghiệp Hà Nội thì bệnh Viêm gan
vịt có nguy cơ thiệt hại nặng nề ñến ngành chăn nuôi vịt trong cả nước. ðặc
trưng của bệnh là bệnh tích ở gan, gan sưng, mềm, dễ nát khi ấn nhẹ, gan có
màu ñỏ anh ñào hoặc màu vàng ñất, mặt gan loang lổ, các vết xuất huyết có
thể bằng ñầu ñinh ghim. Ngoài ra còn thấy lách sưng nhẹ, thận sưng, tụ huyết,
cơ tim nhợt nhạt, tỷ lệ tử vong có khi lên ñến 100% sau khi nhiễm bệnh từ 2-
4 ngày. Bệnh chỉ xảy ra ở vịt con dưới 6 tuần tuổi. Bệnh dịch tả vịt và viêm
gan vịt hiện nay không có thuốc ñặc hiệu ñể chữa mà biện pháp duy nhất là
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Bệnh dịch tả vịt
Dịch tả vịt (Pestisanatum) là một bệnh truyền nhiễm có tính lây lan
mạnh của loài thuỷ cầm do một loại Herpesvirus thuộc họ Herpesvirideae gây
ra với ñặc ñiểm là xuất huyết nội tạng và ỉa chảy nặng nề (Nguyễn Như
Thanh, 2001) [32].
2.1.1. Lịch sử và phân bố bệnh
* Lịch sử bệnh
Bệnh dịch tả vịt xuất hiện lần ñầu tiên vào năm 1923 tại Hà Lan ở một
ñàn vịt nhà với triệu chứng ủ rũ, khát nước và chết sau 1 ngày. Baudet (1923)
[36] khi nghiên cứu về bệnh này không tìm thấy vi khuẩn nhưng ñã gây ñược
bệnh cho vịt khỏe bằng nước chiết phủ tạng của vịt ốm sau khi qua nến lọc
Chamberland L
3
. Sau ñó ông tiếp tục gây bệnh cho thỏ và gà nhưng không
thành công. Ông ñã kết luận có thể nguyên nhân do một loại virus.
Năm 1930, tại Hà Lan, De Zeeuw mô tả một trường hợp bệnh tương tự
xảy ra ở một ñàn vịt 150 con. Năm 1942, dịch lại tái phát ở ñất nước này làm
chết 2600 trong tổng số 5700 vịt. Vịt ốm ỉa phân xanh, mổ khám khi vịt chết
thấy xuất huyết cơ tim, dạ dày tuyến, tá tràng, viêm kiểu bạch hầu ở cuống
họng và lỗ huyệt. Lần này, Boss (1943) [43] ñã phân lập ra virus và cấy
truyền 18 ñời trên vịt.
Năm 1949, tại Hội nghị Thú y thế giới lần thứ XIV, căn cứ vào những
kết quả nghiên cứu của mình về chủng virus do Boss (1943) phân lập ñược,
Jansen và Kunst ñã ñề nghị gọi tên bệnh là Duck virus enteritis (DVE) (OIE,
2000) [58]. Bệnh dịch tả vịt còn có các tên gọi khác nhau như: Endenpest (Hà
Lan), Pest du canard (Pháp), Enteupest (ðức) (Nguyễn Xuân Bình, 2006) [4].

bệnh dịch tả vịt lại tái phát ở hồ Finger (Mỹ).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
6 Tại Châu á, năm 1944 bệnh xảy ra ở ấn ðộ và tái phát vào năm 1963.
Năm 1968, Jansen công bố bệnh xảy ra ở Trung Quốc. Khi nghiên cứu về bệnh
này, Mukerji xác nhận chủng virus của ấn ðộ và chủng virus của Hà Lan có
cùng tính chất kháng nguyên. Năm 1976, 1977 bệnh ñã phát ra ở Thái Lan gây
thiệt hại tới 650.000 vịt (Voxapeer Suwathanaviroij, 1978) [65]. Năm 1979 ñã
có báo cáo về sự xuất hiện bệnh dịch tả vịt ở ñàn vịt trời và vịt Muscovy.
* Bệnh dịch tả vịt ở Việt Nam
Năm 1963, tại Cao Bằng, bác sỹ thú y ðặng Trần Dũng cho biết bệnh
dịch tả vịt ñã xuất hiện làm thiệt hại trên 3000 vịt.
Tháng 5 năm 1969, trong vòng 3 tháng bệnh dịch tả vịt ñã làm thiệt
hại tới 15000 vịt ở 4 huyện ngoại thành Hà Nội. Chính từ ổ dịch này ñã
phân lập ra virus và có thể nuôi cấy virus này trên màng niệu và xoang niệu
phôi vịt 10 ngày tuổi (Trần Minh Châu, 1980) [9]. Qua nghiên cứu thấy
virus gây bệnh ñiển hình cho vịt và không có ñặc tính ngưng kết hồng cầu
gà. Vũ ðình Tiếu và Mai Anh cho biết dùng vaccin dịch tả vịt ñể tiêm cho
vịt có thể ngăn chặn ñược dịch. Từ ñó bệnh dịch tả vịt chính thức ñược
công nhận có tại Việt Nam. Tiếp theo, dịch ñã phát ra ở Hà Nội, Thanh
Hoá, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam Hà (cũ), Thái Bình, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Cao Bằng, Hải Hưng (cũ).
Năm 1971, dịch lại phát ra ồ ạt ở các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh,
Lạng Sơn, Hà Bắc (cũ) và thành phố Hải Phòng. Nhờ có tiêm phòng
vaccin nên diện dịch ñã bị thu hẹp lại, chỉ còn âm ỉ ở một số cơ sở chăn
nuôi phân tán.
Năm 1980, dịch phát ra mạnh mẽ ở Hà Nam Ninh (cũ), Thanh Hoá và
ñồng bằng sông Cửu Long. Từ ñó dịch lan ra tới tận Nghệ Tĩnh, Kiên Giang,

2002
Việt Nam 33831 15680
ấn ðộ 2430 888
2003
Thái Lan 3693 1121
ấn ðộ 2857 879
Thái Lan 4500 4120
2004
Việt Nam 41762 22447
Nguồn: Annual animal disease status [59]

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
8 Năm 1989, Phạm Thị Lan Thu, Thân Thị Hạnh [34] cho biết ñàn vịt
của Phú Khánh trong những năm 1980-1986 thường phát bệnh và lây lan
nhanh ở nhiều nơi. Các tác giả ñã tiến hành phân lập virus dịch tả vịt trên
ñàn vịt ở Phú Khánh.
Năm 1999, Nguyễn ðức Hiền [20] ñã chẩn ñoán xác ñịnh virus gây
bệnh dịch tả vịt ở Cần Thơ và theo kết quả chẩn ñoán lâm sàng bệnh dịch tả
vịt vào năm 2000-2002 của chính tác giả và cộng sự thì trên 1176 vịt ñược mổ
khám có 455 vịt ñược chẩn ñoán là mắc bệnh dịch tả vịt.
Theo thống kê mới nhất của OIE (2006) [59]; Việt Nam là một trong
những nước bị bệnh dịch tả vịt gây thiệt hại nặng nề nhất. Năm 1999, bệnh ñã
làm chết 51.752 trong tổng số 123.851 vịt. Năm 2000, có 2.964 vịt chết vì
bệnh dịch tả vịt trong tổng số 6.747 vịt. Năm 2001 phát hiện có 24.478 vịt
chết trong 46.993 vịt. Năm 2002, bệnh xảy ra ở 33.831 vịt gây chết 15.680
con và năm 2004 số vịt chết vì bệnh dịch tả vịt là 22.447 (xem bảng 2.1).
Như vậy, bệnh dịch tả vịt là căn bệnh cần ñược quan tâm, nghiên cứu sâu

2.1.2.3. Lứa tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi, tuy nhiên vịt từ 15 ngày tuổi trở ñi bị
nhiễm nhiều nhất (Nguyễn Xuân Bình, 2006) [4].
2.1.2.4. Chất chứa virus
ở vịt bị nhiễm bệnh, virus có trong máu, các cơ quan phủ tạng, nhiều nhất
là ở gan, lách và óc. Tại Việt Nam ñã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở cơ thể
vịt bị gây nhiễm nhân tạo. Sau khi gây nhiễm virus 24 giờ, virus ñã nhân lên,
xâm nhập vào máu nhưng số lượng còn ít. ðến 48 giờ, virus ñã xuất hiện trong
nước mắt, nước mũi. Và ñến 72 giờ, khi vịt bị bệnh nặng, bắt ñầu ỉa chảy thì tế
bào niêm mạc ñường tiêu hoá do tác ñộng của virus bị huỷ hoại, tróc ra cùng với
dịch tiết có nhiều virus, theo phân bài xuất ra ngoài (Trần Minh Châu, 1987)
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
10[11]. Vịt bệnh mang virus rất lâu và có thể tái phát bệnh ở thể ẩn tính. Người ta
có thể phát hiện bệnh bằng kiểm tra nốt rộp ở mặt dưới của lưỡi vịt.
Shawky S., Schat K.A. (2002) [63] cho biết virus dịch tả vịt có thể tiềm
tàng trong cơ thể vịt và có khả năng tái hoạt ñộng trở lại. Sau 3 tuần gây
nhiễm không tìm thấy virus dịch tả vịt trong lỗ huyệt nhưng 7-9 tuần sau gây
nhiễm, bằng phản ứng PCR, tác giả ñã phát hiện thấy DNA virus dịch tả vịt
trong thần kinh trung ương, hạch lâm ba ngoại vi, lách, tuyến ức và túi Bursa.
2.1.2.5. ðường xâm nhập và cách lây lan
Trong thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách tiêm dưới da, bắp thịt,
tiêm tĩnh mạch hoặc nhỏ mũi.
Trong tự nhiên, ñường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là ñường
tiêu hoá. Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nước mắt, nước mũi làm ô
nhiễm thức ăn nước uống và bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các ñộng vật cảm
nhiễm khác. Jansen (1964) [48] cho biết, nguồn nước và các ñộng vật thuỷ
sinh trong ñó cũng ñóng vai trò nhất ñịnh trong việc truyền lây căn bệnh. Khi

sa dương vật, niêm mạc có những vết loét. Vịt ñẻ giảm sản lượng trứng mạnh
(Phạm Quang Hùng, 2003) [24]. Sau khi xuất hiện triệu chứng ñược 5 - 6
ngày, vịt bệnh gầy rạc, tứ chi liệt, nằm một chỗ, rũ cánh, thân nhiệt giảm dần
rồi chết.
2.1.3.2. Bệnh tích
Xác chết gầy, bẩn; da vùng ñầu, cổ, ngực, bụng, ñùi xuất huyết lấm
tấm. Tổ chức liên kết dưới da vùng ñầu, cổ thuỷ thũng, có dịch trong suốt hơi
hồng hoặc hơi vàng. Mổ khám các cơ quan nội tạng như gan, lách, thận, cơ
tim thì thấy ở các cơ quan này ñều biểu hiện bệnh tích sưng, tụ huyết hoặc
xuất huyết, ở gan có những ñiểm hoại tử màu trắng ñục, to bằng ñầu ñinh
ghim hoặc to hơn (Trần Kim Anh, 2004) [2].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
12 Bệnh tích của bệnh dịch tả vịt ñặc trưng là ở ñường tiêu hoá có
những chấm xuất huyết, nhiều nhất là ở cuống mề và trực tràng, bên trên
phủ lớp màng giả khó bóc. Ruột non xuất huyết thành những vòng nhẫn
nhìn từ ngoài vào thấy có màu nâu hoặc tím rất ñặc trưng. (Trần Minh
Châu, 1996) [12].
Phạm Quang Hùng (2003) [24] cho biết ở mỗi lứa tuổi vịt, bệnh lại thể
hiện những ñặc trưng riêng: Vịt bố mẹ bệnh tích chủ yếu là ở tuyến ức, xuất
huyết mô và tổn thương bộ máy sinh sản. Còn ở vịt con thì bệnh tích chủ yếu
ở các Lymphoid.
Nguyễn ðức Hiền (2005) [21] công bố tỷ lệ bệnh tích ñặc trưng trên vịt
thực nghiệm, trong ñó: Niêm mạc mắt xuất huyết (95,45%); phổi viêm, tụ
máu, thuỷ thũng (95,45%); dạ dày tuyến xuất huyết (100%); ruột non xuất
huyết viêm loét (100%); ruột già xuất huyết viêm loét (97,73%); lách tụ máu
có nốt hoại tử và gan xuất huyết có nốt hoại tử (100%).
2.1.4. Chẩn ñoán


ðặc ñiểm
dịch tễ học
Kiểm tra
lâm sàng
Lấy mẫu
bệnh phẩm
Phát hiện
kháng thể (SN)

Phát hiện virus

Phân lập virusPCR
Giám ñịnh
(VN)
Kết luận bệnh
(-)
(-)
(+)
(+)
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
14 Kiểm tra bệnh tích: Vịt trưởng thành có hiện tượng gan bị bạc màu.
Con ñực trưởng thành có thể xảy ra hiện tượng dương vật bị thay ñổi vị trí. ở
con cái quan sát thấy các nang trứng bị xuất huyết. Mạch máu bị tổn thương,

dịch tả vịt, vịt sẽ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích ñặc trưng của bệnh dịch tả
vịt giống như ñã mô tả ở phần 2.1.3.
* Phân lập trên trứng vịt có phôi
- Tiêm 0,2ml huyễn dịch bệnh phẩm ñã xử lý vào xoang niệu mô hoặc
màng nhung niệu phôi vịt 11-12 ngày: 5 phôi/mẫu bệnh phẩm.
- Trứng ñược ấp tiếp ở tủ ấp 37
0
C. Soi trứng. Loại bỏ những phôi chết
trong khoảng 24h sau khi tiêm.
- Virus dịch tả vịt gây chết phôi sau 4-10 ngày với ñặc trưng: Xuất
huyết lan rộng.
- Thu hoạch gan phôi và nước niệu ñể giám ñịnh virus.
* Phân lập trên tế bào xơ phôi vịt (Duck Embryo Fibroblast-DEF)
- Cấy tế bào DEF trên các lọ nuôi cấy T25 hoặc ñĩa nuôi cấy (ñĩa nuôi
cấy 6 lỗ, 24 lỗ), sau 2-3 ngày tế bào mọc thành thảm (khoảng 70%) thì gây
nhiễm huyễn dịch bệnh phẩm ñã xử lý: 500µl/lỗ hoặc lọ. Việc cấy chuyển 2
lần là cần thiết trong quá trình phân lập.
- Quan sát bệnh tích tế bào (CPE-Cytopathic pathogene effect): ñặc
trưng với ñám tế bào to, tròn và trở nên hoại tử sau 2-4 ngày sau ñó.
- Thu hoạch hỗn dịch tế bào, ñông tan, ly tâm và thu phần nước trong
cho giám ñịnh virus.
c. Phương pháp giám ñịnh virus
* Phương pháp trung hoà trên trứng vịt có phôi (VN-Virus
Neutralization):
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
16- Chuẩn bị:
+ Pha loãng virus phân lập: Nồng ñộ 10

với môi trường nuôi
cấy MEM.
+ Lô ñối chứng dương: Trộn kháng huyết thanh dương tính dịch tả vịt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status