BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGÔ THỊ HOA TRANG
ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH
CỦA GÀ, VỊT ĐƯỢC TIÊM PHÒNG VACCINE CÚM
GIA CẦM H5N1 (CHỦNG RE-5) TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH :
THÚ Y
MÃ NGÀNH :
60.62.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
:
1. PGS. TS. TÔ LONG THÀNH
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập và hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể,
cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Ban Đào tạo, Ban Chủ
nhiệm Khoa Thú y, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương, Chi Cục Thú y Hà
Nội, các thầy cô giáo khoa Thú y đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu
kiến thức của chương trình học.
Thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Tô Long Thành và PGS.TS. Phạm Ngọc
Thạch.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia
đình, người thân cùng bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi
khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể,
cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Ngô Thị Hoa Trang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC Lời cam đoan i
1.4.1 Miễn dịch không đặc hiệu 28
1.4.2 Miễn dịch đặc hiệu 30
1.4.3 Miễn dịch chủ động 31
1.4.4 Miễn dịch thụ động 32
1.4.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể 32
1.5 Chẩn đoán bệnh 33
1.5.1 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học 33
1.5.2 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích 33
1.5.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 33
1.6 Phòng chống bệnh cúm gia cầm 34
1.6.1 Phòng bệnh 34
1.6.2 Chống dịch 38
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG – NGUYÊN LIỆU – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Nội dung nghiên cứu 40
2.2 Địa điểm nghiên cứu 40
2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 40
2.3.1 Vật liệu nghiên cứu 40
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu. 45
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Hà Nội 46
3.2 Diễn biến dịch cúm A/H5N1 trên địa bàn thành phố 49
3.2.1 Diễn biến dịch cúm A/H5N1 theo thời gian 49
3.2.2 Diễn biến dịch cúm A/H5N1 theo quy mô chăn nuôi 51
3.2.3 Diễn biến dịch cúm theo loài (gà và thủy cầm) 54
3.3 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm gia cầm giai đoạn 2010 – 2014 55
3.4 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể của gia cầm sau tiêm phòng 58
3.5 Kiểm tra độ dài miễn dịch và hiệu giá kháng thể của gia cầm sau tiêm
phòng 60
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
.
.
.
.
.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang
1.1 Tổng số trường hợp nhiễm cúm gia cầm A/H5N1 ở người 7
1.2 Một số đặc điểm triệu chứng của gia cầm mắc cúm A/H5N1 11
3.1 Tổng đàn gia cầm Thành phố Hà Nội từ 2010 đến 2014 47
3.2 Tình hình dịch cúm A/H5N1 trên địa bàn Hà Nội 49
3.3 Tình hình dịch cúm A/H5N1 theo quy mô đàn 52
3.4 Tình hình dịch cúm A/H5N1 theo loài gia cầm 54
3.5 Thống kê kết quả tiêm phòng vaccine cúm gia cầm Thành phố Hà Nội
từ 2010 đến T6/2014 56
3.6 Kết quả giám sát huyết thanh sau tiêm phòng 58
3.7 Hiệu giá kháng thể của trại gà 1 61
3.8 Hiệu giá kháng thể của trại gà 2 62
3.9 Tỷ lệ bảo hộ và GMT của 2 trại gà thí nghiệm 62
3.10 Hiệu giá kháng thể của trại vịt 1 64
3.11 Hiệu giá kháng thể của trại vịt 2 65
3.12 Tỷ lệ bảo hộ và GMT của 2 trại vịt thí nghiệm 65
3.6 Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cúm gia cầm tại TP Hà Nội từ 2010 đến
T6/2014 57
3.7 Giám sát huyết thanh sau tiêm phòng giữa gà và vịt 59
3.8 Kết quả giám sát huyết thanh sau tiêm phòng 59
3.9 Biến động hiệu giá kháng thể trung bình của trại gà 1 63
3.10 Biến động hiệu giá kháng thể trung bình của trại gà 2 63
3.11 Biến động hiệu giá kháng thể trung bình của trại vịt 1 66
3.12 Biến động hiệu giá kháng thể trung bình của trại vịt 2 66
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
Cúm gia cầm thể độc lực cao (Highly Pathogenic Avian Influenza - HPAI)
do virus cúm A/H5N1 gây ra là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có tốc độ lây lan
nhanh với tỷ lệ chết cao trong đàn gia cầm khi bị nhiễm bệnh. Bệnh xảy ra ở khắp
nơi trên thế giới, gây thiệt hại về kinh tế và có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính
trị, xã hội.
Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao được Tổ chức Dịch tễ Thế giới (OIE) xếp
vào bảng A các bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm. Từ cuối năm 2003 trở lại đây,
bệnh cúm gia cầm đã, đang và dự đoán trong nhiều năm nữa vẫn là mối đe dọa nguy
hiểm cho sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta và cho sức khoẻ cộng
đồng. Do đó, phòng chống dịch cúm gia cầm là một trong những chương trình
phòng chống dịch bệnh cấp quốc gia. Việt Nam và một số nước trên thế giới đã tiến
hành đồng bộ các biện pháp như tiêu hủy đàn gia cầm, cấm lưu thông tiêu thụ gia
cầm và sản phẩm gia cầm, kiểm soát giết mổ và các biện pháp an toàn sinh học
Mặc dù những biện pháp này đã cho những kết quả nhất định song rất tốn kém và
gây thiệt hại lớn về kinh tế. Vì thế, song song với việc áp dụng các biện pháp đồng
bộ khác, việc sử dụng vaccine tiêm phòng để tạo đáp ứng miễn dịch chủ động
chống lại bệnh cúm là một biện pháp hỗ trợ tích cực và không thể thiếu trong việc
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1. Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm
1.1.1. Khái niệm về bệnh cúm gia cầm
Bệnh cúm ở gia cầm (Avian Influenza) còn gọi là bệnh cúm gà hay cúm của
loài chim. Đây là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm type A thuộc họ
Orthomyxoviridae.
Virus cúm gia cầm gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, chim cút, đà
điểu, các loài chim cảnh và chim hoang dã. Nguy hiểm hơn, bệnh có thể lây sang
người và một số loài thú khác.
Trước đây, bệnh này còn được gọi là bệnh dịch hạch gà (fowl plague) nhưng
từ Hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville - Mỹ năm 1981,
bệnh đã được thay thế với tên gọi là bệnh cúm gia cầm độc lực cao (Highly
Pathogenic Avian Inluenza - HPAI) để chỉ các virus cúm type A có độc lực mạnh,
gây lây lan nhanh, tỷ lệ tử vong cao.
1.1.2. Lịch sử bệnh cúm gia cầm
Năm 412 trước công nguyên, Hippocrates đã mô tả về bệnh cúm. Tuy nhiên,
bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao được phát hiện lần đầu tiên ở Italia vào năm 1878
và được đặt tên là bệnh dịch hạch gà, bệnh gây tỷ lệ tử vong rất cao ở đàn gia cầm.
Giai đoạn này, khoa học chưa có phương tiện để chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh,
theo một số tài liệu ghi lại cho biết nguyên nhân gây bệnh là virus cúm A/H1N1. Ở
một số nước hiện nay, loại virus này vẫn xuất hiện và là nguyên nhân gây nên bệnh
cúm ở lợn.
Đến năm 1901, virus bệnh nguyên được Centany và Savonuzzi xác định là
một tác nhân virus qua lọc. Nhưng phải đến năm 1955, người ta mới xác định
được virus đó chính là virus cúm type A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà,
gà tây và các loài khác.
Từ sau khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường
cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho 18 người nhiễm
bệnh, trong đó có 6 người chết (Nguyễn Hoài Tao và Nguyễn Tuấn Anh, 2004).
Năm 2003 ở Hà Lan dịch cúm gia cầm đã xảy ra với quy mô lớn do chủng
H7N7, 30 triệu gia cầm bị tiêu hủy, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004).
Cuối năm 2003 đầu năm 2004 đã có 11 quốc gia ở Châu Á là: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,
Việt Nam và Pakistan đã thông báo bùng phát dịch cúm gia cầm thể độc lực cao ở gà
và vịt. Sự lây lan nhanh chóng dịch cúm gia cầm xảy ra đồng thời ở một số nước đã trở
thành mối quan tâm lớn trên toàn cầu (Tô Long Thành, 2004). Hình 1.1. Bản đồ các quốc gia xảy ra dịch cúm A/H5N1
(WHO, tính đến 15/09/2008).
Chú thích: Phần bôi đậm là vùngdịch cúm xảy ra trên gia cầm.
Phần bôi nhạt là vùng dịch cúm chỉ xảy ra trên chim hoang dã.
Ngoài các ổ dịch do virus cúm H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh
thổ khác có các ổ dịch cúm gia cầm do các chủng khác là Pakistan (H7N3 và
H9N2), Canada (H7N3), Mỹ (H7N2), Nam Phi (H6 và H5N2), Ai Cập (H10N7) và
Triều Tiên (H7) (Tô Long Thành, 2007).
Năm 2007, có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới báo cáo xuất hiện
dịch cúm gia cầm do virus H5N1, đặc biệt là tại Indonesia, dịch cúm gia cầm dây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
dưa kéo dài, tại một số quốc gia Châu Phi - nơi được cho là virus cúm gia cầm có
Page 7
Bảng 1.1. Tổng số trường hợp nhiễm cúm gia cầm A/H5N1 ở người
Quốc gia
2003-2009
2010 2011 2012 2013 2014 Cộng
Mắc TV Mắc TV Mắc TV Mắc TV Mắc TV Mắc TV Mắc TV
Azerbaijan 8
5
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
Campuchia
9
7
1
1
8
8
3
3
26
14
0
0
47
Djibouti
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
134
9
7
12
10
9
9
3
3
0
0
195
163
I rắc 3
2
0
0
0
0
0
0
0
0
0
2
2
Myanmar 1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
Pakistan 3
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
25
17
Thổ Nhĩ Kỳ 12
4
0
0
0
0
0
1
1
0
0
1
1
Việt Nam 112
57
7
2
0
0
4
2
2
25
0
0
649
385
(http://www.vncdc.gov.vn/ /TinhhinhdichcumAvacachoatdongtrongtam)
1.1.4. Tình hình dịch bệnh cúm A/H5N1 ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm H5N1 bùng phát tại Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 ở
các tỉnh phía Bắc, sau đó đã nhanh chóng lan tới hầu hết các tỉnh/ thành trong cả
nước chỉ trong một thời gian ngắn. Đây là lần đầu tiên dịch cúm gia cầm H5N1 xảy
ra tại Việt Nam, có tới hàng chục triệu gia cầm bị tiêu hủy, gây thiệt hại nặng nề
cho nền kinh tế quốc dân. Tính đến nay, dịch cúm gia cầm liên tục tái bùng phát
hàng năm tại nhiều địa phương trong cả nước.
Để thuận lợi cho việc đánh giá về dịch tễ học có thể chia quá trình dịch từ
khi xuất hiện vào cuối năm 2003 đến nay thành những đợt dịch sau:
* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004: Cuối tháng 12 năm
2003, dịch cúm gia cầm thể độc lực cao với tác nhân gây bệnh là virus cúm gia cầm
H5N1. Đây là lần đầu tiên bệnh xuất hiện tại Việt Nam và vì thế nó có thể được coi
là một bệnh mới ở gia cầm. Đặc điểm của đợt dịch thứ nhất này là dịch lây lan một
cách nhanh chóng với nhiều ổ bệnh xuất hiện cùng một lúc ở nhiều địa phương khác
nhau đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm. Ngay cả các trại gia cầm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
đồng bằng Sông Hồng (Ninh Văn Hiểu, 2006). Đợt này, dịch đã xảy ra ở 83 xã,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
phường của 33 huyện, quận thuộc 11 tỉnh, thành phố. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết
và tiêu hủy là hơn 100 ngàn con.
* Đợt dịch thứ 5 từ ngày 01/5/2007 đến 23/8/2007: Dịch tái phát ở Nghệ An,
sau đó dịch lây lan và được phát hiện tại 167 xã, phường của 70 huyện, quận, thuộc
23 tỉnh. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 294,85 ngàn con (gà chiếm
7,31% và thuỷ cầm chiếm gần 93%).
Sau hơn một tháng khống chế thành công dịch cúm gia cầm trong phạm vi cả
nước, từ ngày 1/10/2007 dịch đã tái phát tại 15 xã, phường của 9 huyện, thị thuộc 6
tỉnh. Tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu huỷ 7.488 con (1.024 gà, chiếm 13,71
% và 6.464 vịt chiếm 86,28%).
Từ sau đợt dịch thứ 5, ở Việt Nam trở thành dịch lưu hành, các ổ dịch nhỏ, lẻ
xuất hiện rải rác quanh năm.
* Năm 2008: Dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị
xã của 27 tỉnh, thành phố. Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106.508 con
(gồm 40.525 con gà, 61.027 con vịt và 4.506 con ngan). Chỉ xuất hiện các điểm dịch ở
những đàn gia cầm quy mô từ 100 - 2000 con, không được tiêm phòng vaccine
(44,59%), hoặc đàn thuỷ cầm mới tiêm phòng một mũi (16,21%), ổ dịch trên thủy cầm
chiếm 52,70%. Các ổ dịch xuất hiện thường được địa phương bao vây, xử lý ngay nên
hầu như không có hiện tượng lây lan.
* Năm 2009: Cả nước đã có 129 ổ dịch tại 71 xã, phường, thị trấn của 35
huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành phố phát dịch cúm gia cầm là: Bạc Liêu, Bắc
Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An, Ninh
Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Thanh Hóa,
TP. Hà Nội, Vĩnh Long và Cao Bằng. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ
là 105.601 con, trong đó gà 23.733 con (chiếm 22,51 %), vịt 79.138 con (chiếm
74,94 %) và ngan 2.690 con (chiếm 2,55 %) (Tống Xuân Độ, 2009).
1.1.5. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh cúm gia cầm
1.1.5.1. Triệu chứng
Virus cúm gia cầm độc lực cao thường gây bệnh rất trầm trọng cho gia cầm và
thông thường tỷ lệ tử vong cao đặc biệt là với gia cầm cạn. Các loài thủy cẩm, dã
cầm và một số loài lông vũ khác có thể có độ mẫn cảm thấp hơn, nhưng có thể trở
thành động vật mang trùng (Lê Văn Năm, 2004).
Bảng 1.2. Một số đặc điểm triệu chứng của gia cầm mắc cúm A/H5N1
Trên gà Trên thủy cầm (vịt, ngan)
- Chết đột ngột
- Bỏ ăn, ủ rũ, lông xơ xác
- Giảm năng suất đẻ trứng
- Phù thũng đầu và cổ
- Mào và tích sưng to hoặc có màu tím tái
- Xuất huyết lấm chấm trên mặt các màng
tương
- Khát nước nghiêm trọng
- Tiêu chảy ra nước loãng màu xanh ban
đầu, sau đó chuyển sang trong hoặc màu
trắng
- Màng kết mạc sưng hoặc tụ máu đôi khi
có xuất huyết
- Xuất huyết da chân
- Triệu chứng hô hấp tùy thuộc và mức độ
thương tổn trong khí quản
- Ho, hắt hơi, chảy nước mũi, nước miệng
- Triệu chứng thần kinh, loạng choạng
- Ngừng đẻ, trứng dị hình trước khi ngừng
đẻ
- Tỷ lệ chết có thể tới 100%
huyết. Nói chung, các bệnh tích rất giống với bệnh tích của bệnh Newcastle. Các
biến đổi bệnh lý đại thể của bệnh cúm gia cầm trên ngan và và vịt cơ bản cũng
giống trên gà. Tuy nhiên tần suất biến đổi tập trung chủ yếu ở phổi, túi khí, tim,
buồng trứng, xương lồng ngực và đường ruột (Lê Văn Năm, 2004 b).
* Bệnh tích vi thể
Bệnh tích vi thể chủ yếu là xung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm bạch cầu đơn
nhân ở não và một số cơ quan khác. Mạch quản của các cơ quan như mào, tích, gan,
lách, phổi, thận, cơ tim, cơ vân, não và một số cơ quan khác bị giãn rộng và thâm
nhiễm tế bào xung quanh mạch quản (Lê Văn Năm, 2004 b).
1.2. Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm
1.2.1. Phân bố dịch bệnh
Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm và
động vật có vú.
Sự phân bố và lưu hành của virus cúm gia cầm rất khó xác định chính xác.
Sự phân bố bị ảnh hưởng của cả loài vật nuôi và hoang dã, tập quán chăn nuôi
gia cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch bệnh. Sự lưu
hành cũng bị ảnh hưởng của những nguyên nhân tương tự và sự khác nhau của các
quốc gia về hệ thống, phương pháp nghiên cứu (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ,
2004).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Sự phân bố và lưu hành virus cúm gia cầm đã xảy ra trong phạm vi toàn cầu do sự
di trú của các dã cầm, do đó rất khó dự đoán khi nào virus xuất hiện, gây thành dịch cho
đàn gia cầm nuôi. Việc ngăn chặn sự tiếp xúc giữa các loài dã cầm với loài gia cầm nuôi
có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi gia cầm (Bùi Quang Anh và Văn
Đăng Kỳ, 2004).
1.2.2. Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu, chim hoang dã,
đặc biệt là thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus cúm type A.
khác. Trong các loài thuỷ cầm di trú thì vịt trời có tỷ lệ nhiễm cao hơn các nhóm
khác, đã có những nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu
trong mùa di trú để tránh mưa mà sau khi xuất hiện đã phát dịch ở gà tây.
Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày. Dường như
virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền
cho các con non theo đường tiêu hóa, do virus bài thải theo phân gây nhiễm bẩn
nặng ao hồ (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004).
1.2.4. Mùa vụ mắc bệnh
Ở Châu Á, các ổ dịch cúm gà xảy ra khi thời tiết chuyển từ ấm áp sang lạnh
ẩm. Theo một số nhà khoa học, các loài chim di cư (vịt trời, ngỗng trời, quạ)
mang mầm bệnh từ phương Bắc trong mùa đông giá lạnh truyền cho các loài gia
cầm ở các nước Đông và Nam Á khi chúng đến trú đông.
Tại Việt Nam, bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung
vào vụ đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 02 năm sau, khi có những biến
đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết biến đổi đột
ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật. Mặt khác thời điểm này có mật
độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động buôn bán vận chuyển, giết mổ gia
cầm diễn ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh
và lây lan (Bộ NN và PTNT, 2005).
1.2.5. Sự truyền lây
Virus được bài thải ra môi trường từ mũi, miệng, kết mạc mắt, lỗ huyệt. Trong cơ
thể gia cầm bị bệnh virus nhân lên trong cơ quan hô hấp, ruột, thận, đường sinh dục.
Virus lây lan do tiếp xúc trực tiếp giữa gia cầm mẫn cảm với gia cầm bị bệnh
hay tiếp xúc gián tiếp thông qua các hạt khí dung được bài xuất từ đường hô hấp hoặc
qua phân, thức ăn và nước uống bị nhiễm hay do con người (quần áo, giầy dép,…),
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
trang thiết bị (dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển,…) nhiễm virus (Trần Hữu
Cổn và Bùi Quang Anh, 2004).
Hình 1.4. Hình thái và cấu trúc virus cúm gia cầm
Chú thích: A: Mô hình cấu tạo virus cúm A. Hemagglutinin: phân tử kháng nguyên HA,
Neuraminidase: phân tử kháng nguyên NA, Capsid: vỏ virus, Lipid envelope: lớp màng
bao lipid, RNA: Hệ gene virus.
B: Ảnh chụp các tiểu phần virus cúm A dưới kính hiển vi điện tử huỳnh quang.
Hình thái vi cấu trúc của căn nguyên bệnh được mô tả chi tiết rằng ARN của
virus là một sợi đơn, âm chia 8 đoạn kế tiếp nhau mang 10 ORF (open reading
frames) cho 10 loại virion protein khác nhau: HA, NA, NP, M1, M2, PB1, PB2, PA,
NS1 và NS2. Tất cả 8 đoạn của sợi ARN có thể tách và phân biệt rõ ràng thông qua
phương pháp điện di, các protein có vỏ bọc nhân nối 8 đoạn này với nhau, được bọc
bên ngoài bằng các protein và có màng lipid ở ngoài cùng (Alexander, 1993).
Protein hemagglutinin hay HA là một glycoprotein dưới dạng trimer. Mỗi
monomer gồm có 2 phần HA1 và HA2. Hai phần của protein này được nối với nhau
bằng một chuỗi các acid amin trong đó có arginin. Tại vị trí này các enzym cắt
protein có sẵn trong cơ thể (trên các màng niêm mạc) của ký chủ sẽ cắt HA ra làm
đôi, tạo điều kiện cho virus bám vào thụ thể của tế bào ký chủ.
Protein NA chính là một loại enzym có tên là neuraminidase. Khi virus xâm
nhập vào cơ thể, các mạch đường của protein HA và thụ thể của tế bào sẽ liên kết
với nhau, gắn virus vào bề mặt tế bào. Sau đó nhờ neuraminidase cắt mối liên kết
(A) (B)