TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN NGỌC TRANG
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA
GÀ TÀU VÀNG ĐỐI VỚI VACCINE BAL – IBD CỦA
SINGAPORE PHÒNG BỆNH GUMBORO
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH THÚ Y
Cần Thơ, 12/2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA
GÀ TÀU VÀNG ĐỐI VỚI VACCINE BAL – IBD CỦA
SINGAPORE PHÒNG BỆNH GUMBORO
Giáo viên hướng dẫn:
Huỳnh Ngọc Trang
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Ngọc Trang
MSSV: LT11672
LỜI CẢM ƠN
Xin kính dâng lòng biết ơn sâu sắc đến Ba Mẹ, người đã sinh ra và nuôi dưỡng
tôi.
Xin chân thành cảm ơn:
Cô Huỳnh Ngọc Trang đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này.
Thầy Trần Ngọc Bích cố vấn học tập đã dìu dắt chúng tôi trong suốt quá trình học
tập.
Quý Thầy, Cô Bộ môn Chăn nuôi và Bộ môn Thú y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh
Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ đã cung cấp những kiến thức quý báu
trong suốt quá trình học tập.
Tập thể các bạn lớp Thú y liên thông khoá 37 đã động viên và giúp đỡ tôi trong 2
năm học vừa qua.
Xin chúc quý Thầy Cô, người thân và bạn bè tôi lời chúc sức khoẻ và thành công.
Cuối cùng, tôi xin cám ơn đến Hội Đồng Ban Giám Khảo đã dành thời gian đọc,
xem xét và đóng góp những ý kiến quý báo cho đề tài tốt nghiệp của tôi.
Nguyễn Ngọc Trang
ii
MỤC LỤC
Trang duyệt ......................................................................................................... i
Lời cảm ơn ......................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
Danh mục chữ viết tắt ........................................................................................ v
Danh sách hình.................................................................................................. vi
iii
3.1. Nội dung ................................................................................................... 17
3.2. Phương tiện thí nghiệm ............................................................................. 17
3.2.1. Thời gian và địa điểm ........................................................................ 17
3.2.2. Đối tượng thí nghiệm ........................................................................ 17
3.2.3. Vật liệu thí nghiệm ............................................................................ 17
3.3. Phương pháp tiến hành ............................................................................. 18
3.3.1. Phương pháp nuôi gà thí nghiệm....................................................... 18
3.3.2. Bố trí thí nghiệm................................................................................ 19
3.3.3. Phương pháp lấy mẫu ........................................................................ 20
3.3.4. Phương pháp xét nghiệm ................................................................... 20
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi ................................................................................. 23
3.5. Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................ 23
Chƣơng 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN ............................................................ 24
4.1. Tình trạng sức khỏe của đàn gà sau khi tiêm vaccine .............................. 24
4.2. Kết quả kiểm tra kháng thể thụ động mẹ truyền trên gà Tàu thí nghiệm . 24
4.3. Khả năng bảo hộ của vaccine Gumboro đối với giống gà Tàu vàng ........ 25
4.4. Tăng trưởng của gà Tàu vàng qua các giai đoạn ...................................... 27
4.4.1. Kết quả tăng trọng, tiêu tốn thức ăn của gà Tàu giai đoạn 0 – 4
tuần tuổi ...................................................................................................... 27
4.4.2. Kết quả tăng trọng, tiêu tốn thức ăn của gà Tàu giai đoạn 4 – 12
tuần tuổi ...................................................................................................... 28
Chƣơng 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 29
5.1. Kết luận ..................................................................................................... 29
5.2. Đề nghị ...................................................................................................... 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 30
iv
Optical Density
TMB
Teramethyl benzidine
v
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tựa hình
Trang
2.1
Mô hình cấu trúc virus Gumboro
5
2.2
Gà bệnh suy nhược và lờ đờ
10
2.3
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng
Trang
3.1
Quy trình phòng bệnh chung
19
3.2
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
20
4.1
Kết quả kiểm tra kháng thể thụ động mẹ truyền trên gà thí
nghiệm
24
4.2
tuần tuổi
28
vii
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của gà Tàu vàng đối với vaccine
Bal-IBD phòng bệnh Gumboro của Singapore” được thực hiện tại trại gà thực
nghiệm Ba Hoàng, phường Thới An Đông, quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ
từ tháng 7/2013 đến tháng 11/2013. Nhằm khảo sát độ dài miễn dịch của kháng
thể thụ động và khả năng đáp ứng miễn dịch của gà Tàu vàng đối với vaccine
Gumboro Bal-IBD của Singapore qua xét nghiệm ELISA. Qua thời gian nghiên
cứu chúng tôi ghi nhận kết quả: Kháng thể thụ động mẹ truyền bảo hộ 100% gà
con đến 10 ngày tuổi. Kiểm tra khả năng đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm phòng
vaccine lần 2 được 14 ngày (gà 35 ngày tuổi), 100% gà đều có đáp ứng miễn dịch
với hiệu giá kháng thể 804±194 đủ bảo hộ gà chống bệnh Gumboro. Ở 49 ngày
tuổi, tỷ lệ gà có miễn dịch với virus Gumboro vẫn là 100% và hiệu giá kháng thể
trung bình là 5527±561. Hiệu giá vẫn đạt ở mức cao (7997±392) ở thời điểm 80
ngày tuổi và 100% gà được bảo hộ. Qua theo dõi khả năng tăng trưởng của gà
được kết quả như sau: Trọng lượng của gà Tàu ở 4 tuần tuổi đạt 258-259,40
gram/con, tăng trọng bình quân 7,88-7,91 gram/con/ngày, hệ số chuyển hoá thức
ăn từ 2,22-2,27 gram thức ăn/gram tăng trọng. Ở 12 tuần tuổi đạt 1295,501356,50 gram/con, tăng trọng bình quân 18,53-19,59 gram/con/ngày, hệ số
chuyển hoá thức ăn từ 3,14-3,22 kg thức ăn/kg tăng trọng. Chưa thấy có sự ảnh
hưởng của việc lấy máu định kỳ kiểm tra kháng thể lên tăng trọng của gà.
viii
1
Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Khái quát về bệnh Gumboro và tình hình nghiên cứu
2.1.1 Khái quát về bệnh Gumboro
Bệnh Gumboro là bệnh truyền nhiễm của gà do virus gây ra. Bệnh chỉ biểu
hiện triệu chứng lâm sàng khi gà mắc bệnh ở giai đoạn trên 1-2 tuần tuổi, nhưng
rõ nhất ở giai đoạn 4-8 tuần tuổi. Trong giai đoạn này tỷ lệ gà bệnh có thể lên đến
100% và tỷ lệ chết có thể từ 20-50%. Bệnh gây suy giảm miễn dịch trầm trọng
cho nên việc tiêm phòng vaccine khác trên những đàn gà bệnh Gumboro thường
cho hiệu quả không cao. Gà bệnh có biểu hiện ủ rũ, xù lông, tiêu chảy phân trắng
hoặc vàng. Bệnh tích quan trọng là túi Fabricius sưng to, xuất huyết. Bệnh diễn ra
hầu hết ở các nước trên thế giới có chăn nuôi gà công nghiệp (Nguyễn Xuân Bình
và ctv, 2005).
2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh Gumboro trên thế giới
Bệnh Gumboro được mô tả lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1957 tại vùng
Gumboro, thuộc bang Delaware của Mỹ. Đến năm 1962, Cosgrove đã mô tả bệnh
Gumboro và đã phân lập được virus này trên phôi trứng từ 9 đến 10 ngày tuổi.
Cũng vào năm 1962, Winterfield và Hitchner tiến hành một thí nghiệm sàng lọc
khẳng định đây là tác nhân gây bệnh mới – bệnh viêm túi Fabricius truyền nhiễm.
Theo Hichner (1970), gọi bệnh do Cosgrove phát hiện được gọi chính thức
là bệnh viêm túi Fabricius truyền nhiễm (Infectious Bursal Disease - IBD) hay
còn gọi là bệnh Gumboro. Virus gây bệnh được gọi là virus gây viêm túi
Fabricius truyền nhiễm (Infectious Bursal Disease Virus).
Tại châu Á, năm 1966 bệnh Gumboro được phát hiện ở Israel, năm 1973 tại
Thái Lan, bệnh xuất hiện trên đàn gà nuôi công nghiệp. Năm 1974, Hirai phát
hiện bệnh Gumboro nhờ kiểm tra kháng thể kháng Gumboro có trong huyết thanh
những đàn gà không được sử dụng vaccine. Trong thời gian này tại Đài Loan,
Tại Việt Nam, năm 1981 tại trại gà Cục hậu cần quân khu 5 – Đà Nẵng có
một đợt bệnh xảy ra làm chết 6460 con trên tổng số 23.310 con chiếm 27%, khi
đó chưa chẩn đoán ra bệnh (Nguyễn Đăng Khải, 1988). Năm 1982, Viện Thú Y
Quốc gia chính thức công bố bệnh Gumboro ở Việt Nam (Trần Minh Châu và
ctv, 1982).
Từ năm 1986, bệnh Gumboro xảy ra ồ ạt tại các trại gà công nghiệp. Đầu
tiên, người ta nghi đó là Newcastle nhưng qua dấu hiệu lâm sàng, bệnh tích đại
thể và những chẩn đoán phân biệt khác, người ta đã xác định là bệnh Gumboro
(Lê Văn Hùng, 1996). Những năm 1987 - 1989, bằng kỹ thuật chẩn đoán kết tủa
khuếch tán trên thạch (Agar Gel Precipitation - AGP), người ta cũng đã phát hiện
được nhiều gà giò, gà đẻ của một trại gà ở Hà Nội có kháng thể đặc hiệu kháng
virus Gumboro. Tỷ lệ AGP dương tính với kháng thể kháng virus Gumboro đạt
30 - 40% tổng số mẫu kiểm tra (Lê Thanh Hoà, 1992).
3
Ở Việt Nam giai đoạn từ 1986 – 1990 là thời kỳ chưa có vaccine phòng
bệnh Gumboro, thiếu kinh nghiệm phòng bệnh nên đã gây thiệt hại kinh tế
nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gà công nghiệp, tỷ lệ gà bị bệnh từ 80–90%, tỷ
lệ chết 30–40 % (Nguyễn Tiến Dũng, 1996). Theo số liệu của Cục Thú y từ năm
1986, nhiều tỉnh trong cả nước đều báo cáo có bệnh Gumboro như ở Hà Nội, Hà
Tây, Sơn La, Hòa Bình, Nam Định và Vĩnh Phúc. Các tỉnh phía Nam thường xảy
ra dịch trên đàn gà có quy mô từ 100 – 6.000 con ở cả chăn nuôi gia đình và quốc
doanh như ở Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bình Thuận, Phan Thiết
(Nguyễn Bá Thành, 2006).
Từ năm 1989 – 1995 tình hình bệnh Gumboro không ngừng gia tăng, các
giống gà công nghiệp nuôi ở Việt Nam đều có thể mắc bệnh. Nếu như năm 1989
tỷ lệ đàn gà nhiễm bệnh 19,23% thì đến năm 1995 tăng lên 90,31% trong tổng số
đàn được kiểm tra (Lê Hồng Mận và Phương Song Liên, 1999).
Bệnh Gumboro vẫn đang là một trong những bệnh có tỷ lệ nhiễm cao nhất
dạng thứ hai chỉ có đường kính 18-22nm tương tự như các Parvovirus. Trong
nguyên sinh chất tế bào bị nhiễm, có thể quan sát dưới kính hiển vi điện tử thấy
tập hợp virus Gumboro giống như tổ ong xếp đều đặn cạnh nhau. Mỗi một
nguyên sinh chất có thể chứa vài tập hợp virus nói trên (Phạm Sỹ Lăng và
Nguyễn Thiện, 2004).
Virus Gumboro là virus chứa ARN 2 sợi cuộn tròn, phân làm 2 đoạn riêng
biệt, vì vậy có tên là Birnavirus (Bi: hai; ARN: acid ribonucleic) nghĩa là virus có
2 đoạn ARN (Nguyễn Như Thanh, 1997).
Cấu tạo virus bao gồm acid ribonucleic bên trong, bao quanh nó là lớp
capsid cấu tạo bằng protein. Ngoài phần capsid virus không có vỏ bọc bằng lipid.
Do vậy, IBDV (Infectious bursal disease virus) có sức đề kháng cao khi tồn tại
ngoài thiên nhiên. Do không có vỏ bọc ngoài nên IBDV không mẫn cảm với ether
và chloroform, nhưng chúng rất mẫn cảm với formalin (Lê Văn Hùng, 1996).
Hình 2.1 Mô hình cấu trúc virus Gumboro
( />
5
2.2.2 Sức đề kháng của virus đối với tác nhân lý hóa
Virus Gumboro có sức đề kháng cao đối với hầu hết các chất sát trùng ngay
cả ether, chloroform, và các tác nhân môi trường. Virus có thể sống hàng tháng
trong chuồng trại, hàng tuần trong nước uống, thức ăn, phân. Virus có thể sống ở
560C trong 5 giờ, virus dễ bị tiêu diệt bởi phenol 0,5%, có nhiều bằng chứng cho
thấy virus không gây bệnh khi tiếp xúc với formol 0,5% trong 6 giờ, virus cũng bị
vô hoạt với 3 chất sát trùng với các nồng độ khác nhau (iod, dẫn xuất phenolic và
hợp chất ammonium) trong 2 phút ở 230C.
Trong điều kiện tự nhiên, những nơi xảy ra dịch bệnh Gumboro thì virus
tồn tại rất lâu: trong chuồng nuôi từ 54 - 122 ngày, trong nước, chất độn chuồng,
dụng cụ chăn nuôi và chất thải virus vẫn giữ đặc tính gây nhiễm và gây bệnh ít
sàng bệnh còn xảy ra ở gà 8 ngày tuổi và 96 ngày tuổi. Nói cách khác dao động
độ tuổi gà bị bệnh thường có biên độ lớn. Gà nhỏ hơn 3 tuần tuổi thường mắc
bệnh ở thể ẩn. Gà Ri Việt Nam có sức đề kháng khá tốt đối với bệnh Gumboro
trong cùng một điều kiện chăn nuôi. Gà Rôtri chuyên dụng lai tạo từ nền gà Ri
Việt Nam và gà Ross của Hungari có sức đề kháng tốt nhất đối với bệnh
Gumboro so với các giống gà khác như: Leghorn, Plymouth – Rock, Tam hoàng.
Tuy nhiên, tác giả chưa phát hiện ra sự khác nhau về độ mẫn cảm đối với bệnh
Gumboro giữa gà siêu thịt và siêu trứng (Lê Văn Năm, 2004).
Sau thời gian nghiên cứu từ năm 1982 đến năm 1997, Lê Văn Năm nhận
định không có sự khác biệt giữa gà trống và gà mái về độ mẫn cảm đối với mầm
bệnh, tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết ở bệnh Gumboro (Lê Văn Năm, 2004).
2.3 Cơ chế sinh bệnh
Theo Lê Văn Năm (2004), sau khi virus gây bệnh Gumboro (IBDV) xâm
nhập vào một cá thể nào đó thì chỉ cần 1-2 ngày sau cả đàn đã mắc bệnh. Virus
xâm nhập qua đường tiêu hoá của gà, theo đường máu đến túi Fabricius, chúng
khu trú tại đây và bắt đầu nhân lên về số lượng. Chúng tấn công các nang bào túi
Fabricius, phá huỷ các chức năng tạo tế bào lympho B. Kết quả là hệ thống tạo
miễn dịch bị tổn thương, không đủ khả năng chống lại các yếu tố gây bệnh, cũng
như việc đáp ứng miễn dịch bằng vaccine khi tiêm phòng.
Do sự tấn công của virus làm cho túi Fabricius sưng to lên trong 3 ngày
đầu, sau đó bắt đầu teo lại và thấy rõ sự khác nhau đó vào khoảng 7-10 ngày sau
khi nổ ra bệnh. Đồng thời xuất hiện phức hợp các miễn dịch bệnh lý, trong đó có
sự kết hợp giữa kháng nguyên Gumboro với bổ thể, cùng một số ít kháng thể
được tạo thành. Gumboro gây nên sự thẩm xuất dịch ra khỏi hệ tuần hoàn, đồng
thời gây nên sự sung huyết, xuất huyết. Chúng ta thường gặp biểu hiện bệnh tích
này ở các vùng ngực, vùng đùi, có thể xuất huyết thành tia, vệt và có màu sậm.
7
8
2.5 Triệu chứng và bệnh tích
2.5.1 Triệu chứng
Thể ẩn tính
Thông thường thể không lâm sàng do những chủng hoặc biến chủng virus
có độc lực thấp hoặc trung bình gây nên.
Triệu chứng bệnh thể hiện không rõ: gà khật khừ, mệt mỏi đột ngột, giảm
ăn, ủ rũ, sốt cao, uống nhiều nước, tiêu chảy phân trắng, nếu không quan sát kỹ ta
cảm giác như gà bị gió lùa hoặc bị lạnh. Nhưng sau 2-3 ngày đàn gà trở lại bình
thường với tỷ lệ chết không đáng kể 0-5% (Lê Văn Năm, 2004).
Thể cấp tính
Gà bị bệnh thường ở lứa tuổi 3-6 tuần, có trường hợp sau 6 tuần. Thời gian
nung bệnh rất ngắn, trong 24 giờ sau khi nhiễm mầm bệnh đã có biến đổi vi thể ở
túi Fabricius (Helnooldt et al., 1964) và chỉ sau 2-3 ngày đã xuất hiện triệu chứng
lâm sàng. Ngay sau khi virus vừa mới xâm nhập túi Fabricius gà đã có biểu hiện:
cơ vùng hậu môn co bóp nhanh, mạnh không bình thường, gà có phản xạ như
muốn đi ngoài nhưng không thực hiện được. Đây là triệu chứng đặc trưng đầu
tiên giúp chúng ta phát hiện sớm bệnh Gumboro.
Bệnh xảy ra thình lình, gà bệnh suy nhược, ủ rủ, xù lông, đi loạng choạng.
Gà tiêu chảy, phân có màu trắng xám hoặc xanh lá cây có nhiều nước, gà rặn suốt
trong quá trình đi tiêu, hậu môn đưa ra ngoài, những gà khác xúm lại mổ, có thể
tự mổ chính nó, hậu môn bết đầy phân, gà bỏ ăn run rẩy, suy nhược trầm trọng và
có thể chết. Tỷ lệ nhiễm có thể lên đến 100%. Gà chết bắt đầu từ ngày thứ 3 sau
khi nhiễm bệnh, sau đó tăng nhanh và giảm nhanh sau 5-7 ngày thì chấm dứt. Tỷ
lệ chết thường thấp, nhưng nếu điều kiện chăn nuôi kém, tỷ lệ chết có thể lên 2050% hoặc cao hơn (Hồ Thị Việt Thu, 2012).
9
Túi Fabricius bị xuất huyết
khi gà nhiễm Gumboro lúc 5
ngày tuổi
Túi Fabricius gà nhiễm
Gumboro lúc 8 ngày tuổi, kích
thước giảm 1/8 so với bình
thường
Hình 2.5 Biến đổi túi Fabricius trong bệnh Gumboro
( />
11
Bệnh tích vi thể
Các bệnh tích vi thể của bệnh Gumboro chủ yếu xảy ra ở các tổ chức
lympho của túi Fabricius, lách, tuyến ức. Túi Fabricius là nơi xảy ra những biến
đổi vi thể nhiều nhất và đặc trưng nhất. Ngay 24 giờ sau khi nhiễm, phần lớn tế
bào lympho trong túi đã bị thoái hóa. Ở giai đoạn 48 - 96 giờ sau khi nhiễm, các
tế bào biểu mô bề mặt niêm mạc túi Fabricius tăng sinh, các tế bào hình trụ tiết
mucin đổ vào lòng túi làm trong túi có nhiều bọt màu vàng. Từ 72 - 96 giờ sau
khi nhiễm hầu như 100% các nang lympho của túi Fabricius đều có bệnh tích như
trên (Lê Văn Hùng, 1996).
2.6 Chẩn đoán
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Bệnh Gumboro xảy ra ở thể cấp tính trên toàn đàn rất dễ nhận biết và việc
chẩn đoán có thể thực hiện được ngay. Bệnh bắt đầu nhanh, bệnh số cao, tử số
tăng tạo thành đường hình gai nhọn, hồi phục nhanh 5 - 7 ngày sau khi có các
biểu hiện triệu chứng bệnh. Việc chẩn đoán được thực hiện bằng việc mổ khám
hiệu cho cùng kháng nguyên kiểm tra.
Kháng thể đặc hiệu được cho vào, phản ứng phức hợp kháng nguyên –
kháng thể có thể xảy ra. Nếu kháng thể được gắn trực tiếp với enzyme, tính hiệu
quang học do enzyme làm biến đổi cơ chất sẽ giúp phát hiện kháng nguyên cần
kiểm tra.
Giữa các bước của ELISA, các protein và các kháng thể không đặc hiệu,
kháng thể không gắn với kháng nguyên sẽ được loại bỏ sau thao tác rửa. Sau
bước rửa cuối cùng, chỉ còn kháng thể liên kết kháng nguyên được giữ lại. Sau
khi được cho vào, cơ chất sẽ chịu tác động của enzyme liên kết với kháng thể
trong phức hợp kháng nguyên – kháng thể. Phản ứng tác dụng (biến đổi cơ chất)
sẽ xảy ra.
Trước đây các cơ chất tạo màu sắc được sử dụng trong ELISA nhưng ngày
nay các chất phát quang được dùng rộng rãi làm tăng tính đặc hiệu và độ chính
xác của ELISA
2.6.3 Chẩn đoán phân biệt
Trong chẩn đoán cần phân biệt bệnh Gumboro với một số bệnh khác như:
Bệnh cầu trùng: bệnh cầu trùng cấp tính có triệu chứng tương tự như bệnh
Gumboro với các biểu hiện: bệnh xảy ra đột ngột, tỷ lệ mắc bệnh cao, lông xù, ủ
rũ và tiêu chảy có vấy máu. Tuy nhiên, bệnh cầu trùng không dẫn đến xuất huyết
cơ và viêm sưng túi Fabricius.
Bệnh Newcastle: xảy ra ở gà mọi lứa tuổi, bệnh xảy ra nhanh, tỷ lệ chết cao, có
triệu chứng bệnh đường hô hấp và tiêu hóa. Nếu bệnh kéo dài còn có triệu chứng
thần kinh, có xuất huyết ở nhiều cơ quan, nhưng không có bệnh tích ở túi
Fabricius.
13
Bệnh viêm thận do virus (viral nephritis) có bệnh tích ở thận giống bệnh
Gumboro, nhưng không có bệnh tích ở túi Fabricius.
14
mỗi tuần 1 lần và sau 2-3 tháng mới được bắt gà mới về nuôi (Nguyễn Xuân Bình
et al., 2000).
2.7.2 Điều trị
Bệnh Gumboro do virus gây ra vì vậy không có thuốc điều trị đặc hiệu.
Nhưng nếu dựa vào cơ chế sinh bệnh và nguyên nhân gây chết khi gà bị bệnh
Gumboro như: sốt cao, cơ thể thiếu nước, loạn khuẩn đường ruột,… thì việc điều
trị bệnh Gumboro phải theo nguyên tắc: giải nhiệt và trợ lực kết hợp chống viêm
và chống bội nhiễm, đồng thời cung cấp đủ nước (Lê Văn Năm, 1996).
Khi Gumboro bị kế phát bệnh khác hoặc Gumboro là nguyên nhân kế phát
thì cả 2 trường hợp đều có nguy cơ tăng nhanh tỷ lệ chết, do vậy khi ghép với
Newcastle hay bệnh thiếu máu truyền nhiễm thì nguyên tắc điều trị tất cả các
bệnh ghép còn lại là phải tập trung cứu chữa Gumboro trước sau đó mới triển
khai đồng thời việc trị các bệnh khác.
2.8 Vaccine
2.8.1 Khái quát chung về vaccine
Vaccine là chế phẩm sinh học làm tăng cường miễn dịch chống lại một căn
bệnh cụ thể. Một vaccine điển hình có chứa một số lượng nhỏ nhân tố tương đồng
với mầm bệnh. Nhân tố này gọi là kháng nguyên. Kháng nguyên kích thích hệ
thống miễn dịch của cơ thể để nhận diện nó như một vật ngoại lai, cơ thể tiêu diệt
vật ngoại lai này và cơ thể cũng “nhớ” nó để mà hệ miễn dịch có thể nhận diện nó
dễ dàng hơn và tiêu diệt mầm bệnh khi gặp lần sau.
Vaccine được sản xuất từ mầm bệnh gây ra bệnh mà ta muốn phòng.
Vaccine có thể từ các vi sinh vật chết, hoặc được làm yếu đi hoặc các sản phẩm
tinh khiết từ các vi sinh vật. Có một số loại vaccine đang được sử dụng, hoặc chỉ
mới trong giai đoạn nghiên cứu. Các loại vaccine này đại diện cho những chiến
lược khác nhau, nhằm giảm nguy cơ nhiễm bệnh, trong khi tạo được đáp ứng
miễn dịch có lợi cho cơ thể. Đáp ứng miễn dịch là một phản ứng của cơ thể tạo