-
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống của nước ta và là nguồn thu nhập
quan trọng đối với các hộ gia đình ở nông thôn. Ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt
Nam theo những tài liệu để lại đã có từ 3200 – 3500 năm trước (Nguyễn Đăng Vang
2002). Đối với một nước có nền kinh tế hơn 90 % là sản xuất nông nghiệp như Việt
Nam thì chăn nuôi gia cầm không những là ngành không thể thiếu mà còn đóng một
vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu ngành nghề của đất nước.
Theo số liệu thống kê tại thời điểm 01/10/2009 của tổng cục thống kê, tổng
đàn gia cầm của Việt Nam có khoảng 280,18 triệu con [29]. Cùng với sự phát triển
của các ngành nghề khác trong cả nước thì chăn nuôi gia cầm cũng đang trên đà
phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh sự phát triển thì chăn nuôi
gia cầm hiện nay còn phải đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó có nguy cơ xảy ra
dịch cúm gia cầm A/H5N1. Dịch cúm gia cầm đã và đang gây thiệt hại rất to lớn về
kinh tế, lẫn con người. Dịch cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào
cuối tháng 12/2003, bắt đầu từ các tỉnh Hà Tây, Long An và Tiền Giang, sau đó lây
lan sang nhiều tỉnh thành khác trong cả nước. Trong vòng hai tháng dịch đã xuất
hiện tại 2.574 xã, phường thuộc 381 quận, huyện, thị xã của 57 tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 43,9 triệu con
chiếm 16,9% tổng đàn, trong đó gà có 30,4 triệu con và thuỷ cầm là 13,5 triệu con.
Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loài chim khác bị chết và tiêu huỷ.
Cúm gia cầm là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có tốc độ lây lan rất nhanh
với tỷ lệ chết cao trong đàn gia cầm bị nhiễm bệnh. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế
giới, gây thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế và có ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế,
chính trị, xã hội…
Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao HPAI (High Pathogenic Avian Influenza)
được tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào bảng A các bệnh truyền nhiễm cực kỳ
nguy hiểm. Từ cuối năm 2003 trở lại đây bệnh cúm gia cầm đã, đang và dự đoán
trong nhiều năm nữa vẫn là mối đe dọa nguy hiểm cho sự phát triển của ngành chăn
Bệnh cúm ở gia cầm (Avian Influenza) còn gọi là bệnh cúm gà hay cúm loài
chim. Là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm type A thuộc họ
orthomyxoviridae.
Virus cúm gia cầm gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, chim cút, đà
điểu, các loài chim cảnh và chim hoang dã. Và nguy hiểm hơn bệnh có thể lây sang
người và một số loài thú khác.
Trước đây bệnh này còn được gọi là bệnh dịch tả gà (fowl plague) nhưng từ
hội nghị quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville - Mỹ năm 1981 đã
thay thế tên này bằng tên bệnh cúm gia cầm độc lực cao (HPAI - Highty Pathogenic
Avian Inluenza) để chỉ các virus cúm type A có độc lực mạnh, gây lây lan nhanh, tỷ
lệ tử vong cao [2].
2.1.2. Lịch sử bệnh cúm gia cầm
Năm 412 trước công nguyên, Hippocrates đã mô tả về bệnh cúm. Năm 1680
một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch.
Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889, 1918, 1957,
1968.
Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI) được phát hiện lần đầu tiên ở Italia
vào năm 1878 và được đặt tên là bệnh dịch hạch gà, bệnh gây tỷ lệ tử vong rất cao ở
đàn gia cầm.
Đến năm 1901, virus bệnh nguyên được Centanny Samnozzi xác định là một
tác nhân virus qua lọc. Nhưng phải đến năm 1955 mới xác định được virus đó
chính là virus cúm type A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và các
loài khác.
Qua nhiều năm nghiên cứu các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng bệnh dịch
nghiêm trọng nhất xảy ra với gà là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5
và H7 như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là H5N2.
Cuối thập kỷ 60, phân type H1N1 đã phát hiện ở lợn và có liên quan đến
những ổ dịch ở gà tây với biểu hiện đặc trưng là những triệu chứng ở đường hô hấp
và giảm đẻ [2].
3
Tiểu Á, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Bắc- Trung Phi, đặc biệt Ai Cập và Nigeria
là các nước chịu thiệt hại nhiều nhất. Nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan, trong hơn
mười năm qua, trên thế giới đã có hàng trăm triệu gia cầm đã bị tiêu hủy, gây thiệt
hại nặng nề cho ngành chăn nuôi và kinh tế. Đặc biệt, số người nhiễm và tử vong do
virus cúm A/H5N1 mỗi năm một cao hơn, theo thống kê số người bị nhiễm cúm gia
4
-
cầm H5N1 báo cáo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), từ năm 2003 đến tháng
6/2008, đã có tới 385 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó, 243 trường hợp đã tử
vong chiếm tới 63,11%. Việt Nam và Indonesia là các 2 quốc gia có số người nhiễm
và tử vong cao nhất do virus cúm A/H5N1 trên thế giới. Trong số 16 nước có người
chết do cúm gia cầm, Indonesia và Việt Nam được WHO xác định là quốc gia
“điểm nóng” có thể cúm A/H5N1 có được các điều kiện thuận lợi để tiến hóa thích
nghi lây nhiễm và trở thành virus của người [24].
2.1.4. Tình hình dịch bệnh cúm A/H5N1 ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm A/H5N1 bùng phát tại Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 ở
các tỉnh phía Bắc, sau đó đã nhanh chóng lan tới hầu hết các tỉnh/thành trong cả
nước chỉ trong một thời gian ngắn. Đây là lần đầu tiên dịch cúm gia cầm A/H5N1
xảy ra tại Việt Nam, có tới hàng chục triệu gia cầm bị tiêu hủy, gây thiệt hại nặng
nền tới nền kinh tế quốc dân. Tính đến cuối năm 2009, dịch cúm gia cầm liên tục tái
bùng phát hàng năm tại nhiều địa phương trong cả nước, có thể phân chia thành các đợt
dịch lớn như sau:
Từ cuối tháng 12 năm 2003 đến hết tháng 01 năm 2004:
Cuối tháng 12 năm 2003 dịch cúm gia cầm xuất hiện tại các tỉnh Hà Tây, Tiền
Giang, Long An và sau đó lây nhanh sang các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Bến Tre,
Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang.
Giữa tháng 1 năm 2004 dịch xảy ra ở Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
miền Đông Nam Bộ như Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai. Tại miền Bắc dịch xuất
hiện ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Nam, Phú
Thọ tiếp đó là các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên [11].
quận thuộc 23 tỉnh, thành. Tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu hủy là 2.294.849
con, trong đó 21.525 gà, 264.549 vịt, 8.775 ngan. Dịch nặng nhất ở Nghệ An, Nam
Định và Điện Biên.
Dịch tái phát lại vào ngày 01/10/2007 tại 15 xã của 9 huyện thuộc 6 tỉnh. Tổng
số gia cầm mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 8.850 con, trong đó 1.024 gà, 7.826 vịt [11].
Từ đầu tháng 5 đến 21/06/2007:
Dịch xẩy ra trên 60 xã của 18 tỉnh trong cả nước bắt đầu từ Nghệ An sau đó
đến Nam Định, Bắc Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nam,
Quảng Nam, Hưng Yên, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng [11].
Từ cuối năm 2007 đến đầu 2008:
Dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 17 tỉnh, thành trong cả nước gồm Hà Nội,
Hà Nam, Hải Dương, Lào Cai, Long An, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng
Bình, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Trà Vinh,
Tuyên Quang, Vĩnh Long [11].
Tình hình dịch năm 2008:
6
-
Năm 2008 dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị
xã của 27 tỉnh, thành phố. Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106.580
con (gồm gà, ngan, vịt) [28].
Tình hình dịch năm 2009:
Năm 2009, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 68 xã, phường, thị trấn của 34
huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy
trên 127.000 con [25].
2.1.5. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam [5]
2.1.5.1. Sự lưu hành virus cúm gia cầm ở Việt Nam
Virus cúm gia cầm H5N1 gây bệnh cho gia cầm ở Việt Nam có nguồn gốc từ
Trung Quốc thuộc gennotyp Z.
Trong các năm tiếp theo của ổ dịch, virus vẫn tiếp tục xâm nhập từ Trung
Quốc vào Việt Nam, có thể thông qua đường nhập lậu gia cầm. Loại virus xâm nhập
cách khác khả năng nhiễm và phát bệnh ở lợn do H5N1 là không đáng kể. Hơn nữa
lợn được gây bệnh thực nghiệm không phát bệnh lâm sàng và không làm lây lan
virus sang lợn tiếp xúc.
Virus H5N1 có thể tồn tại lâu hơn trong môi trường so với các loại virus cúm
khác. Điều quan trọng là trong điều kiện môi trường bình thường (nước sông suối, ở
7
-
nhiệt độ 20 - 30
0
C) virus chỉ bị mất hoạt lực sau 90 giờ, trong môi trường có chất
hữu cơ virus có thể tồn tại lâu hơn. Đối với virus trong cơ thể gia cầm bệnh được
chôn dưới đất chúng chỉ giữ được tính gây nhiễm không quá 5 ngày.
Để làm nâng cao tính nhạy cảm của phương pháp chẩn đoán nên chẩn đoán
virus cúm bằng phương pháp RT-PCR, trong đó xác định virus type A trước (thông
qua xác định gen M) sau đó mới xét nghiệm các đặc tính subtype khác.
Đã phát hiện cầy hương tại rừng Cúc Phương bị chết do virus H
5
N
1
. Điều này
cho thấy cần phải có các biện pháp an toàn sinh học cho các vườn quốc gia và nhất
là các sở thú.
Đã chế tạo thành công kháng nguyên HA H5N1 dùng trong giám sát huyết
thanh cúm gia cầm. Mặt khác cũng đã chế tạo thành công kháng huyết thanh kháng
H5N1 dùng trong nghiên cứu và chẩn đoán bệnh.
Đã khảo sát chất sát trùng Alpha Terpineol từ tinh dầu tràm có khả năng sát
khuẩn và làm giảm sự nhân lên của virus H5N1 trên môi trường tế bào.
2.1.5.2. Kết quả nghiên cứu phát triển vaccine phòng bệnh cúm gia cầm tại Việt Nam
Đã nghiên cứu thành công:
- Quy trình sản xuất vaccine cúm A/H5N1.
Phân loại theo nhóm kháng nguyên: Do sự biến đổi di truyền liên tục nên
protein HA của virus cúm H5N1 dòng Châu Á có tính kháng nguyên thay đổi. Bằng
phản ứng HI xác định hiệu giá kháng thể của các loại virus cúm H5N1 dòng Châu Á
thì các virus cúm có hiệu giá kháng thể chênh lệch nhau không quá 1log được phân
vào cùng một nhóm kháng nguyên. Khi hiệu giá HI lệch 2log trở lên thì virus sẽ
thuộc nhóm kháng nguyên khác. Hiện nay đã có đến 9 nhóm kháng nguyên khác
nhau [6].
2.2.2. Tên gọi của virus cúm A/H5N1
Tên của virus cúm được đặt theo quy ước quốc tế bắt đầu bằng type virus, và
subtype (nghĩa là theo tên gọi của protein HA và NA). Như vậy chúng ta viết: virus
type A H5N1. Tên của từng chủng virus được viết bắt đầu từ tên type, tên loài động
vật mà từ đó virus được phân lập, tên địa phương nơi phân lập được (tên nước, tên
tỉnh, hoặc tên bang), sau đó ký hiệu riêng của phòng thí nghiệm nơi phân lập được,
năm phân lập và để trong ngoặc tên chung của virus. Ví dụ:
A/DK/VNM/450/06[H5N1]. Riêng với virus cúm phân lập từ người thì không cần
để tên động vật nữa, ví dụ A/Việt Nam/1303/03[H5N1] [6].
2.2.3. Cấu trúc của virus cúm A/H5N1
2.2.1.1. Cấu trúc chung [6].
Vius cúm gà có tên khoa học là Avian Influenza virus, thuộc họ
Orthomyxoviridae, là họ virus đa hình thái, có vỏ ngoài, genome là RNA đơn.
Hạt virus có dạng hình khối tròn hình trứng hoặc dạng khối kéo dài, đường
kính khoảng 80 - 120nm, nhiều khi virus có dạng hình sợi dài đến vài µm. Phân tử
lượng của hạt virus khoảng 4,6 - 6,4 Dalton.
9
-
Vỏ ngoài của virus là một màng lipid. Trên màng này có hai loại protein là
Hemagglutinin (HA) và Neuraminidase (NA). Bên trong virus có hai thành phần
gồm axit nhân loại RNA và protein. RNA của virus cúm là sợi đơn gồm 7 hoặc 8
đoạn riêng biệt, các sợi RNA này được bao bọc bởi các protein chủ yếu là NP
(Nucleoprotein) và protein M (Mactrix) tạo ra Nucleocapsid. Các protein của virus
3
Da.
Phân đoạn 4 mã hóa cho protein hemagglutinin (HA) với phân tử lượng là 63 x
10
3
Da (không được glycosyl hóa), 72 x 10
3
Da nếu được glycosyl hóa.
Phân đoạn 5 mã hóa cho protein nucleoprotein (NP) với phân tử lượng tính
toán là 56 x 10
3
Da.
10
-
Phân đoạn 6 là gen chịu trách nhiệm tổng hợp protein enzyme neuraminidase
(NA) với phân tử lượng tính toán là 50 x 10
3
Da.
Phân đoạn 7 mã hóa cho hai tiểu phần protein đệm (matrix protein M1 và
M2), trong đó phân tử lượng tính toán của M1 là 28 x 10
3
Da và của M2 là 11 x 10
3
Da.
Phân đoạn 8 có độ dài tương đối ổn định 890 (nucleotit) trong các biến chủng
cúm A, mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 (Nonstructural
protein, NS), trong đó phân tử lượng tính toán của NS1 là 27 x 10
3
Da và của NS2 là
14 x 10
do tổ hợp, ví dụ chúng ta đang mắc bệnh cúm do H3N2 gây ra nay nếu xuất hiện
H5N3 chẳng hạn thì con người chưa tiếp xúc với H5 bao giờ nên khi mắc bệnh bệnh
sẽ rất nặng và có khả năng sinh ra đại dịch ở người. Tuy nhiên không nhất thiết phải
có quá trình tổ hợp mới sinh ra đại dịch. Virus cúm dòng Châu Á đang lưu hành
hiện nay chẳng hạn có thể chỉ cần một vài đột biến điểm sao cho nó có thể lây lan dễ
dàng giữa người với người là có khả năng sinh ra đại dịch [6].
2.2.5. Các type, phân type và các chủng của virus cúm A/H5N1
Virus cúm gồm có 3 type và chúng được phân biệt khác nhau dựa vào những
điểm khác biệt về kháng nguyên ở nhân và lớp protein matrix. Một điểm khác biệt
quan trọng giữa các type virus cúm là khả năng nhiễm và gây nhiễm ở các loài vật
khác nhau. Ví dụ virus cúm type A đã được phát hiện và xác định là gây bệnh ở các
loài động vật có vú và các loài chim, bao gồm: người, lợn, ngựa, chồn, các loài động
vật có vú ở biển và một loạt các loài gia cầm và chim hoang dã. Trong đó virus cúm
type B và C phần lớn được xác định là gây bệnh ở người và rất hiếm khi có thể xác
định có mặt ở các loài động vật khác như hải âu và lợn [4].
Ngoài ra khi so sánh với các type virus cúm B, C, virus cúm type A được coi
là đã xác định rõ đặc tính cũng như khả năng gây bệnh ở người và động vật vì
chúng gây ra các đại dịch không thể lường trước với tỉ lệ chết cao.
Về lý thuyết có thể suy luận ra rằng có thể hình thành hàng nghìn chủng virus
cúm có chứa cả HA và NA khác nhau và mỗi chủng virus này đều có những đặc
điểm riêng và có khả năng gây bệnh khác nhau. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại
mới chỉ phát hiện được một lượng rất nhỏ các chủng virus cúm type A ở người trên
toàn thế giới bao gồm: H1N1, H1N2, H3N2, và gần đây là chủng H5N1. Mặc dù
vậy người có thể bị nhiễm bởi cả 3 type virus cúm A, B, C [4].
12
-
Mặt khác dựa vào khả năng gây bệnh ở động vật, cũng như đặc tính di truyền
phân tử đặc hiệu, người ta phân loại các chủng virus cúm gia cầm thuộc type A
thành 2 nhóm chính: đó là chủng virus độc lực cao (H5, H7, và gần đây là H9) có
thể gây nhiễm với tỷ lệ chết lên đến 100% số gia cầm và các chủng virus cúm gia
Hình 2: Cơ chế xâm nhiễm và nhân lên của virus cúm A trong tế bào chủ.
2.2.7. Đặc tính nuôi cấy virus cúm A/H5N1
Phần lớn các chủng virus có thể phát triển ổn định ở trứng gà có phôi hoặc ở
các loại tế bào mầm. Đây chính là đặc điểm quan trọng để nhân giống virus trong
phòng thí nghiệm để nghiên cứu, bảo tồn cũng như để sản xuất vaccine. Đối với các
chủng virus cúm cũng có những đặc tính như vậy. Tuy nhiên, virus cúm type A chỉ phát
triển ở trong môi trường tế bào không có huyết thanh chứa trypsin. Một số hệ thống tế
bào kể cả dòng tế bào MDCK cần được nuôi cấy ở trong môi trường không có huyết
thanh có chứa trypsin để tách các protein HA của virus giúp cho việc hình thành các
khuẩn lạc. Một số loại môi trường tế bào như tế bào gan HepG2 của người, tế bào thận
phôi lợn (ESK) và tế bào thận gà (CK) cũng đã được chứng minh là có nhiều hứa hẹn
và nhạy cảm hơn đối với virus cúm gia cầm [19].
2.2.8. Độc lực và sức kháng của virus
2.2.8.1. Độc lực của virus
Để đánh giá độc lực của virus cúm người ta sử dụng phương pháp gây bệnh
cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2ml nước trứng đã được gây
nhiễm virus với tỉ lệ pha loãng 1/10, sau đó đánh giá mức độ bệnh của gà để cho
điểm (chỉ số IVPI), điểm tối đa là 3 và đó là virus có độc lực cao nhất. Theo quy
định của ủy ban Châu Âu [30] thì những virus có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên là thuộc
nhóm virus có độc lực cao. Căn cứ vào chỉ số IVPI các nhà khoa học đã thống nhất
chia virus cúm làm 3 loại:
- Loại virus có độc lực cao: Nếu sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch cho gà mà làm
chết 75 - 100% gà thực nghiệm, virus gây cúm gà phải làm chết 20% số gà mẫn cảm
14
-
thực nghiệm và phát triển tốt trên môi trường tế bào xơ phôi gà và tế bào thận trong
điều kiện môi trường nuôi cấy không có trypsin.
- Loại virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch cúm gà với
triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự
nhiên và không quá 20 % số gà mẫn cảm thực nghiệm.
C virus chết ngay, ở 4
0
C
virus tồn tại được 35 ngày, trong thịt đông lạnh virus tồn tại được 23 ngày, nhiệt độ
bảo tồn của virus là -70
0
C đến - 80
0
C.
- Virus có thể sống trong chuồng gà tới 35 ngày, trong phân gia cầm bệnh
tới 3 tháng.
15
-
Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đề kháng của virus cúm
H5N1. Virus thường sống lâu hơn trong không khí ở độ ẩm tương đối thấp, trong
phân ở điều kiện nhiệt độ thấp và độ ẩm cao [4].
2.3. Dịch tễ học
2.3.1. Phân bố dịch bệnh [1]
Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm và
động vật có vú.
Sự phân bố và lưu hành của virus cúm gia cầm rất khó xác định chính xác.
Sự phân bố bị ảnh hưởng của cả loài vật nuôi và hoang dã, tập quán chăn nuôi
gia cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch bệnh. Sự lưu
hành cũng bị ảnh hưởng của những nguyên nhân tương tự và sự khác nhau của các
quốc gia về hệ thống, phương pháp nghiên cứu.
Sự phân bố và lưu hành virus cúm gia cầm đã xảy ra trong phạm vi toàn cầu do sự
di trú của các dã cầm, do đó rất khó dự đoán khi nào virus xuất hiện, gây thành dịch cho
đàn gia cầm nuôi và việc ngăn chặn sự tiếp xúc giữa các loài dã cầm với loài gia cầm
nuôi có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi gia cầm.
2.3.2. Động vật cảm nhiễm
các loài gia cầm nuôi và chim sẻ.
Tần suất và số lượng virus phân lập được ở loài thủy cầm cao hơn các loài
khác. Trong các loài thuỷ cầm di trú thì vịt trời có tỷ lệ nhiễm cao hơn các nhóm
khác, đã có những nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu
trong mùa di trú để tránh mưa mà sau khi xuất hiện đã phát dịch ở gà tây.
Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày. Dường như
virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho
các con non theo đường tiêu hóa, do virus bài thải theo phân gây nhiễm bẩn nặng ao
hồ.
2.3.4. Sự truyền lây [2]
Khi gia cầm bị nhiễm, virus được nhân lên trong đường hô hấp và đường tiêu
hoá. Sự truyền lây bệnh được thực hiện theo hai phương thức là trực tiếp và gián tiếp:
Lây truyền trực tiếp do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông
qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước
uống có chứa mầm bệnh.
Lây gián tiếp qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc
những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua
chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển, côn trùng.
Đối với các virus gây bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm thì sự lây chủ
yếu qua phân, đường miệng.
Đối với gia cầm nuôi nguồn dịch thường là từ:
Các gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại hoặc trang trại khác liền
kề như vịt lây sang gà hoặc từ gà tây lây sang gà, gà nhật lây sang gà lôi.
17
-
Từ gia cầm nhập khẩu.
Từ chim di trú (đặc biệt là thủy cầm di trú).
Từ người và một số động vật có vú khác.
Hình 3. Mối quan hệ lây nhiễm và thích ứng các loài vật chủ của virus cúm A.
2.3.5. Mùa vụ mắc bệnh
Thời gian ủ bệnh từ 2 giờ đến 3 ngày kể từ khi nhiễm virus đến khi xuất
hiện những triệu chứng đầu tiên (tùy theo lượng virus, đường lây nhiễm và loài
cảm nhiễm).
Biểu hiện lâm sàng của bệnh cúm rất khác nhau do các yếu tố sau: chủng
virus, loài cảm nhiễm, tuổi, giới tính, liều gây nhiễm, môi trường (độ bụi, thừa
amoniac, ...), chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm
virus và sự cộng nhiễm cùng với virus cúm gia cầm của các vi khuẩn, virus khác
như E.coli, các Mycoplasma, Newcastle.
Triệu chứng bệnh ở gà [12]:
- Gà từ 3 tuần đến hai tháng tuổi bệnh biểu hiện chủ yếu là ho hen đột ngột và
nhanh chóng lan ra cả đàn. Gà bị sốt rất cao, nước mắt, nước miệng chảy dàn dụa,
nhiều gà phải há mồm thở dốc, rướn cổ để hít khí, có con vảy mỏ khạc đờm, đờm
nhầy đặc đôi khi lẫn máu. Gà bị tụt mào, mào tích thâm tím hoặc xuất huyết nhưng
ít phù nề. Thấy rõ xuất huyết ở dưới da chân, kẽ ngón chân ở những gà sắp chết. Gà
kém ăn nhưng uống nhiều nước, ỉa chảy phân loãng xanh trắng. Gà hay nằm, run
rẩy, đi không vững, đầu cổ co giật, lắc lư. Bệnh thường kéo dài 1 - 10 ngày và kết
thúc với tỷ lệ chết rất cao 70 - 100%.
- Ở gà từ 3 - 10 tháng tuổi, đặc biệt là gà sắp đẻ và đang đẻ bệnh diễn biến rất
nhanh, luôn ở thể cấp tính và quá cấp tính với các triệu chứng sau: trong đàn gà
khỏe bỗng dưng thấy một số con sốt cao, mào và tích bị thâm tím, phù nề và xuất
19
-
huyết. Sau đó khó thở, hay lắc đầu, rướn cổ để hít khí hoặc để khạc đờm, đờm dãi
thường đặc quánh và lẫn máu. Tình trạng đàn gà không bình thường, có con chạy
tán loạn, có con nhảy xốc lên dãy dụa, xoay vòng một lúc rồi chết. Một số con tự
nhiên dãy chết mà không có triệu chứng gì. Các biểu hiện lâm sàng ở mỗi cá thể gà
trong cùng một đàn cũng rất khác nhau. Gà bệnh thường thấy xuất huyết dưới da
chân. Bệnh tiến triển rất nhanh, chỉ 3- 4 giờ đến 1 - 2 ngày đã có rất nhiều gà chết.
Ở những đàn bệnh kéo dài 2 - 3 ngày thì thấy gà hầu như ngừng đẻ và bị rối loạn
tiêu hóa rất nặng.
- Bệnh tích bên trong:
+ Bệnh tích vùng hầu họng: Khí quản xung huyết, xuất huyết và có nhiều dịch
nhầy. Viêm xoang, viêm khí quản từ dạng tiết dịch có sợi huyết đến dạng dịch nhầy
có mủ hoặc bã đậu.
+ Bệnh tích trên khoang ngực và khoang bụng: Hầu hết các cơ quan nội tạng
đều xuất huyết, viêm phúc mạc từ mức độ viêm thanh dịch đến có sợi huyết. Vỡ
trứng non. Xuất huyết trên cơ tim và mỡ vành tim. Thành túi khí dày lên và đục, có
nhiều fibrin bám dính. Phổi viêm, xung huyết, xuất huyết. Gan có những điểm hoại
tử màu vàng hoặc xám. Tụy có những vùng xuất huyết thành vệt đỏ sậm và hoại tử
màu vàng. Manh tràng và ruột viêm từ mức độ thanh dịch đến sợi huyết. Niêm mạc
dạ dày tuyến xuất huyết điểm. Lách sưng to, xuất huyết và có thể có điểm hoại tử
vàng và xám. Van hồi manh tràng xuất huyết. Buồng trứng teo, xuất huyết. Dịch
hoàn xuất huyết. Thận có thể có xuất huyết, hoại tử vàng và xám.
Các biến đổi bệnh lý ở ngan và vịt:
Về cơ bản các biến đổi bệnh lý đại thể của bệnh cúm gia cầm trên ngan và vịt
cũng giống như ở gà. Tuy nhiên tần suất biến đổi tập trung chủ yếu ở phổi, tim,
buồng trứng và ruột [12].
2.5. Chẩn đoán
2.5.1. Dựa vào đặc điểm dịch tễ
Bệnh cúm gia cầm có tính lây lan rất nhanh và mạnh.
Loài vật mắc bệnh: Gà, ngan, vịt, cút, chim hoang, chim nuôi. Vịt là loài mang
mầm bệnh nhưng lại có ít biểu hiện triệu chứng lâm sàng, đây chính là nguồn gieo
rắc mầm bệnh ra môi trường.
Lứa tuổi mắc bệnh: Mọi lứa tuổi, mẫn cảm nhất là đang trong giai đoạn bắt
đầu sinh sản và trong giai đoạn sinh sản.
Tùy thuộc vào các yếu tố như môi trường, độc lực, số lượng virus, tuổi, giống,
giới tính, mật độ nuôi, khí hậu các ổ dịch có thời gian ủ bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày và
có thể tới 21 ngày tùy theo độc lực.
Các ổ dịch thường xảy ra nhanh ở những lần đầu với tỷ lệ chết cao 90 - 100%
với triệu chứng lâm sàng rõ rệt.
Chẩn đoán xét nghiệm cúm gia cầm được thực hiện bằng cách: phát hiện trực
tiếp các protein hay gen cấu trúc virus cúm trong bệnh phẩm hoặc chẩn đoán gián
tiếp bằng phát hiện kháng thể kháng virus cúm.
Phát hiện kháng nguyên: Mẫu bệnh phẩm để phát hiện kháng nguyên có thể
lấy bằng tăm bông ngoáy khí quản, lỗ huyệt, phân hoặc cơ quan phủ tạng. Đối với
phủ tạng có thể lấy khí quản, phổi, lách, lỗ huyệt và não [18].
22
-
Để phân lập virus ta dùng bệnh phẩm tiêm lên trứng gà có phôi 9 - 11 ngày
tuổi hoặc lây nhiễm trên môi trường tế bào MDCK (Madin - Darby Canine Kidney
Cells - môi trường tế bào dòng thận chó). Trên trứng gà có phôi ta dùng bệnh phẩm
tiêm vào xoang niệu mô với liều 0,2 ml/trứng. Virus cúm gia cầm độc lực cao chủng
H5N1 thường gây chết trứng trong thời gian 24 - 40 giờ. Sau khi trứng chết thu
hoạch nước xoang niệu mô và giám định. Nếu lây nhiễm trên môi trường tế bào
virus cúm gây nên các bệnh tích cho tế bào (CPE), thu lấy dịch tế bào và giám định.
Để giám định virus trước tiên phải thực hiện phản ứng HA. Do ngoài virus cúm,
virus Newcastle cũng gây ngưng kết hồng cầu, nên sau phản ứng HA cần tiếp tục
thực hiện phản ứng HI với kháng huyết thanh chuẩn để giám định chính xác subtype
H của virus. Hoặc bằng phương pháp RT - PCR (Reverse Transcriptase Polymerase
Chain Reaction) để xác định cả subtype H và subtype N.
Ngoài ra có thể dùng kỹ thuật sử dụng kháng thể huỳnh quang để phát hiện
nhanh virus cúm gia cầm trong mô. Kỹ thuật này sử dụng kháng thể đơn dòng phát
hiện kháng nguyên virus trong mô bằng thuốc nhuộm immunoxidase.
Phát hiện kháng thể: Phản ứng huyết thanh học dùng để phát hiện kháng thể
đặc hiệu với virus cúm gia cầm sau 7 ngày nhiễm bệnh. Có nhiều kỹ thuật dùng để
giám sát chẩn đoán huyết thanh học như: ELISA, HI, phản ứng miễn dịch huỳnh
quang, kỹ thuật khuếch tán trên thạch [18].
Kỹ thuật ELISA: (Enzym Linked Immunosorbent Assay): Phương pháp này có
độ nhạy cao, cho kết quả nhanh. ELISA có thể phát hiện với ribonucleotide của
virus cúm nghĩa là chỉ có thể phát hiện được type A mà không thể xác định được
phân nhóm H (từ H1 đến H16) trong 15 phút.
Bộ kít này có thể dùng tại trang trại và cả trong phòng thí nghiệm. Mẫu bệnh
phẩm là dịch ngoáy hầu họng hay lỗ huyệt. Bộ kit này có độ chính xác tương đối
cao.
Bộ kit ELISA của hãng IDEXX: Bộ kit này dùng để phát hiện kháng thể kháng
virus cúm gia cầm typ A trong huyết thanh nghi ngờ.
Tuy nhiên độ nhạy của các kit chẩn đoán nhanh rất thấp nên thường có kết quả
âm tính giả. Vì vậy những kết quả của các xét nghiệm chẩn đoán nhanh này phải
luôn được kết hợp với những dữ liệu về dịch tễ và lâm sàng tại thực địa và được xác
chẩn ở phòng thí nghiệm [8].
24
-
Sơ đồ chẩn đoán bệnh cúm gia cầm
2.5.4. Chẩn đoán phân biệt
Triệu chứng và bệnh tích của cúm gia cầm rất đa dạng. Trong chẩn đoán phân
biệt cần chú ý đến một số bệnh có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích gần giống như
[7]:
Bệnh Newcastle giai đoạn mãn tính cũng có triệu chứng thần kinh, thở khò khè
và bệnh tích cũng xuất huyết dạ dày tuyến và mề. Nhưng bệnh Newcastle tốc độ lây
lan chậm hơn và triệu chứng ban đầu ít có dấu hiệu về đường hô hấp mà chỉ biểu hiện
ở đường tiêu hoá như tiêu chảy phân trắng xanh. Một bệnh tích quan trọng để phân
biệt với bệnh Newcastle là bệnh cúm gà chân rất đỏ do bị xuất huyết.
Bệnh Gumboro: Bệnh này xảy ra chủ yếu trên gà choai, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ
chết thấp hơn.
25
Đặc điểm dịch tễ học Kiểm tra lâm sàng
Lấy mẫu bệnh phẩm
(Huyết thanh, Phủ tạng, …)
Phát hiện kháng thể Phát hiện kháng nguyên
Phân lập virus