1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CAIV : Cold-adapted Attenuated Influenza Vaccine
(Vacxin virus cúm sống, nhược độc, thích ứng lạnh)
HA : Hemagglutinin
HA test : Hemagglutinin Assay test
(Phản ứng ngưng kết hồng cầu)
HAU : Hemagglutinin Unit
(Đơn vị kháng nguyên Hemagglutinin)
HI test : Hemagglutinin Inhibition test
(Phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu)
HIU : Hemagglutinin Inhibition Unit
(Đơn vị hiệu giá kháng thể kháng hemagglutinin)
MDCK : Mardin-Darby Canine Kedney
(Tế bào thận chó Mardin-Darby)
MHC : Major Histocompatibility complex
(Phức hợp chính hòa hợp mô)
NA : Neuraminidase
SA : Sialic Acid
TIV : Trivalent-inactivated Influenza Vaccine
(Vacxin cúm ba thành phần bất hoạt)
WHO : World Helth Orrganization
(Tổ chức y tế thế giới)
A/H5N1 hấp phụ tá chất chitosan theo thời gian.
Bảng 3.7: Biến thiên đáp ứng miễn dịch của 3 nhóm vacxin cúm A/H5N1 theo
thời gian. 3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Cấu tạo của virut cúm A/H5N1.
Hình 1.2: Các đường lây nhiễm cúm A/H5N1 trên người.
Hình 1.3: Thành phần vacxin bất hoạt.
Hình 2.2: Kết quả phản ứng xác định hiệu giá kháng thể.
Hình 2.1: Chuột nhắt trắng Swiss làm thí nghiệm.
Hình 2.2: Quy trình tiêm miễn dịch và lấy máu.
Hình 3.1: Biến thiên hiệu giá đáp ứng miễn dịch của nhóm 1-Nhóm vacxin
không hấp phụ tá chất theo thời gian.
Hình 3.2: Biến thiên hiệu giá đáp ứng miễn dịch Nhóm 2-Nhóm vacxin hấp
khoảng 20-50 triệu người trên toàn thế giới. Dịch cúm năm 1957 và 1968, chỉ
riêng ở Mỹ giết chết 0.5-1 triệu người.
Đại dịch cúm xảy ra tác động không nhỏ đến nền kinh tế cũng như các hoạt
động xã hội, sức khỏe, tính mạng của người dân. Vì virut cúm có tỷ lệ đột biến
cao và kháng nguyên bề mặt luôn có xu hướng thay đổi, nên Tổ chức Y tế thế
giới (WHO) cảnh báo: Thời gian tới có thể virut cúm gia cầm H5N1 biến
thành chủng mới có độc lực cao, lây nhiễm từ người sang người và trở thành
hiểm họa của nhân loại. Việc nghiên cứu phát triển vacxin và thuốc kháng
virut là hai biện pháp hữu hiệu nhất để giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cho tất
cả các quốc gia.
Hiện nay, năng lực sản xuất vacxin phòng cúm trên thế giới chỉ đáp ứng
10% dân số khi đại dịch cúm xảy ra và chưa xác định được loại vacxin nào
hữu hiệu nhất để chống lại tất cả các virut cúm A và các biến thể. Mục tiêu
nghiên cứu hiện nay là sản xuất được vacxin cúm có hiệu giá cao, kinh tế và
đảm bảo an toàn khi sử dụng. Vì vậy, việc thử nghiệm xác định công thức
vacxin khác nhau, các cách hấp phụ tá chất vacxin khác nhau đang được tiến
hành tích cực.
Cùng với các nước châu Á khác, Việt Nam cũng là một trong những nước
bị đại dịch cúm gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế chăn nuôi gia cầm và ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người trong những năm gần đây.
Viện Vacxin đã phát triển thành công vacxin cúm A/H5N1 sản xuất trên trứng
gà có phôi, sử dụng tá chất Al(OH)
3
1mg/ml, hiệu quả bảo vệ chưa cao ở nồng
độ kháng nguyên 7 mg HA/liều. Để tìm một loại tá chất thích hợp hơn chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá tính gây miễn dịch của vacxin cúm A/H5N1 hấp phụ tá chất MF-
59 và chitosan trên súc vật thí nghiệm”
Nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu, so sánh hiệu quả đáp ứng miễn dịch của các nhóm vacxin cúm
6
I.1. TỔNG QUAN VỀ VIRUT CÚM
I.1.1. Đặc điểm chung [17, 23]
Năm 1933, loại virut được xem là tác nhân gây bệnh cúm đã được xác định
và phân lập bởi Sir Christopher Andrewers, Wilson Smith, Sir Patrick Laidlaw.
Virut cúm thuộc họ Orthomyxoviridea, được chia làm 3 type khác nhau:
type A, B và C. Chỉ có virut cúm type A mới được chia thành các phân type
bởi sự biến đổi thường xuyên của các kháng nguyên. Các phân type virut cúm
A khác nhau ở hai vị trí kháng nguyên bề mặt Hemagglutinin (HA) và
Neuramicnidase (NA). Hiện nay người ta phát hiện 16 type kháng nguyên HA
(H
1
-H
16
) và 9 type kháng nguyên NA (N
1
-N
có thể có dạng hình sợi với chiều dài lên đến 1000 nm hay dài hơn phụ thuộc
vào điều kiện tăng sinh và số lượng virut xâm nhập.
Lớp vỏ có lipoprotein có nguồn gốc từ tế bào bội nhiễm. Trên vỏ có những
điểm chồi lên có bản chất là các glycoprotein: Hemagglutinin (H) và
Neuraminidase (N). Mỗi gai dài từ 8-10 nm, cách nhau 8 nm, có khoảng 500
gai H và 100 gai N phủ trên bề mặt virion. Những kháng nguyên bề mặt này
liên quan đến khả năng gây nhiễm trên vật chủ và tạo ra chủng virut mới.
Kháng nguyên H liên quan tới quá trình bám dính của virut vào tế bào. Kháng
nguyên N hỗ trợ cho virut trong quá trình xâm nhập vào tế bào chủ.
Ngoài ra trên bề mặt lớp vỏ còn có các kênh ion chức năng vận chuyển H
+
.
Nằm ngay dưới vỏ lipoprotein là các matrix protein sắp xếp thành khuôn và
chứa bên trong là các ribonucleoprotein và một lượng nhỏ các protein phi cấu
trúc.
Virut cúm A/H
5
N
1
là type virut có kháng nguyên bề mặt là Hemagglutinin
type 5 và Neuraminidase type 1.
Vật liệu di truyền của virut cúm là RNA mạch đơn âm, sợi đối mã tồn tại ở
dạng các phân đoạn RNA độc lập, có kích thước khác nhau và mã hóa cho các
protein khác nhau. Mỗi phân đoạn RNA của virut được bao quanh bởi nhiều
đơn phân Nucleoprotein và gắn với một phức RNA- polymerase. Bộ gen gồm
8 đoạn RNA mạch đơn, xoắn âm, được phân loại theo chức năng của protein
được quy định bởi các đoạn gen.
gia tổng hợp RNA
4 1778 Hemagglutinin
HA Gắn kết virut vào thụ thể của
tế bào (làm đông máu)
5 1565 Nucleoprotein NP Bao quanh các gen của virut,
là thành phần của phức
phiên mã, vận chuyển RNA
giữa nhân và tế bào
6 1413 Neuraminidase
NA Phóng thích virut
M1 Protein nền, là thành phần
chính của virion
7 1027 Matrix protein
M2 Protein nội màng, kênh ion
NS1 Vận chuyển mRNA ra tế bào
chất, dịch mã, là protein
kháng interferon
8 890 Non structural
protein
NS2 Vận chuyển RNA ra khỏi
nhân
9
,
N
2
được xác định liên quan đến các vụ dịch ở người.
I.1.3.2. Đáp ứng miễn dịch chống virus cúm
Đáp ứng miễn dịch chống virut cúm chủ yếu là đáp ứng miễn dịch dịch
thể, khoảng 1-2 tuần sau lần tiêm thứ nhất, kháng thể HA và NA bắt đầu xuất
hiện trong dịch thể, cao nhất vào tuần thứ 3-4. Nếu bị tái nhiễm, đáp ứng miễn
dịch xảy ra nhanh hơn. Nếu kháng thể kháng HA quyết định kháng nguyên
bảo vệ chống lại sự xâm nhập virut, thì kháng thể kháng NA giúp ngăn chặn số
lượng virut thoát ra khỏi tế bào bị nhiễm, do đó hạn chế sự lây nhiễm. Kháng
10
thể virut cúm có thể tồn tại hàng tháng sau khi được chủng ngừa nhưng hàm
lượng kháng thể bắt đầu giảm dần.
Sự hiện diện của kháng thể kháng HA ở độ pha loãng 1/40 trở lên tương
ứng với khả năng đủ đáp ứng miễn dịch (đối với người lớn tuổi là 1/80).[2]
I.1.4. Khả năng thay đổi cấu trúc kháng nguyên của virus cúm A/H5N1-
nguy cơ bệnh dịch mới [2]
Virut cúm có khả năng đột biến cao và kháng nguyên bề mặt luôn có xu
hướng thay đổi. Chỉ cần những đột biến nhỏ cũng dẫn đến sự biến đổi kháng
nguyên tạo ra chủng cúm mới. Khi đột biến gene xảy ra, kháng nguyên bề mặt
được thay thế bằng một kháng nguyên hoàn toàn mới. Toàn bộ cộng đồng
chưa kịp có đáp ứng miễn dịch đối với phân type virut cúm mới đó.
Ví dụ:
Dịch cúm châu Á (1957-1958): ngày 5/1958 Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
ghi nhận phân type kháng nguyên mới H2N2 thay thế cho phân type H1N1 đã
lưu hành trên người gần 4 thập kỷ qua. Đến 1968-1969 dịch cúm Hồng Kông
xảy ra giữa tháng 7/1968 đã ghi nhận phân type mới H3N2 làm tử vong hàng
triệu người.[2]
Hình 1.2: Các đường lây nhiễm cúm A/H5N1 trên người
11
Sự biến đổi kháng nguyên virut cúm bao gồm hai dạng [11, 22, 24]
• Sự trôi kháng nguyên (antigenic drift)
Nó xảy ra ở tất cả các type virut cúm. Sự trôi kháng nguyên là sự biến đổi
từ từ kháng nguyên HA và NA trong cùng một phân type do sự tích lũy dần
các đột biến điểm dẫn đến sự biến đổi trình tự amino acid và làm thay đổi vị
trí kháng nguyên của phân tử.
Kết quả hình thành nhiều kiểu kháng nguyên H
và N khác nhau được ghi nhận bằng các ký hiệu H1, H2, H3 v.v. và N1, N2,
N3, v.v. Vì vậy để ký hiệu mỗi loại virut ta dùng một nhóm gồm hai ký hiệu
một từ H và một từ N như: H1N1, H1N2, H2N2, H5N1 Điều đáng lưu ý là
kết quả của biến đổi trôi dạt dẫn đến sự ra đời của chủng virut cúm mới mà
kháng thể đối với các chủng virut trước nó không nhận ra được.
• Sự trượt kháng nguyên (antigenic shift)
Sự trượt kháng nguyên là sự biến đổi hoàn toàn 1 hay cả 2 kháng nguyên
bề mặt xảy ra khi gene mã hóa cho phân type này đuợc thay thế bằng gene mã
hóa của phân type khác. Khi virut cúm nhiễm từ loài này sang loài khác, hoặc
do trộn lẫn sẽ xảy ra sự tái tổ hợp gene của virut cúm ở các loài khác nhau. Ví
dụ: virut cúm A ở người và virut cúm A ở gia cầm, khi xảy ra tái tổ hợp sẽ
hình thành một phân type virut cúm mới có khả năng lây nhiễm cao và lây trực
tiếp từ người sang người. Đó là nguy cơ cho một đại dịch toàn cầu sẽ xảy ra.
Sự trượt kháng nguyên chỉ xảy ra ở virut cúm A vì nó có khả năng gây
bệnh trên nhiều loại vật chủ khác nhau. Các đại dịch cúm châu Á 1957
(H2N2), cúm Hồng Kông 1968 (H3N2) là do virut cúm A trải qua sự trượt
kháng nguyên gây nên
.
- Vacxin tiểu phần virut là vacxin thế hệ thứ hai (1968), cũng được sản
xuất như vacxin toàn thân nhưng các tiểu phần virut như: kháng nguyên bề
mặt, nuclecapsid, các protein được tách bằng chất tẩy (trước đây là ether).
- Vacxin thế hệ thứ ba (1976) là vacxin kháng nguyên tinh chế được sản
xuất từ HA, NA tinh chế, các thành phần khác của virut bị loại bỏ.
Để tăng hiệu quả đáp ứng miễn dịch, hiện nay người ta thêm các tá chất
trong công thức sản xuất vacxin cúm: MF-59, hợp chất nhôm. Đây là hai loại
tá chất duy nhất được cấp phép sử dụng cho vacxin cúm ở Mỹ và Châu Âu.
Vacxin thế hệ Vacxin thế hệ Vacxin thế hệ
I (1958) II (1968) III (1976)
Hình 1.3: Thành phần vacxin bất hoạt 13
• Vacxin sống (vacxin giảm độc lực).
Vacxin sống nhược độc thích ứng lạnh (kí hiệu CAIV) là vacxin dạng
phun, miễn dịch bằng đường mũi, được sản xuất từ chủng virut có đặc tính
thích ứng lạnh do đột biến. Chủng mới sao chép thuận lợi ở 25
0
Khả năng nhiễm virut sống rất
thấp
Cần nuôi tạo lượng
virut lớn, có thể cần tá
chất bổ trợ
Tính miễn dịch có thể
không cao
Có thể tiêm nhắc lại
nhiều lần
Có thể bị nhiễm bệnh
Vacxin DNA Gây ĐƯMD định hướng với
từng phần của virut
Không trở lại thành virut để
lây nhiễm, an toàn
Khả năng nhiễm virut sống rất
thấp
Ổn định, dễ bảo quản
Nghiên cứu phức tạp
hơn, chi phí cao
Cần chất bổ trợ
Tính miễn dịch có thể
không cao
Có thể tiêm nhắc lại
nhiều lần
14I.1.5.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất vacxin cúm A/H5N1 hiện nay
a. Tình hình sản xuất vacxin cúm trên thế giới [2, 13, 14]
15
Bảng 1.4. Một số vacxin cúm A/H5N1 trên thế giới [20]
Hãng Chủng Loại vacxin Nuôi
cấy
Tá
chất
Liều (µl
HA)
1. Baxter (Cộng
hòa Tiệp Khắc
H5N1
(A/VietNam/
1203/2004)
Bất hoạt
Toàn thân
Virut
Tế
bào
Vero
Al 3.7/7.5/1
5/30/45
2. Biken (Nhật) H5N1
(NIBRG-14)
Bất hoạt toàn
thân virut
Trứng Al 1.7/5/15
7.Kaketsuken
(Nhật)
H5N1
(NIBRG-14)
Bất hoạt toàn
thân virut
Trứng Al 1.7/5/15
8.Kitasato
Institute (Nhật)
H5N1
(NIBRG-14)
Bất hoạt toàn
thân virut
Trứng Al 1.7/5/15
9.MedImmune
(Mỹ)
H5N1
(A/VietNam/
1203/2004)
Sống nhược
độc
Trứng - Intranasal
10. Nobilon
International BV
(Nettherlands)
H5N1
(NIBRG-14)
Bất hoạt toàn
thân virut
• Công nghệ di truyền “ngược dòng” [14]
Công nghệ gen hiện đại đã tạo ra chủng sản xuất vacxin cúm A/H5N1
NIBRG-14 thích ứng lạnh trên tế bào phôi trứng gà. NIBRG-14 là chủng virut
tái tổ hợp, được tạo ra bằng kỹ thuật di truyền ngược bằng hai chủng virut:
+ Hai gen quyết định kháng nguyên: NA và HA được lấy từ chủng virut
cúm A/Việt Nam/1194/2004 (H5N1). Vùng quyết định độc tính thuộc gen H5
gồm 12 bazơ mã hóa cho 4 acid amin mang tính kiềm đã bị cắt bỏ để làm mất
tính độc.
+ Sáu gen còn lại lấy từ chủng A/PR/8/34 (H1N1) nên vacxin có thể có
tác dụng miễn dịch chéo với cúm thông thường.
• Công nghệ nuôi cấy tế bào
Virut cúm là loại virut tăng sinh theo kiểu nảy chồi (giống virut dại), nên
việc nuôi cấy virut này rất khó thu được số lượng lớn kháng nguyên. Đây
chính là nguyên nhân tạo giá thành cao của loại vacxin này. Phương pháp nuôi
cấy trên trứng gà có phôi vẫn tỏ ra hiệu quả đối với chủng NIBRG-14 khi so
với các phương pháp nuôi cấy trên dòng tế bào khác (VERO, MDPK, PER.C6
và cả chính tế bào màng niệu đệm phôi gà).
• Công nghệ tách lọc
Việc thu virut từ môi trường nuôi cấy bao gồm cả công đoạn phá vỡ tế bào
là những thách thức không nhỏ cho các nhà nghiên cứu hiện nay. Nhiều thiết
bị mới đã được sử dụng cho mục đích này như ly tâm lạnh siêu tốc, lọc chéo
hay ly tâm liên tục. Tuy nhiên, các thiết bị này rất đắt và việc làm chủ từng
loại đòi hỏi trình độ cao về kiến thức và tay nghề của các chuyên viên trong
lĩnh vực sản xuất vacxin.
• Công nghệ tinh chế
Có nhiều phương pháp tinh chế trong sản xuất vacxin virut nói chung như
phương pháp hóa học, vật lý, enzyme. Với vacxin cúm A /H5N1 bất hoạt toàn
thân tế bào có thể sử dụng các thiết bị ly tâm (siêu tốc, phân vùng và liên tục).
Để làm vacxin chỉ có thành phần HA-NA tăng độ an toàn thì phải sử dụng các
phương pháp sắc ký (ái lực, cột hoặc lỏng cao áp).
A/H5N1 cho người trên trứng gà có phôi từ chủng NIBRG-14.[5]
I.2. TỔNG QUAN VỀ TÁ CHẤT
I.2.1. Vai trò tá chất miễn dịch [3, 10, 12, 24]
Tá chất đã được sử dụng trong nhiều thập niên để cải thiện đáp ứng miễn
dịch của kháng nguyên vacxin. Tá chất vacxin làm tăng độ mạnh, tăng tốc độ,
kéo dài đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Thuận lợi của tá chất bao gồm: nâng cao
đáp ứng miễn dịch của kháng nguyên yếu, làm giảm lượng kháng nguyên cần
thiết cho đáp ứng miễn dịch thành công, giảm số lần tiêm nhắc lại, cải thiện
đáp ứng miễn dịch ở người già, trẻ em và những người suy giảm hệ miễn
dịch.[12]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: chất lượng, cường độ đáp ứng miễn dịch
của kháng nguyên vacxin có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Chúng bao
gồm: loại và liều lượng tiêm vacxin, thời gian đáp ứng miễn dịch và thời gian
tiêm nhắc lại, con đường gây đáp ứng miễn dịch, và độ tuổi, sức khỏe của
người tiêm vacxin.[10]
Do đó việc lựa chọn tá chất có thể được sử dụng để tối ưu hóa một phản ứng
miễn dịch mong muốn. Những nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra rằng: tá chất khác
18
nhau có thể có tác động sâu sắc không chỉ đến độ lớn đáp ứng miễn dịch mà
còn liên quan đến chất lượng của đáp ứng miễn dịch. Việc nghiên cứu tá chất
vacxin đang phát triển nhanh chóng chống lại các bệnh truyền nhiễm, dị ứng,
ung thư nhờ công nghệ trong các lĩnh vực: Hóa sinh phân tích, công nghệ tái
tổ hợp, tinh sạch protein và kết hợp với sự hiểu biết rõ hơn về những cơ chế
đáp ứng miễn dịch, miễn dịch học bệnh lý.[12]
Để đánh giá chất lượng vacxin/tá chất người ta đánh giá tính tương thích
của tá chất với các thành phần có mặt trong vacxin, không có sự giải hấp phụ
trong suốt thời gian bảo quản, những phản ứng phụ do tá chất gây ra. Trước
đây, những tá chất đã được nghiên cứu nhưng không được chấp nhận để tiêm
chủng do sự liên quan đến tính an toàn, tính độc, những tác dụng phụ của tá
trên tế bào APCs cho tế bào T gây độc, tế bào TCD4 nhưng bị hạn chế bởi
phức hợp hòa hợp tổ chức lớp I (MHC I) và phức hợp hòa hợp tổ chức lớp II
(MHC II).
- Chọn lọc và điều hòa miễn dịch dịch thể hay miễn dịch qua trung gian tế
bào, thể hiện qua quá trình xử lý kháng nguyên, trình diện kháng nguyên, kích
thích tiết ra các cytokines.
- Điều hòa sản xuất kháng thể, chất lượng kháng thể, loại kháng thể, tính
đặc hiệu, ái lực của kháng thể.
I.2.3. Những tác động phụ của tá chất [3]
- Gây nhiễm trùng cấp tính hay mãn tính, hình thành các ổ mủ gây đau, các
cục u hay nhọt dai dẳng.
- Làm gia tăng các bệnh tương tự như cúm, gây sốt, nhức đầu, mệt mỏi,
đau cơ và khớp.
- Dị ứng.
- Gây độc lâm sàng các mô và cơ quan.
- Làm gia tăng mẫn cảm cao độ, đưa đến việc viêm khớp tự miễn.
- Phản ứng chéo với kháng nguyên của người như là màng bể cầu thận hay
bao thần kinh, gây ra viêm thận hay viêm màng não.
- Tăng nhạy cảm với tuberculin hoặc các kháng nguyên thử nghiệm trong
da khác.
- Ngăn chặn miễn dịch.
- Gây ung thư.
- Gây quái thai.
- Gây đẻ non.
- Reo rắc các vector sống trong vật chủ gây bệnh, phát tán các vector vào
môi trường và những người khác.
mạc. IgA rất cao trong nước rửa mũi nhưng qua đường tiêm mức IgA không
xác định được. Đối với vacxin cúm gắn chitosan được dùng qua đường mũi
cũng thu được kết quả tương tự khi so sánh với vacxin dùng qua đường tiêm
dưới da. Trong một nghiên cứu khác, vacxin cúm hấp phụ chitosan tạo ra
lượng kháng thể đáng kể trong chuột, có ở cả huyết thanh và lượng IgG sinh
ra. Do đó chitosan có tiềm năng ứng dụng mở rộng cho vacxin DNA dùng qua
đường niêm mạc.(Ill et al, 2001).
Chitosan và các dẫn xuất được sử dụng làm tá chất độ deacetyl hóa phải đạt
75% trở lên. Chitosan sử dụng làm tá chất dưới các dạng vật lý: dung dịch,
dạng bột, dạng đặc biệt hay các hạt nhỏ được tạo ra nhờ các liên kết chéo hoặc
sử dụng các phức hợp đại phân tử mang điện tích trái dấu.
21
Chế phẩm vacxin hấp phụ tá chất chitosan có thể đưa vào cơ thể bằng nhiều
đường khác nhau cả đường miễn dịch cổ điển (tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm
tĩnh mạch) và niêm mạc. Hiện nay chitosan sử dụng làm tá chất cho vacxin sử
dụng bằng xịt qua đường mũi đang nghiên cứu và ứng dụng phổ biến.
I.2.4.2. Hệ tá chất MF-59
MF-59 là hệ nhũ tương dầu trong nước, bao gồm: dầu squalene, chất hoạt
động bề mặt (Tween 80), Span 85. Hệ tá chất MF-59 được phát triển và sản
xuất bởi Chiron, được sử dụng cho vacxin cúm ở Châu Âu trong dịch cúm
2004-2005, hơn một triệu liều đã được phân phối và vacxin được chứng minh
là an toàn, có hiệu quả đáp ứng miễn dịch với vacxin cúm. Nhà sản xuất
Vacxin, Chiron đã và đang sử dụng MF-59 trong vacxin cúm, gọi là Fluad
TM
.
Công ty Novatis (Chiron) đã được cấp bằng chứng nhận (ED 0399843) với tá
chất MF-59 và hơn 120 triệu liều vacxin đã được sử dụng cho dịch cúm mùa
2006-2007 ở châu Âu.[10, 24]
Những nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh: MF-59 cải thiện bảo vệ chống
cơ thể qua đường tiêm, thậm chí một lượng nhỏ 10.10
-9
– 20.10
9
nó có thể dẫn
tới phản ứng miễn dịch, viêm khớp tự miễn, phá hoại tế bào da.[18]
24
II.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian: từ tháng 08-11 năm 2006.
Địa điểm: Phòng Nghiên cứu sinh học phân tử-Viện Vacxin và Sinh phẩm Y
tế, Nha Trang.
II.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu vacxin cúm A/H5N1 hiệu giá 320 HA/ml hấp phụ tá
chất bao gồm các nhóm:
Nhóm 1: Vacxin cúm A/H5N1 không hấp phụ tá chất.
Nhóm 2: Vacxin cúm A/H5N1 hấp phụ MF-59.
Nhóm 3: Vacxin cúm A/H5N1 hấp phụ chitosan.
II.3. VẬT LIỆU
II.3.1. Súc vật thí nghiệm
- Chuột nhắt trắng Swiss, trọng lượng 18-20 g (IVAC).
- Gà trống tơ 6-8 tháng tuổi.
- Máy ly tâm lạnh (Mico Centaur OSI).
- Tủ lạnh 2-8
0
C (Sharp, Nhật Bản).
- Tủ lạnh sâu -80
0
C (Sanyo, Nhật Bản)
- Máy khuấy từ (Jenway-Anh).
- Máy đo pH SEIBOLD.
- Tủ ấm (Memmert).
II.3.4. Dụng cụ
- Đầu côn 200 µl, 1000 µl.
- Máng nhựa.
- Micronic tube 1ml.
- Phiến chữ U 96 giếng.
- Pipetman 5-50µl, 20-200 µl, 100-1000 µl.
- Pipetman 8 kênh, 12 kênh (Eppendorf).
- Syringe nhựa 1ml, 3ml.
- Tube nhựa 2ml.
II.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II.4.1. Quy trình gây miễn dịch
Quy trình gây miễn dịch
- Gây miễn dịch cho chuột nhắt trắng Swiss, trọng lượng 18-20 g.
- Liều tiêm: 0.2 ml/con (64 HA/con).
- Đường tiêm: tiêm bắp đùi.
- Gây miễn dịch 2 mũi vacxin, mũi thứ nhất cách mũi thứ hai 20 ngày.
- Số lượng súc vật 3 x 30 con/nhóm.