1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Có nhiều phương pháp được áp dụng để chẩn đoán và điều trò u trung
thất. Điều này không chỉ do u trung thất ở nhiều vò trí khác nhau trong
lồng ngực, tiếp xúc với nhiều cơ quan quan trọng mà còn do sự đa
dạng về bản chất mô học.
Với sự phát triển mạnh mẽ của các dụng cụ nội soi cũng như các
phương tiện dẫn truyền hình ảnh, phẫu thuật nội soi (PTNS) lồng ngực
đã trở thành một phương pháp mới giúp cho các phẫu thuật viên lồng
ngực có thể tiếp cận để sinh thiết hay cắt bỏ u trung thất với mức độ
xâm lấn tối thiểu.
Ở nước ngoài, việc áp dụng PTNS lồng ngực để chẩn đoán và điều trò
u trung thất đã được thực hiện bởi nhiều tác giả như Cirino L. (1983),
Roviaro G. (1991), Gossot D. (2007), Chang C. (2005) Trong nước,
nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu áp dụng PTNS lồng ngực như:
Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Quyết Tiến, Nguyễn
Công Minh…
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Các báo cáo ở nước ta đều đánh giá cao ứng dụng của PTNS lồng
ngực trong sinh thiết và cắt u trung thất. Tuy nhiên, một số vấn đề
chưa được các công trình này ghi nhận như: tính chất u ảnh hưởng như
thế nào đến PTNS lồng ngực, việc áp dụng PTNS lồng ngực trong
chẩn đoán và điều trò u trung thất như thế nào là hợp lý.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nhằm góp phần hoàn chỉnh thêm một số vấn đề nêu trên, chúng tôi
chọn đề tài: “Xác đònh vai trò phẫu thuật nội soi lồng ngực, trong
chẩn đoán và điều trò u trung thất” với các mục tiêu:
1. Xác đònh vai trò chụp cắt lớp điện tốn (CCLĐT) trong chẩn đoán
u trung thất.
2. Đánh giá khả năng ứng dụng của PTNS lồng ngực trong tiếp cận
trung thất sau cho 34 TH u kích thước nhỏ hơn hay bằng 6cm.Gossot
D. áp dụng PTNS lồng ngực cho 14 bệnh nhân có u trung thất kích
thước lớn từ 2002 đến 2007.
1.1.2. Tại Việt Nam
Năm 1996 PTNS lồng ngực bắt đầu được thực hiện thành công tại các
bệnh viện Bình Dân và Chợ Rẫy. Kể từ đó PTNS lồng ngực đã có
những bước phát triển mạnh mẽ tại các bệnh viện khắp cả nước để
điều trò các bệnh khác nhau trong lồng ngực trong đó có bệnh lý u
trung thất. Từ năm 1999 Nguyễn Hoài Nam tại Bệnh viện Nhân Dân
Gia Đònh áp dụng PTNS lồng ngực trong chẩn đốn, điều trò các bệnh
lý trong lồng ngực trong đó có u trung thất. Tại bệnh viện Bình Dân,
3
tác giả Văn Tần áp dụng PTNS lồng ngực trong điều trò u trung thất
cũng ghi nhận ưu thế ít xâm lấn của phương pháp này. Tại bệnh viện
Trưng Vương, Nguyễn Công Minh áp dụng PTNS lồng ngực trong cắt
u tuyến hung trong điều trò nhược cơ ghi nhận kết quả tốt đối với bệnh
lý này. Trần Quyết Tiến báo cáo 32 TH cắt được u trung thất bằng
PTNS lồng ngực ghi nhận không có trường hợp tử vong và tỷ lệ tai
biến là 3,12%.
1.2. QUAN NIỆM HIỆN NAY VỀ VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
VÀ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT
1.2.1. Về phương diện chẩn đoán: mặc dù có những phát triển mạnh
mẽ của các phương tiện chẩn đoán bằng hình ảnh như CCLĐT, MRI,
PET… nhưng để có thể đưa ra được một hướng điều trò hợp lý vẫn cần
phải có một chẩn đoán chính xác về giải phẫu bệnh của u. Có nhiều
phương pháp sinh thiết u trung thất, mỗi phương pháp đều có những
ưu, khuyết điểm riêng của chúng. PTNS lồng ngực có thể giúp tiếp
cận để sinh thiết những mẫu mô lớn với mức độ xâm lấn ít hơn so với
những phương pháp mở ngực lớn, mở trung thất trước đây.
1.2.2. Về phương diện điều trò: PTNS lồng ngực trong cắt u trung thất
1.3.4. Nội soi trung thất sinh thiết u
Phương pháp này được giới thiệu bởi tác giả Carlens vào năm 1959.
Tai biến bao gồm: chảy máu, các mạch máu có thể nhận đònh nhầm
là hạch như động mạch khí quản, tónh mạch azygos, động mạch phổi
ở khu vực nhóm hạch khí phế quản bên phải, tổn thương thần kinh
quặt ngược, hiếm gặp chiếm 0,18%-0,53%, thường bò bên trái, tràn
khí màng phổi, tổn thương ống ngực. Tỷ lệ tử vong là 0,08%, tỷ lệ tai
biến là 2%. Theo tác giả Abeloff và Detterbeck độ nhạy và độ
chuyên biệt là khoảng 63-86% và 80-85%. Hammoud ghi nhận nội
soi trung thất có thể thiết lập chẩn đoán trong 93,6% bệnh nhân.
1.3.5. Mở trung thất sinh thiết u
Tai biến bao gồm: tổn thương mạch máu, rách màng phổi ít xảy,
nhiễm trùng. Độ nhạy của phương pháp này là 91%. Tỷ lệ tử vong là
0% -0,3%, tỷ lệ tai biến 1% đến 2,3%.
1.3.6. Mở ngực sinh thiết u
Phương pháp này cho phép khảo sát u và tình trạng khoang màng
phổi một cách toàn diện nhất. Tuy nhiên, phương pháp này có tính
xâm lấn cao và thường gây đau mạn tính sau mổ.
1.3.7. Phẫu thuật nội soi lồng ngực sinh thiết u.
Tai biến bao gồm: chảy máu do thương tổn mạch máu thành ngực hay
ở trung that, tổn thương ống ngực, tràn khí màng phổi sau mổ do tổn
5
thương nhu mô phổi. Trong phần lớn các nghiên cứu, phương pháp
này đều xác đònh được bản chất mô học của các thương tổn của trung
thất. Thuận lợi của PTNS lồng ngực so với mở ngực là ít đau sau mổ,
thời gian nằm viện ngắn, có tính thẩm mỹ.
1.4. PTNS LỒNG NGỰC TRONG CẮT U TRUNG THẤT
1.4.1. Cắt u trung thất trước bằng PTNS lồng ngực
U trung thất trước bao gồm nhiều loại khác nhau như: lymphoma, u
tuyến hung, u trung mô, u tế bào mầm,… PTNS lồng ngực để cắt u
U trung thất sau chủ yếu có nguồn gốc thần kinh. Tần suất u ở hai bên
rãnh cạnh cột sống là bằng nhau. Điều trò phẫu thuật cắt u thần kinh
lành tính là thích hợp và ít gặp tái phát u. Cần thực hiện CCLĐT và
MRI trước mổ để phát hiện thành phần u trong ống sống hay còn gọi
là u thần kinh dạng đồng hồ cát, tỷ lệ u loại này theo Cardillo G. và
Akwari O. là 10%. Trong trường hợp như vậy PTNS lồng ngực rất có
lợi vì tính chất ít gây sang chấn, nhất là khi bệnh nhân phải chòu hai
cuộc phẫu thuật cùng một lúc. Hazelrigg và cộng sự đã thực hiện
thành công 86% trường hợp cắt u thần kinh bằng PTNS lồng ngực ở
23 bệnh nhân với kích thước u từ 7-13cm. Cắt u bằng PTNS lồng ngực
nên sử dụng dao đốt điện lưỡng cực vì dùng dao đốt đơn cực có thể
làm thương tổn tủy hay rễ thần kinh. Ngoài ra Pon F. sử dụng dao đốt
bằng sóng cao tần để làm giảm tai biến trong mổ cắt u thần kinh bằng
nội soi.
Chương 2: ĐỐI TƯNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: mô tả, phân tích hàng loạt trường hợp lâm
sàng.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán u trung thất dựa trên lâm sàng,
X quang, CCLĐT được nhập viện trong khoảng thời gian từ tháng
01/2004 đến tháng 12/2009 tại bệnh viện Chợ Rẫy với tiêu chuẩn như
sau:
- Đối với PTNS lồng ngực cắt u: có khả năng cắt được u theo đánh
giá trên CCLĐT (bảng 2.1)
- Đối với PTNS lồng ngực trong sinh thiết u: không có khả năng cắt
được u theo đánh giá trên CCLĐT (bảng 2.1), được đánh giá là bệnh
lý hạch trung thất.
Như vậy cỡ mẫu chung cho nghiên cứu này là 79 bệnh nhân.
2.3. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
2.3.1. Qui trình nghiên cứu
- Chẩn đoán u trung thất dựa vào lâm sàng, X quang thường quy,
CCLĐT. Những trường u ở cạnh khí phế quản sẽ được nội soi khí phế
quản để đánh giá mức độ xâm lấn đường thở.
- Dựa vào các đặc điểm hình ảnh của u trên CCLĐT để đánh giá
khả năng cắt được u bằng PTNS lồng ngực (bảng 2.1.).
- Nếu u thuộc nhóm có thể cắt được bằng PTNS lồng ngực thì được
tiến hành PTNS lồng ngực để cắt u. Nếu u có một trong các dấu hiệu
8
không thể cắt bằng PTNS lồng ngực thì sẽ được mổ mở cắt u hay chỉ
PTNS lồng ngực sinh thiết.
- Ghi nhận các kết quả, theo dõi.
Bảng 2.1. Dấu hiệu CCLĐT đánh giá khả năng cắt được u bằng
PTNS lồng ngực. Có thể cắt được u
Không thể cắt u
Kích
thước
u
U đặc, có kích thước <16cm
U đặc, có kích thước >16cm
Xâm
lấn
trun
g thất
* Chưa mất lớp mỡ quanh
B. Trong lúc mổ: Tính chất u; Các thương tổn kèm theo; Thời
gian phẫu thuật; Lượng máu mất tính theo thể tích máu trong bình
hút; Tai biến trong mổ; Các trường hợp chuyển từ PTNS lồng ngực
cắt u sang sinh thiết u; Các trường hợp chuyển từ PTNS lồng ngực cắt
u sang mổ mở.
C. Sau mổ: Biến chứng sau mổ; Thời gian đặt ống dẫn lưu;
Thời gian nằm viện.
2.3.3. Đánh giá kết quả
9
- PTNS lồng ngực với mục tiêu là sinh thiết u trung thất được đánh
giá là thành công khi mẫu mô sinh thiết đủ lớn để có thể xác đònh bản
chất mô học của u.
- PTNS lồng ngực với mục tiêu là cắt u trung thất được xem là thành
công khi cắt hoàn toàn được u mà không phải mở ngực.
- Đánh giá là tái phát u khi bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng và
hình ảnh trên X quang, CCLĐT của u trung thất mới xuất hiện.
2.3.4. Xử lý và phân tích số liệu
- Các số liệu được xử lý bằng các phần mềm thống kê STATA 8.0
- Các biến số liên tục được trình bày dưới dạng trung bình. So sánh
các biến số liên tục bằng thuật toán kiểm đònh t test. Khoảng tin cậy
95% được trình bày mang ý nghóa 95% giá trò trung bình nằm trong
khoảng tin cậy này.
- Các biến dạng rời rạc được trình bày dưới dạng %. So sánh các
biến rời rạc bằng thuật toán kiểm đònh chi bình phương.
- Các kiểm đònh t, kiểm đònh chi bình phương, bảng ANOVA được
cho là có ý nghóa khi p <0,05.
- Giá trò chẩn đoán của một biện pháp chẩn đoán được biểu thò qua
các thông số: độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trò dự báo dương tính, giá trò
dự báo âm tính, độ chính xác.
4
10
5,3
1,57
84
PHẪU THUẬT
4
10
5,6
1,49
84
3.1.3. Cấu trúc u theo CCLĐT và phẫu thuật
Bảng 3.2: Cấu trúc u trên CCLĐT và trong phẫu thuật
PHẪU THUẬT
KẾT QUẢ (%)
(+)
(-)
ĐN/
ĐCB
GTDĐDT/
GTDĐAT
ĐCX
CCLĐT
U đặc
(+)
80
2
97/87
67/99
88/96
95
(-)
4
85
Hình ảnh
can xi hóa
(+)
9
0
100/100
100/100
100
(-)
0
89
11
Trong 98 TH được nghiên cứu về cấu trúc u, so sánh hình ảnh
trên CCLĐT và trong lúc phẫu thuật cho kết quả độ chính xác trong
chẩn đoán cấu trúc u từ 96% đến 98% (Bảng 3.2)
3.1.4. Mức độ xâm lấn của u theo CCLĐT và phẫu thuật
So sánh hình ảnh u xâm lấn trung thất, thành ngực trên
CCLĐT và trong lúc phẫu thuật cho kết quả độ chính xác lần lượt từ
93-99 %.
Bảng 3.3: Dấu hiệu xâm lấn thành ngực, trung thất trên CCLĐT và trong phẫu thuật
100/99
99
(-)
1
95
Mất lớp mỡ
quanh mạch
máu lớn
(+)
14
3
87/96
82/98
95
(-)
2
79
Góc giữa u và
mạch máu lớn
>90
0
(+)
12
4
80/95
75/96
93
(-)
3
12
6
Tổng cộng
15
100
Thời gian tiến hành phẫu thuật trung bình là 50 phút.
Tai biến, biến chứng phẫu thuật:
- Không có trường hợp tử vong liên quan đến phẫu thuật.
- Không có tai biến xảy ra trong mổ.
- Có 1 TH biến chứng khó thở sau mổ
Thời gian nằm viện trung bình là 5,2 ngày.
3.3. PTNS LỒNG NGỰC TRONG CẮT U TRUNG THẤT
3.3.1. Đặc điểm bệnh nhân
13
98 TH được chỉ đònh cắt u qua PTNS lồng ngực, tuổi trung
bình là 36, nam/nữ là 2/3. Kích thước trung bình là 5,7cm.
Biểu đồ 3.2: Phân bố tuổi trong PTNS lồng ngực cắt u
3.3.2. Tương quan giữa CCLĐT với PTNS lồng ngực cắt u trung thất
Trong 113 TH u trung thất có 98 TH được đánh giá qua các
dấu hiệu trên CCLĐT là có khả năng cắt được qua PTNS lồng ngực
và 15 TH không cắt được, chỉ có thể sinh thiết u (bảng 3.10).
- 96 TH u được cắt hoàn toàn bằng PTNS lồng ngực.
- 2 TH nang phế quản thất bại phải chuyển mổ mở.
- 15 TH được sinh thiết qua PTNS lồng ngực. Trong đó 27 TH là bệnh
lý hạch trung thất, 1 TH nang tiết nhầy.
Độ chính xác của CCLĐT trong khả năng đánh giá cắt được u
Không
cắt được
(n=15)
0
15
3.3.3. Liên quan giữa kích thước u và thời gian phẫu thuật
Trong 98 TH u trung thất được cắt u qua PTNS lồng ngực
được phân chia theo cấu trúc như sau:
- 2 TH thất bại trong đó có 2 u nang.
- 96 TH cắt được u có 84 u đặc, 4 u hỗn hợp và 8 u nang.
Trong 84 TH u đặc được phân chia theo 3 nhóm kích thước là
<6cm, 6-9cm và >9cm. Khảo sát loại u đặc về thời gian phẫu thuật và
tỷ lệ tai biến cho kết quả như sau:
Thời gian phẫu thuật trung bình trong nhóm u >9cm là lâu nhất, mất
195 phút (P<0,05) (bảng 3.12).
Bảng 3.12: Thời gian phẫu thuật theo kích thước của u đặc
Nhóm kích
thước
Thời gian
phẫu thuật
(phút)
Độ lệch
chuẩn
Số BN
<6cm
125
30
70
6-9cm
1(1,4%)
70
6-9cm
8
0 (0%)
8
>9cm
5
3 (37,5%)
8
Tổng số
82
4 (4,7%)
86
Trong loại u đặc, không dính nhóm kích thước >9cm có tỷ lệ
tai biến, biến chứng cao hơn các nhóm có kích thước nhỏ hơn
(P<0,05).
3.3.5. Kết quả phẫu thuật
96 TH được chỉ đònh cắt u qua PTNS lồng ngực có 2 TH phải
chuyển mổ mở. Nguyên nhân là do u dính quá chặt vào các cấu trúc
trung thất không thể bóc tách được.
Tỷ lệ thất bại của PTNS lồng ngực cắt u trung thất là 2%.
Thời gian tiến hành phẫu thuật trung bình là 135 phút. Số
lượng máu mất trung bình là 138ml.
Có 7 tai biến, biến chứng cần can thiệp trong và sau mổ:
- 4 TH chảy máu, do thương tổn tónh mạch azygos (1 TH), động mạch
vú trong (2 TH), động mạch liên sườn (1 TH).
- 1 TH rách phế quản trong mổ.
- 1 TH xuất hiện cơn nhòp nhanh kòch phát trên thất trong mổ.
- 1 TH tràn máu màng phổi sau mổ, được dẫn lưu màng phổi
cắt u trung thất là 7,3%
Thời gian đặt ống dẫn trung bình là 4,1 ngày. Thời gian nằm
viện trung bình là 5,6 ngày
Kết quả giải phẫu bệnh lý cho thấy u liên quan đến tuyến
hung có tỷ lệ khá cao (73%).
Trong nhóm cắt u bằng PTNS lồng ngực của chúng tôi có 4
TH u ác tính trong đó có u tuyến hung ác tính (3 TH) và lymphoma (1
TH).
Chương 4: BÀN LUẬN
4.1. ĐỐI CHIẾU GIỮA KẾT QUẢ CCLĐT VÀ PHẪU THUẬT
Trong nghiên cứu của chúng tôi, kích thước trung bình của u ghi nhận
qua CCLĐT và phẫu thuật lần lượt là 5,3cm và 5,6cm (P>0,05). Độ
chính xác trong chẩn đoán cấu trúc u đạt từ 96% đến 98%. Độ chính
xác trong chẩn đoán mức độ xâm lấn của u vào trung thất đạt từ 93-
99%.
Amar L. kết hợp CCLĐT và nhấp nháy đồ để đánh giá u tuyến cận
giáp trước khi cắt u bằng PTNS lồng ngực cho kết quả khả quan. Các
tác giả Mamontovas V., Brown L., Vansteenkite E. cũng ghi nhận
hiệu quả cao của phương pháp CCLĐT trong chẩn đoán tính chất và
mức độ xâm lấn của u vào trung thất.
17
Kết quả trên cho thấy CCLĐT là phương tiện cận lâm sàng đáng tin
cậy trong chẩn đoán tính chất u và mức độ u xâm lấn, dính vào trung
thất.
4.2. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG PTNS LỒNG NGỰC TRONG SINH
THIẾT U TRUNG THẤT.
Vò trí sinh thiết u phần lớn ở trung thất giữa bao gồm các nhóm hạch
quanh khí quản (nhóm hạch 2,4), hạch rốn phổi (nhóm hạch số 10),
hạch ở cửa sổ phế chủ (nhóm hạch số 5,6). Những nhóm hạch này khó
thì có 2 TH thất bại phải chuyển mổ mở để cắt u.
Tất cả 15 TH đánh giá là không cắt được u trước mổ đều được ghi
nhận trong lúc nội soi là dính nhiều vào trung thất nên được sinh thiết
bằng PTNS lồng ngực.
Phương pháp CCLĐT đánh giá khả năng cắt u bằng PTNS lồng ngực
có độ chính xác là 96%.
Mamontovas V., Kraker M., Brown L., Chang C. cũng ghi nhận hiệu
quả cao của CCLĐT trong việc đánh giá khả năng cắt được u qua
PTNS lồng ngực.
Qua kết quả trên có thể xem CCLĐT là phương pháp đáng tin cậy
trong đánh giá khả năng cắt bỏ u trung thất bằng PTNS lồng ngực.
4.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thực hiện PTNS lồng ngực
cắt u trung thất
Mức độ dính của u: Trong 98 TH u trung thất được cắt bằng PTNS
lồng ngực có 2 TH không thể cắt u bằng PTNS lồng ngực được, tỷ lệ
thất bại là 2%. Nguyên nhân là do mức độ dính khá nhiều, bóc tách
khó khăn và chảy máu nhiều khi bóc tách nên phải chuyển mổ mở
hay quyết đònh chỉ sinh thiết u qua nội soi.
Điều này cho thấy mức độ dính của u vào mô xung quanh là yếu tố
quan trọng trong việc có thực hiện được cắt u bằng PTNS lồng ngực
hay không. Đây cũng là nguyên nhân thường gây thất bại trong PTNS
lồng ngực cắt u trung thất được báo cáo bởi các tác giả Demy T.,
Granato F., Hazelrigg R., Kumar A
Theo nghiên cứu của chúng tôi, trong 4 TH được cắt nang phế quản
qua nội soi có 1 TH phải để lại một phần nhỏ nang dính vào động
mạch chủ và được đốt phần niêm mạc để tránh tái phát. Hướng xử trí
này cũng được đa số các tác giả thống nhất.
Như vậy có thể xem mức độ viêm dính, xâm lấn ra mô xung
quanh là yếu tố quan trọng trong đánh giá khả năng cắt u qua PTNS
lồng ngực.
Trong các loại tai biến thì chảy máu trong mổ là thường gặp.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận các trường hợp PTNS lồng
ngực đều có lượng máu mất dưới 750ml, có nghóa là mất máu ở mức
độ ít. Mất máu ở mức độ này ít có ảnh hưởng đến các chỉ số tuần hoàn
trong cơ thể. Tuy nhiên, mặc dù lượng máu mất trong các trường hợp
tai biến không ở mức độ nặng nhưng do các mạch máu bò thương tổn
là những mạch máu lớn, gần tim nên nếu không xử trí kòp thời có thể
gây nguy hiểm cho bệnh nhân.
20
Akashi A. trong một nghiên cứu 150 TH PTNS lồng ngực có tỷ lệ tai
biến là 4,7%, bao gồm thương tổn mạch máu và thần kinh. Trong đó 2
TH thương tổn thần kinh là do đốt bằng dao điện. Akashi A. ghi nhận
mặc dù đốt bằng dao điện là một phương pháp hữu hiệu trong việc
cắt, đốt và cầm máu, nhưng do tính chất u gần gũi với các mô quan
trọng lân cận, cũng như khó kiểm soát được mức độ đốt cháy lan ra
mô xung quanh nên cần thận trọng việc sử dụng công cụ này. Để làm
giảm tai biến này Lazdunski L., Pons F. đề nghò sử dụng dao đốt siêu
âm.
Thời gian nằm viện sau phẫu thuật trong nghiên cứu của chúng tôi
trung bình là 5,6 ngày. Kết quả này tương đương với ghi nhận của
Cardillo G. là 5,2 ngày, dài hơn so với báo cáo của Calvin H. và
Akashi A. là 3 và 3,7 ngày hay của Gossot D. và 4,3 ngày. So sánh
về thời gian nằm viện trung bình trong mổ mở trước đây của Akashi
A. là 8 ngày, của Cardillo G. là 7,5 ngày thì số ngày nằm viện đã
được rút ngắn. Hơn nữa với các đường mổ nhỏ từ 5-10mm PTNS lồng
ngực là phương pháp có tính thẩm mỹ và ít xâm lấn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy PTNS lồng ngực là phương pháp
cắt u trung thất an toàn, hiệu quả và có tính thẩm mỹ.
4.4. LƯU ĐỒ CHẨN ĐOÁN VÀĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT BẰNG
PTNS LỒNG NGỰC
Hình 4.1: LƯU ĐỒ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT
BẰNG PTNS LỒNG NGỰC
NỘI SOI
KHÍ, PHẾ
QUẢN
U>9cm
PTNS LỒNG NGỰC
SINH THIẾT U
LÂM SÀNG, X-QUANG
KHỐI U TRUNG THẤT
CCLĐT
ĐÁNH GIÁ QUA CCLĐT
KHÔNG DÍNH, CÓ KHẢ
NĂNG CẮT U BẰNG PTNS
LỒNG NGỰC
DÍNH NHIỀU, KHÔNG CÓ
KHẢ NĂNG CẮT U BẰNG
PTNS LỒNG NGỰC
Tỷ lệ tai biến, biến chứng là 6,6%
Phương pháp an toàn hiệu quả và có tính thẩm mỹ
Cắt u
Tỷ lệ thành công là 98%
Tỷ lệ tai biến, biến chứng là 7,3%.
U có dấu hiệu xâm lấn trung thất, thành ngực thì nên mổ mở
hoặc chỉ nên sinh thiết u qua nội soi.
U đặc, chưa có dấu hiệu xâm lấn trung thất hay thành ngực và
có kích thước <9cm thích hợp cho điều trò bằng PTNS lồng ngực.
U nang hay u hỗn hợp, không dính thì có thể chọc hút trong
mổ để làm giảm kích thước u trong mổ.
2. Lưu đồ chẩn đoán và điều trò u trung thất bằng PTNS lồng ngực:
Lưu đồ đònh hướng chẩn đoán và điều trò u trung thất bằng PTNS lồng
ngực có thể dựa vào các dấu hiệu về kích thước, cấu trúc, mức độ
dính của u trên CCLĐT.
24
KIẾN NGHỊ
1. Phổ biến rộng rãi kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện có chuyên
khoa Ngoại lồng ngực, việc áp dụng kết quả nghiên cứu có thể đem
lại lợi ích to lớn cho bệnh nhân.
2. Đánh giá u trung thất trước mổ bằng phương pháp CCLĐT từ đó
giúp đònh hướng xử trí u bằng PTNS lồng ngực theo lưu đồ hợp lý.