sự phát triển của nho giáo thời lê – nguyễn - Pdf 22

Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP
CỦA NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM 2
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo 2
1.1.1 Khái quát sự hình thành Nho giáo 2
1.1.2 Nội dung cơ bản của Nho giáo 2
1.1.3 Tư tưởng Nho giáo 7
1.1.4 Thái độ của Nho giáo với cuộc sống 8
1.1.5 Quan niệm đạo đức trong Nho giáo 8
1.2 Quá trình du nhập và phát triển Nho giáo vào Việt Nam 10
1.2.1 Quá trình du nhập 10
1.2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội Việt Nam 12
1.3 Sự phát triển của Nho giáo qua các triều đại Việt Nam 14
1.3.1 Đời Lý (1010-1225) 14
1.3.2 Đời Trần (1225-1400) 15
1.3.3 Nhà Hồ (1400-1407), Hậu Trần (1407-1413), Minh thuộc (1414-
1427) 15
1.3.4 Đời Hậu Lê (1428-1788) 15
1.3.5 Đời Tây Sơn (1788-1802) 15
1.3.6 Đời Nguyễn (1802-1945) 16
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỰC THỊNH CỦA NHO GIÁO THỜI
KỲ LÊ - NGUYỄN Ở VIỆT NAM 17
2.1 Thời Lê 17
2.1.1 Luật pháp thời nhà Lê 18
2.1.2 Giáo dục và khoa cử 21
2.1.3 Đội ngũ quan lại xuất thân từ khoa cử Nho học ngày càng chiếm số
lượng đông đảo và vị trí quan trọng 24
2.1.4 Tăng cường tư tưởng Nho giáo trong các mặt của đời sông kinh tế

thay đổi bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn là một thực thể khách quan của lịch sử, sinh
ra cùng với xã hội loài người, do con người sáng tạo ra, rồi con người lại bị chi
phối bởi nó. Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết mà
còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của văn hoá.
Ở Việt Nam, qua trường kỳ lịch sử từng tòn tại các tôn giáo như Nho
giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, Đạo giáo…Là một thành tố của văn hoá
Việt Nam – Nho giáo có một ảnh hưởng rất lớn đối với diện mạo cũng như
nội dung các thành tố khác. Đặc biệt vào thế kỷ XV, thời kỳ Lê – Nguyễn
Nho giáo chiếm vị trí độc tôn chi phối nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và
đạt được những thành tựu nhất định.
Để thấy được sự phát triển cực thịnh của Nho giáo thời Lê – Nguyễn,
bài tiểu luận của chúng tôi gồm những phần cụ thể sau:
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH DU
NHẬP CỦA NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỰC THỊNH CỦA NHO GIÁO
THỜI KỲ LÊ - NGUYỄN Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU VỀ SỰ PHÁT
TRIỂN CỰC THỊNH CỦA NHO GIÁO THỜI LÊ – NGUYỄN
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm còn thiếu xót, kính mong cco giáo và
các bạn đóng góp ý kiến để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Nhóm 3
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
1
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH DU
NHẬP CỦA NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo
1.1.1 Khái quát sự hình thành Nho giáo
Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán Tự từ Nho

tuân theo. Trời giáng mệnh làm Vua cho người nào có Đạo, tức là nắm được
đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con
người sẽ được gọi là Mệnh).
TU THÂN :
Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ
Đức để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Tam
Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà Nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ
Đức là lẽ đạo đức mà Nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã
hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội sẽ được
an bình.
*Tam Cương: Nói về ba mối quan hệ Quân Thần (vua tôi), Phụ Tử
(cha con), Phu Phụ (chồng vợ).
Quân Thần ( Vua Tôi) : Trong quan hệ vua tôi. Vua thì thưởng phạt
công minh, Tôi tớ phải trung thành một dạ.
Phụ Tử ( Cha Con ) : Cha hiền Con hiếu. Cha có nghĩa vụ nuôi dạy
con cái, Con phải hiếu thảo và phụng dưỡng khi cha về già.
Phu Phụ (Chồng vợ ) : Chồng phải yêu thương và đối xử công bằng
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
3
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
với vợ. Vợ phải chung thủy tuyệt đối với chồng .
*Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm
điều phải hằng có khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt rõ thiện ác, đúng sai.
Tín: Giữ đúng lời hứa, đáng tin cậy.
*Tam Tòng: Tam là ba, Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ
phải theo, bao gồm: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"

phải có một vốn văn hóa toàn diện.
HÀNH ĐẠO
Sau khi Tu Thân, người quân tử phải Hành Đạo, tức là phải làm quan,
làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "Tề gia,
Trị quốc, Bình thiên hạ". Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ là gia đình,
cho đến lớn là Trị Quốc, và đạt đến mức cuối cùng là Bình thiên hạ (thống
nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc
cai trị có hai phương châm:
Nhân Trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là
yêu người và coi người như bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là
nhân thì Khổng Tử nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” ( Điều gì mình không
muốn thì đừng làm cho người khác - sách Luận ngữ). "Nhân" được coi là điều
cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ
mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?" (sách Luận ngữ).
• Chính Danh : Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của
nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình. "Danh không chính thì
lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ).
Khổng Tử nói với vua Tề Cảnh Công: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử
- Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con" (sách Luận ngữ).
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho
giáo, chúng được tóm gọn lại trong chín chữ: "Tu Thân, Tề gia, Trị quốc,
Bình thiên hạ" Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích
cai trị mà thôi.
Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết Thi,
Thư, Lễ, Nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
5
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
đức mà không cần phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà
không có đạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường).

6
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
Tuy nhiên quan điểm Đạo Đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm tích
cực. Một trong những đặc điểm đó là đặt rõ vấn đề người quân tử, tức là người
lãnh đạo chính trị phải có đạo đức cao cả, dù nguyên tắc ấy không được thực
hiện trong thực tế nó vẫn là một điểm làm chỗ dựa cho những sĩ phu đấu tranh.
Nho giáo đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả với xã hội.
1.1.3 Tư tưởng Nho giáo
Ở Trung Quốc xã hội phong kiến vẫn giữ lại rất nhiều di tích của xã hội
thị tộc và xã hội nô lệ, biểu hiện trong pháp luật và phong tục dưới nhiều hình
thức như quan niệm về sở hữu ruộng đất thuộc về quốc gia, quan niệm tôn
pháp trong gia tộc, ở trong một xã hội như vậy thì vua là tổ của thị tộc, là cha
của dân, mà cha là trời của con, chồng là trời của vợ. Để tồn tại trên cơ sở sản
xuất đặc thù á Đông (phương thức sản xuất Châu á) giai cấp địa chủ thống trị
cần phải giữ những quan niệm ấy, do đó chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Chính là
những khái niệm luân lý tuyệt đối trong xã hội phong kiến Trung Quốc.
Trong hình thái ý thức phong kiến hệ giữa người với người chỉ được ghép vào
5 loại (ngũ luân), ấy là: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè. Trong 5
cặp ấy thì hai cặp anh em, bạn bè chỉ là nhành ngọn, mà 3 cặp kia mới là cội
gốc. Những tính lớn của nhân loại, theo quan niệm phong kiến là nhân, nghĩa,
lễ, trí (về sau có thêm chữ tín) cũng là phát sinh trên cơ sở của ngũ luân. Như
Khổng Tử nói rằng hiếu đễ là gốc của chữ Nhân.
Ở đây chữ đạo đức và danh dự cũng đồng nghĩa với chữ lý luận và
danh phận trong Nho giáo mà tự do, bình đẳng là tư tưởng cá nhân của xã hội
tư sản. Đối với nó thì ngũ luân, ngũ thường, hay tam cương ngũ thường là
những cái tuyệt đối. Theo bộ sậu chính thường của tư tưởng đạo đức thì đạo
đức quan phải diễn dịch từ vũ trụ quan, nhưng nho giáo thì làm ngược trở lại,
nó xuất phát từ ngũ luân, ngũ thường rồi đem gán những cái ấy cho vũ trụ,
cho thượng đế : nó đã luân lý hoá cả vũ trụ, cả thượng đế, vũ trụ và thượng đế
của Nho giáo đều nhuốm màu luân lý. Đối với nho giáo thì luân lý cương

khác, và có lẽ chính nhờ nó mà Nho giáo giữ vị trí độc tôn và ưa chuộng trong
thời gian rất dài của lịch sử.
1.1.5 Quan niệm đạo đức trong Nho giáo
Trong Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người. Phải nói đạo làm
người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xã hội phong kiến. Chúng ta
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
8
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
đều biết trong xã hội có giai cấp thì những nguyên tắc để đánh giá hành vi của
con ngươì, phẩm hạnh của con người trong mối quan hệ với người khác và
trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ quốc đều mang tính giai cấp rõ rệt và
có tính chất lịch sử. Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay
đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này đến thời đại khác
đến nỗi thường thường trái ngược hẳn nhau” (Enghen).
Những quan niệm đạo đức mà Khổng Tử đề ra không phải là vĩnh cửu,
nhưng có nhiều phương châm xử thế, tiếp vật đã giúp ông sống giữa bầy lang
sói mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trong sáng. Suy đến cùng
đạo làm người ấy bao gồm 2 chữ nhân nghĩa.
Khổng Tử giảng chữ Nhân cho học trò không lúc nào giống lúc nào,
nhưng xét cho kỹ, cốt tuỷ của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính
là Khổng Tử nói “đối với người như đối với mình, không thi hành với người
những điều mà bản thân không muốn ai thi hành với mình cả. Hơn nữa cái
mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái gì mình muốn đạt tới thì
cũng phải làm cho đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn mà không
làm cho người xấu đi” (luận ngữ) “Nghĩa” là lẽ phải. đường hay, việc đúng.
Mạnh Tử nói “nhân là lòng người, nghĩa là đường đi của người”; (Cáo Tử
thượng) “Nhân là cái nhà của người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người”
(Lâu ly thượng); “ở với đạo nhân, nói theo đường nghĩa, tất cả mọi việc của
đại nhân là thế đó” (Tồn tâm thương).
Nghĩa thường đối lập với lợi. Theo lợi có khi không làm cái việc phải

sống, muốn nâng cao mức sống của mình không thể không học tập những dân
tộc tiên tiến. Ta không hề thấy một dân tộc nào cứ chịu lạc hậu, chịu áp bức
bóc lột nghèo nàn để chờ sự sáng tạo của riêng mình không thèm học tập
những dân tộc tiến bộ hơn mình. Điều này đúng với khoa học tự nhiên và kỹ
thuật cũng như với khoa học xã hội. Vì thế chúng ta tiếp thu tư tưởng văn hoá
Trung Quốc là một điều tất yếu.
Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời kỳ
Bắc thuộc, Nho giáo lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Phật giáo dần
dần rút lui vào chùa chiền, lão giáo cũng dần biến thành một thứ mê tín dị
đoan mà các thầy phù thuỷ dùng làm kế sinh nhai. Tư tưởng trị vì trong lĩnh
vực chính trị và học thuật suốt 2000 năm là tư tưởng Nho giáo. Có nhiều
nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân vô cùng quan trọng là sức sống
của dân tộc. Trong hoàn cảnh thời trước, nhất là từ khi giành được nền tự chủ
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
10
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
dân tộc Việt Nam muốn tồn tại thì phải chọn lấy một ý thức hệ tích cực, quan
tâm đến con người đến cuộc đời, đến xã hội, đến vận mệnh dân tộc. Nho giáo
có nhiều hạn chế nhưng trong 3 ý thức hệ phong kiến thì phải nói Nho giáo có
nhiều nhân tố tích cực nhất. Do đó cha ông ta đã chọn lấy Nho giáo.
Chúng ta đã biết, lúc đầu Nho giáo được đưa vào Việt Nam trong
trường hợp không hay ho gì. Nó bị bọn xâm lược đặt lên nhân dân ta với ý
định gây cảnh “đồng văn” để dễ “đồng hoá”. Nhưng khi đã làm quen với đạo
Nho, chắc rằng nhân dân ta thời đó thấy nó đáp ứng được nhiều vấn đề mà
đời sống đặt ra, nên khi giành được độc lập, nhân dân ta nói lấy nó làm nền
tảng lý luận để chỉ đạo tư duy và hành động của mình. Thế là từ chỗ bị ép học
nó, nhân dân ta đã tự nguyện học nó và ngày một phổ biến nó một cách rộng
rãi. Vì thế những người Việt Nam đầu tiên được giữ những chức vụ quan
trọng dưới thời Bắc thuộc như Lý Tiến, Lý Cầm - làm thái thú, thứ sứ - đều là
những người học thông kinh truyện, xuất thân từ khoa bảng. Ngay khi Ngô

1.2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội Việt Nam
Sự phát triển của Nho giáo Việt Nam không tách rời những yêu cầu xã
hội như trên đã nói, cho nên trong buổi thịnh tự nhất, nó có một số tác dụng
tích cực.
Trước hết là cương vị độc tôn, Nho giáo đã có thêm nhiều sức mạnh và
uy thế góp phần củng cố và phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệm
mẫu mực cho việc chấn chỉnh và mở rộng nhà nước phong kiến tập quyền
theo một quy mô hoàn chỉnh có đầy đủ những thể chế và điều phạm. Mà ở thế
kỷ XV, các xu thế phát triển đó đã và đang giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển
của xã hội Việt Nam trên các bình diện sản xuất và củng cố quốc phòng.
Như đã biết, quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêu cầu
phát triển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sở hữu của giai cấp
địa chủ của nhà nước và của một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh về ruộng
đất. Vì thế cho nên khi chiếm được vị trí chủ đạo trên vòm trời tư tưởng của
chế độ phong kiến, Nho giáo càng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này. Nó
làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hoá được đẩy mạnh hơn trước.
Đồng thời Nho giáo đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn
hoá tinh thần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, trước hết nó làm
cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh
Tông. Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri
thức đông đảo chưa từng thâý trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Do
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
12
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
đó khoa học và văn học nghệ thuật phát triển.
Hơn nữa sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện
tượng góp phần thúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới. Là
một học thuyết tích cực nhập thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu
vào tìm hiểu những quan hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp
luật và đạo đức. Do đó, nhận thức lý luận của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng

xuất xã hội, nó chỉ biết đề cao đạo tư thân và đạo tự nước chứ không hề đếm
xỉa đến các tri thức vè khoa học tự nhiên cũng như về các ngành sản xuất và
lưu thông.
Tính chất tiêu cực ấy của Nho giáo càng về sau càng gây tác hại không
nhỏ trong việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.
Khi đã chiếm được địa vị thống trị trên vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt
Nam không tiếp tục đi sâu vào khám phá những vấn đề bản chất của đời sống
và của vũ trụ, vì mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác. Nó chỉ chú trọng đến
những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế. Cho nên khi xã hội phong kiến rối
loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người được đặt ra thì Nho
giáo trở thành bất lực. Nó không giải đáp được vấn đề ấy vì nó đã sớm bỏ con
đường phát triển tư duy trừu tượng.
Hơn nữa, một khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn thì lễ chế của nó đặc
biệt phát triển mạnh. Khi đó nó bắt đầu đè nặng lên con người và bóp nghẹt
nếp sống giản dị, những quan hệ xã hội trong sáng, những tình cảm tự nhiên
và chân thực của suy sụp cùng với xã hội phong kiến thì nó trở nên phản
động, cổ hủ và lạc hậu.
Tóm lại bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, Nho giáo cũng đem lại
không ít tác động tiêu cực mà cho đến nay nó vẫn còn là nhân tố kìm hãm sự
phát triển văn hoá tại các vùng nông thôn Việt Nam.
1.3 Sự phát triển của Nho giáo qua các triều đại Việt Nam
1.3.1 Đời Lý (1010-1225)
Nho học mới hưng phát. Vua Lý Thánh tông cho lập Văn miếu, làm
tượng thờ Chu công, Khổng tử, bảy mươi hai tiên hiền (1070). Vua Lý Nhân
tông mở khoa thi đầu tiên tên là Tam trường (1075), Lê Văn Thịnh đậu thủ
khoa; mở Quốc tử giám (1076); lập Hàn lâm viện (1086), tuyển Mạc Hiển
Tích làm hàn lâm học sĩ. Danh nho triều Lý có Lý Đạo Thành, Trương Bá
Ngọc, Tô Hiến Thành
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
14

Sau khi đánh bại quân Thanh giữa năm Kỷ dậu (1879), vua Quang
Trung lập Sùng chính viện, cử La Sơn Phu tử Nguyễn Thiệp làm viện trưởng,
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
15
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
với trọng trách chấn chỉnh lại Nho học Việt Nam. La Sơn Phu tử dịch xong
các sách Tiểu học, Tứ thư và Ngũ kinh ra chữ Nôm, chưa kịp cải cách thì vua
Quang Trung mất.
1.3.6 Đời Nguyễn (1802-1945)
Nền học thuật gắn liền khoa cử ngày càng suy. Thực dân Pháp xâm
chiếm đất nước. Cái học theo phương Tây khởi sự chen vào. Nền Nho học cử
nghiệp cổ truyền dần dần mai một, chấm dứt năm 1915 ở miền Bắc, rồi 1918
ở miền Trung.
Sự phát triển của Nho giáo trong thời Lê Nguyễn sẽ được nói kỹ ở
chương sau.
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
16
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỰC THỊNH CỦA NHO GIÁO
THỜI KỲ LÊ - NGUYỄN Ở VIỆT NAM
2.1 Thời Lê
Thời Lê là một giai đoạn lịch sử có diễn biến phức tạp cả về chính trị
xã hội và hệ tư tưởng. Qua các nguồn sử liệu, chúng ta nhận thấy rằng, trong
thời kỳ nhà Lê cực thịnh (1428-1527), Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng
chính thống của vương triều và phổ cập trong đại bộ phận dân cư làng xã.
Tài liệu lịch sử đã ghi nhận Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ
rất sớm. Ngay từ thời Bắc thuộc, những hoạt động xã hội mang màu sắc Nho
giáo như việc mở các trường học dạy kinh điển Nho gia, tiến hành các nghi
thức cúng tế thần linh đã xuất hiện. Nhưng có lẽ mãi đến thời Lê, Nho giáo
mới thực sự xác lập một cách vững chắc và có ảnh hưởng một cách toàn diện

dụng Nho giáo làm chuẩn mực để xây dựng chế độ xã hội, làm công cụ để trị
nước, nhà Lê đã gắn bó quyền lợi giai cấp của mình với lợi ích của dân tộc.
2.1.1 Luật pháp thời nhà Lê
Qua một số bộ luật, các điều giáo huấn và một số hương ước hiện còn
lưu giữ được, chúng ta nhận thấy rất rõ nhiều điều luật, điển chế mang đậm
nét tư tưởng của Nho giáo như Quốc triều hình luật, còn được gọi là Luật
Hồng Đức, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính thư, 24
điều Huấn dân đại cáo của Lê Thánh Tông.
Các vua Lê rất chú ý đến việc xây dựng hệ thống điển chế pháp luật,
kết hợp chặt chẽ giữa lễ và pháp. Nhà nước đưa lễ vào luật, luật và lễ hỗ trợ
nhau tạo ra một xã hội hướng Nho. Trong những bộ luật đó có nhiều điều đề
cao vấn đề lễ của Nho gia, bao gồm các lễ giáo và nghi lễ. Nhìn chung, vấn đề
lễ rất được coi trọng, bởi hình thái ý thức này giúp khuôn mẫu hóa và ổn định
các hành vi đạo đức, lối sống của con người, khiến xã hội đi vào trật tự, dễ
quản lý. Thuyết “chính danh” được tôn trọng thực hiện đã giúp cho mỗi con
người trong xã hội đều có những chuẩn mực hành vi riêng (được gọi là khuôn
mẫu văn hóa) do địa vị xã hội của mình quy định. Như vậy, triều Lê đã cụ thể
hóa giáo lý Nho gia bằng các luật lệ và những giáo điều khá chi tiết, bao gồm
cả việc giảng giải các đạo lý về cương thường, điều chỉnh các hành vi trong
ứng xử của mỗi cá nhân trong đời sống cho hợp “lễ” như: trung hiếu, tiết
nghĩa; các quy định về tôn ti trật tự ; quy định về các nghi lễ cúng tế giỗ
chạp, ma chay, cưới xin; quy định các nghi tiết về trang phục, ăn uống, quy
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
18
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
chế nhà cửa, xe kiệu cho đúng với phận vị của từng lớp người trong xã hội.
Qua các điều quy định trong Quốc triều hình luật - bộ luật được coi là quan
trọng bậc nhất của triều Lê, chúng ta thấy rất rõ việc nhà nước đề ra những
điều lệ cụ thể nhằm thể chế hóa lễ để cai trị, giáo hóa dân chúng và trừng phạt
những hành vi làm ảnh hưởng đến lễ nghi ấy trong đời sống xã hội theo tư

ngưỡng này đã tạo nên cho xã hội từ trong thành đến ngoài nội một không khí
đỡ nghẹt thở hơn thời Lê sơ độc tôn Nho giáo.
Có thể nói, ngay từ đầu thời Lê, mặc dù Nho giáo được coi là quốc
giáo, song Phật giáo vẫn được dân chúng ngưỡng mộ.
Có thể nói, nhìn một cách tổng quan, hệ tư tưởng thời Lê có những diễn
biến khá phức tạp. Thời kỳ đầu Nho giáo độc tôn và trở thành công cụ trị
nước quan trọng của chính quyền phong kiến thời Lê sơ. Ở giai đoạn Lê -
Mạc, Lê trung hưng, hệ tư tưởng chuyên chế này trở nên lỏng lẻo, tạo điều
kiện phục hồi cho các hệ tư tưởng khác. Chẳng hạn, sau một trăm năm thực
hiện chủ trương “dương Nho, ức Phật” của nhà nước Lê sơ, vào những TK
XVI-XVIII Phật giáo đã chấn hưng trở lại, đạo Lão được tầng lớp dân chúng
quan tâm phụng thờ. “Tam giáo đồng nguyên” là đặc điểm nổi bật của hệ tư
tưởng nước ta ở thời Lê mạt.
Mặc dù có những diễn biến nêu trên về ý thức hệ, song chúng ta nhận
thấy rất rõ rằng từ tầng sâu, tức trong tiềm thức, hệ tư tưởng của cư dân thời
Lê vẫn được xây dựng trên nền tảng của đạo Nho. Đó là ý thức về trật tự đẳng
thứ, là tư tưởng trọng xỉ, trọng tước, là hiếu, đễ Rõ ràng, mặt tích cực của
Nho giáo vẫn tồn tại và được sử dụng như một công cụ hữu hiệu trong việc
“tề gia, trị quốc”.
Như vậy, hệ tư tưởng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội, nó
quyết định sự ổn định hay bất ổn của một triều đại. Quá trình phát triển của
chế độ phong kiến Việt Nam cho thấy, sự lựa chọn hệ tư tưởng phù hợp với
sự phát triển của thời đại đã có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng và phát
triển đất nước. Có thể nói, đó là kim chỉ nam, là đường lối để trị nước của mỗi
thời đại hướng tới mục đích quốc thái, dân an.
Tài liệu sử cho biết, một ý thức hệ độc tôn Nho giáo thời Lê sơ TK XV,
một mặt đã tạo nên một xã hội trật tự, kỷ cương và phát triển; mặt khác, đã
tạo ra một tầng lớp quan lại có một sự nhất trí hình thức, giả tạo về hệ tư
tưởng. Bởi muốn thi đỗ ra làm quan, họ phải nhận thức một cách rập khuôn
nội dung sắp đặt sẵn trong các giáo trình của Nho giáo. Nếu không, họ sẽ

người đang bị tội tù đày, con em các nhà lương thiện đều có thể vào học tại
đây. Sang thời Lê Thánh Tông, trường lộ đổi thành trường phủ.
Giáo quan giảng dạy tại đây được tuyển từ các nhà Nho địa phương.
Muốn lên học tại Quốc Tử giám, học trò ở trường lộ phải qua sát hạch, lấy
những Lộ hiệu sinh học xuất sắc nhất, nhì.
Ngoài các trường do triều đình mở còn có các trường lớp tư nhân trên
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
21
Môn: Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam Nhóm 3
khắp toàn quốc do các nhà Nho không đỗ đạt hoặc đã đỗ đạt nhưng thôi làm
quan về dạy học.
b/ Tài liệu học tập
Tài liệu học tập, giảng dạy và thi cử chính thức gồm có:
• Tứ Thư
• Ngũ Kinh
• Ngọc đường văn phạm
• Văn hiến thông khảo
• Văn tuyển
• Cương mục
• Bắc sử (Sử Trung Quốc)
Phương pháp giáo dục chỉ có 2 nguyên tắc chủ chốt là học thuộc lòng
và trừng phạt bằng roi vọt. Ngoài ra, còn nguyên tắc lặp lại tư tưởng cổ nhân
và biểu diễn bằng những câu sáo rỗng
Dưới thời Lê sơ nói chung và trong thời trị vì của Lê Thánh Tông nói
riêng, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn; Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế. Phật
giáo bị đẩy lui xuống sinh hoạt ở các làng xã, trong khi đó Nho giáo lại được
coi trọng và lên ngôi, đặc biệt là khu vực triều đình và giới nho học.
Theo ý kiến của nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, hệ thống Nho giáo này
do phong kiến nhà Lê bắt chước theo nhà Minh của Trung Quốc. Người học
không được phát huy ý kiến riêng của mình. Kiểu người điển hình do phương

Thi Hội
Thi Hội thuộc hàng đại khoa để các Hương cống cả nước đua tài. Thời
gian đầu, người đang làm quan dù chưa đỗ Hương cống vẫn được thi Hội, nhưng
từ năm 1486 người làm quan cũng phải đỗ thi Hương mới được thi Hội.
Định kỳ 3 năm tổ chức 1 lần thi Hội, sau năm thi Hương. Từ thời Lê
Nhân Tông, thi Hội gồm có 4 kỳ:
1.Kỳ 1 thi Tứ thư, Luận ngữ; 4 đề về Mạnh Tử (thí sinh được chọn 4
trong 8 đề). Về Ngũ kinh, mỗi kinh 3 đề cho thí sinh chọn làm 1 đề; riêng
kinh Xuân Thu có 2 đề nhưng phải gộp vào làm thành 1 bài văn
[6]
.
2.Kỳ 2 thi chế, chiếu, biểu, mỗi thể loại có 3 đề
3.Kỳ 3 thi thơ phú, mỗi thể 2 đề. Thơ dùng thể Đường luật, phú dùng
thể Lý Bạch thường viết
4.Kỳ 4 ra bài văn sách, hỏi những điểm khác nhau giữa Ngũ Kinh và
Tứ Thư cùng chính sự xấu, tốt của các đời trước.
Người đỗ thi Hội gọi là trúng cách, người đạt điểm cao nhất gọi là Hội
nguyên.
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lớp: LTQL4
23

Trích đoạn Luật pháp thời Nguyễn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status