PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đặt vấn đề
Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao hay còn gọi là bệnh cúm gà, là một
bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm đối với gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây,
đà điểu, chim cút. Các loài chim cảnh và chim hoang dã nhất là vịt trời, diệc,
ngỗng trời và đặc biệt là các loài thuỷ cầm nuôi (vịt, ngan, ngỗng) trước đây
được coi là những vật mang trùng khoẻ mạnh. Người, một số loài động vật có
vú như chó, mèo cũng có thể bị bệnh cúm gia cầm.
Bệnh do virus cúm gia cầm độc lực cao thuộc nhóm virus cúm A của họ
Orthomyxoviridae gây ra, với đặc điểm lây lan rất nhanh và tỉ lệ chết rất cao
trong quần thể gia cầm bị bệnh trong vòng 24 – 48 giờ sau khi nhiễm virus,
gây thiệt hại rất lớn về kinh tế do phải tiêu huỷ gia cầm, cản trở sinh hoạt văn
hoá, du lịch xã hội và là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm ở người.
Bệnh cúm gia cầm đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, trong khu vực
Đông Nam Á, Việt Nam và có nguy cơ bùng phát đại dịch trong những năm
tới do khả năng biến chủng và lây lan nhanh của virus cúm gia cầm.
Ở Châu Á, cuối năm 2003 bệnh cúm gia cầm đã xảy ra trên diện rộng ở
một số nước, bệnh xuất hiện đầu tiên ở Hàn Quốc từ đầu tháng 12/2003 sau đó
xảy ra ở nhiều nước với tình hình diễn biến phức tạp. Đến cuối tháng 2/2004,
đã có 11 nước và vùng lãnh thổ thông báo dịch là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái
Lan, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Hồng Kông, Đài
Loan, Pakistan với hơn 200 triệu gia cầm chủ yếu là gà bị chết và tiêu huỷ.
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, dịch cúm gia cầm xuất hiện vào cuối
tháng 12/2003, bắt đầu từ các tỉnh Hà Tây, Long An và Tiền Giang sau lây
lan sang cả nước. Trong vòng hai tháng đã xuất hiện tại 2574 xã, phường
thuộc 381 quận, huyện, thị xã của 57 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 43,9 triệu con chiếm 16,9%
tổng đàn trong đó gà có 30,4 triệu con và thuỷ cầm là 13,5 triệu con. Ngoài ra
còn có 14,76 triệu con chim cút và các loài chim khác bị chết và tiêu huỷ.
1
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo rằng đại dịch cúm đang
chuyên môn thực hiện tốt công tác chăn nuôi thú y để bảo vệ sức khoẻ đàn gia
cầm và sức khỏe con người.
Đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch niêm mạc chống virus cúm A
trên địa bàn huyện, thông qua đó đưa ra cơ sở để cơ quan thú y các cấp có kế
hoạch tiêm phòng thích hợp nhằm duy trì tình trạng miễn dịch bảo hộ tốt cho
đàn gia cầm trên địa bàn.
1.3. Mục tiêu và tính thực tiễn của đề tài
1.3.1. Mục tiêu của đề tài
Nắm được tỉ lệ nhiễm virus H5N1 ở gà và vịt.
Đánh giá tình hình đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng.
1.3.2. Đối tượng nghiên cứu
Mẫu dịch họng là loại bệnh phẩm có độ nhạy cao, cho kết quả đáng tin cậy
nhất khi xét nghiệm bằng phản ứng IHI (Hồ Quang Trung, 2006).
1.3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu:
Từ 5/1/2009 đến 9/5/2009.
Địa điểm nghiên cứu:
Phòng thí nghiệm vi sinh vật học, bộ môn ký sinh truyền nhiễm, khoa
Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông lâm Huế.
Huyện Hương Thuỷ thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.
1.3.4. Tính thực tiễn của đề tài
Đề tài có tính thực tiễn cao vì vậy đáp ứng nhu cầu có phương pháp khả
thi, rẻ tiền, nguyên liệu sẵn có và tính chủ động cao để chẩn đoán bệnh cúm
gia cầm.
3
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm
2.1.1. Lịch sử tên bệnh
Dịch cúm gia cầm, tiếng Anh gọi là “Bird flu” hay “Avian ifluenza”, tên
gọi ám chỉ là dịch bệnh được phát hiện trong gia cầm như gà, vịt, chim tuy
bệnh xảy ra ở Hà Lan rồi lây lan sang Đức và Bỉ làm hàng chục triệu gia cầm
bị chết và tiêu huỷ. Ở châu Á, cuối năm 2003, bệnh xuất hiện đầu tiên ở Hàn
Quốc sau đó xảy ra ở nhiều nước. Đến cuối tháng 2/2004, đã có 11 nước và
vùng lãnh thổ công bố có dịch làm hơn 200 triệu gia cầm bị chết và tiêu huỷ.
Đầu tháng 2/2004, dịch cúm gia cầm xảy ra ở Mỹ và Canada. Tháng 7/2004,
dịch bệnh lại bùng phát ở 2 tỉnh Thái Lan và một số thành phố ở Trung Quốc.
Tháng 8/2004, người ta lại xác nhận sự xuất hiện dịch ở Malaysia. Tại Nam
Mỹ, vào cuối tháng 2/2004, virus chủng H7N3 đã được phân lập tại nông trại
British Colombia. Từ đầu tháng 1/2007 đến tháng 7/2007, theo thông báo của
tổ chức y tế thế giới (WHO) dịch cúm gia cầm thể độc lực cao đã xảy ra tại 28
nước và vùng lãnh thổ thế giới trong đó có Việt Nam. Tổng số gia cầm mắc
bệnh và tiêu huỷ là hơn 15 triệu con (Nguyễn Ngọc Tiến, 2007).
Năm 2008, dịch cúm gia cầm trên gia cầm phát ra ở 22 quốc gia và vùng
lãnh thổ trong đó có Việt Nam. Đầu năm 2009, nhiều quốc gia và vùng lãnh
thổ thông báo có dịch cúm gia cầm như: Canada, Đức, Ba Lan, Nepal, Ấn Độ,
Ai cập, Bangladesh, Indonesia, Trung Quốc. Riêng tại Trung Quốc đã có 7 ca
nhiễm virus cúm trên người (Cục thú y, 2009).
2.1.3. Tình hình bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam từ cuối năm 2003 đến
nay có thể chia làm nhiều giai đoạn:
Từ cuối tháng 12/2003 đến hết tháng 1/2004:
Dịch cúm gia cầm xuất hiện từ cuối tháng 12/2003 tại trại gà giống của
công ty CP ở Hà Tây. Cùng thời gian này, dịch xảy ra ở 2 tỉnh Tiền Giang và
Long An. Ngay sau đó, dịch đã lây lan ra tất cả các huyện của hai tỉnh này,
đồng thời dịch lây lan nhanh sang các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Bến Tre,
Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang.
5
Giữa tháng 1/2004 dịch xảy ra ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông
Nam Bộ như Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai; đồng thời ở miền Bắc dịch
cũng xuất hiện ở các tỉnh và thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Sơn
tiêm phòng hoặc chỉ mới tiêm được một mũi nên chưa có miễn dịch bảo hộ.
Năm 2006 ở cả 3 miền không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo quyết liệt của
Chính Phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả chiến dịch tiêm phòng năm
2005 và đợt 1 năm 2006 (Văn Đăng Kỳ, 2008).
Tình hình dịch cuối năm 2006 đầu năm 2007:
Các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, dưới 3 tháng
tuổi, ấp nở trái phép và chưa được tiêm phòng vacxin. Trừ Cà Mau, Bạc Liêu,
ở các địa phương khác dịch lây lan chậm, qui mô dịch nhỏ, được bao vây dập
tắt do địa phương chủ động phát hiện dịch và tiêm phòng tốt.
Đợt 1: từ ngày 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch đã xảy ra trên 83 xã,
phường của 33 huyện, quận thuộc 11 tỉnh, thành phố. Tổng số gia cầm mắc
bệnh, chết, tiêu huỷ là 103094 con, trong đó gà 13622 con, vịt, ngan là 89472
con, hai tỉnh bị nặng là Cà Mau và Bạc Liêu, còn ở các tỉnh khác dịch xảy ra
ở 1 hoặc 2 hộ chăn nuôi được phát hiện sớm và dập tắt nhanh chóng.
Đợt 2: từ 1/5 đến 23/8/2007 dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 70 huyện, thị
thuộc 23 tỉnh, thành phố. Tổng gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 294894 con.
Dịch xảy ra nặng ở Nghệ An, Nam Định và Điện Biên (Văn Đăng Kỳ, 2008).
Tình hình dịch từ trong năm 2008:
Dịch cúm gia cầm xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện quận, thị xã của 27
tỉnh, thành phố. Tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ là 106508 con. Dịch chỉ
xuất hiện tại các điểm dịch ở những đàn gia cầm có quy mô từ 100 – 2000
con không được tiêm vacxin (44,59%) hoặc đàn gia cầm mới tiêm phòng một
mũi (16,21%) và ổ dịch trên thuỷ cầm chiếm 52,71% (Cục thú y, 2009).
Tình hình dịch từ đầu năm 2009:
Từ đầu năm đến ngày 15/02/2009, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 31
xã thuộc 16 huyện thuộc 9 tỉnh: Thanh Hoá, Thái Nguyên, Cà Mau, Sóc
Trăng, Nghệ An, Hậu Giang, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Quảng Trị. Tổng số
7
gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 31815 con trong đó gà là 11499 con, vịt
là 21018 con và ngan là 298 con. Cụ thể:
Tại Việt Nam, tính từ đầu năm 2009 đến nay có 2 ca nhiễm cúm tại
Thanh Hoá và Quảng Ninh (Cục thú y, 2009).
2.2. Đặc điểm virus học mầm bệnh cúm gia cầm
2.2.1. Cấu trúc chung của virus
Virus cúm gia cầm là một thành viên thuộc họ Orthomyxoviridae. Họ
này gồm có 5 chi: A, B, C, Thogotovirus và Isavirus. Trong đó, Influenza
virus A, B, C gây nhiễm cho bệnh cúm; Thogotovirus do virus truyền qua ve
thường gây nhiễm cho các loài có vú; Isavirus gây bệnh thiếu máu truyền
nhiễm cho cá hồi. Virus thuộc họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc
chung là hệ gen chứa axit ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âm
được kí hiệu là ss(-)RNA (negative single stranded ARN). Sợi âm ARN của
hệ gen có độ dài từ 10000 – 15000 nucleotid, mặc dù nối với nhau thành một
sợi ARN liên tục, nhưng hệ gen lại chia thành 6 – 8 phân đoạn (segment), mỗi
phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm mã hoá cho mỗi loại proteine của
virus (Lê Thanh Hoà, 2004).
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, đôi khi có dạng hình khối kéo
dài, đường kính khoảng 80 – 120 nm.
Vỏ virus có bản chất là proteine, có nguồn gốc từ tế bào mà virus đã gây
nhiễm, bao gồm một số proteine được glycosyl hoá (glycoproteine) và một số
proteine dạng trần không được glycosyl hoá.
Proteine bề mặt có cấu trúc từ các loại glycoproteine, trong đó là những
gai, mấu có độ dài 10 – 14 nm, đường kính 4 – 6 nm.
Nuclecapsid bao bọc lấy lõi virus là tập hợp của nhiều proteine phân
đoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130 – 150 nm, tạo vòm (loop) ở giới
hạn của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối các peptid.
9
2.2.1.1. Hình thái và cấu trúc
Vỏ bọc virus là glycoproteine có các kháng nguyên bề mặt như: loại
proteine gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi là Haemagglutinin (HA) và loại
proteine có chức năng là một loại enzym phá huỷ thụ thể của virus có tên gọi
ARN hệ gen. M1 có vai trò tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy mầm của
virus. Còn M2 có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập
vào tế bào cảm nhiễm.
11
Phân đoạn 8 có độ dài ổn định (890 nucleotid) mã hoá cho 2 tiểu phần
proteine cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân ra kết hợp
với M1, kích thích phiên mã và chống interferon.
2.2.1.2. Thành phần hoá học của virus
ARN của virus chiếm 0,8 – 1,1%; proteine chiếm 70 – 75%; lipid chiếm 20 –
24%; hidratcacbon chiếm 5 – 8% khối lượng hạt virus. Lipid tập trung ở màng
virus chủ yếu là lipid có gốc phosphor, số còn lại là cholesterol, glucolipid và một
ít hydrate carbon gồm các loại galactose, ribose, fructose, glucosamin. Thành
phần proteine chính của virus chủ yếu là glycoproteine (Lê Văn Năm, 2004).
2.2.2. Quá trình tái sản của virus
Murphy và cs (1987), Kingsbury (1985) đã mô tả quá trình sinh sản của
virus như sau:
Virus xâm nhập vào tế bào nhờ proteine HA thông qua hiện tượng ẩm bào
(endocytosis) qua cơ chế trung gian tiếp hợp thụ thể. Thụ thể liên kết tế bào
của virus cúm có bản chất là axit sialic cắm sâu vào glycproteine hay
glycolipit của vỏ virus. Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ pH được điều hoà
để giảm xuống mức thấp nhất sẽ xảy ra quá trình hợp nhất màng tế bào và
virus. Sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự cắt rời proteine HA nhờ enzyme
peptidase và enzyme protease của tế bào. Lúc này nucleocapsid của virus đi
vào trong nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào, chuẩn bị quá trình tổng
hợp ARN nguyên liệu hệ gen cho các virion mới.
Hệ thống enzyme sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN hệ gen
được mã hoá ở 10 – 13 nucleotit đầu 5’ với nguyên liệu mã hoá lấy từ ARN tế
bào, nhờ vào hoạt tính enzyme PB2 của virus. ARN thông tin của virus sao
chép trong nhân được chuyển vận ra nguyên sinh chất, được ribosome trợ
giúp tổng hợp nên proteine cấu trúc và proteine nguyên liệu. Proteine H, N,
Đột biến do tái tổ hợp (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất kháng
nguyên – antigenic shift) đột biến này là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra định kì
trong đó có sự sắp xếp lại các nucleotic do sự trộn lẫn 2 bộ gen của 2 virus
cúm khác nhau. Điều đó tạo nên những sai khác về bộ gen của virus đời con
so với virus đời bố mẹ. Khi nhiều virus khác nhau cùng xâm nhập vào một tế
bào chủ, các thế hệ của virus được sinh ra sau có thể được sinh ra từ sự tái tổ
13
hợp của các gen của bố mẹ. Do kiểu gen của virus cúm type A gồm 8 phân
đoạn nên từ hai virus bố mẹ có thể xuất hiện 256 tổ hợp của các virus thế hệ
sau (Chu Thị Thơm, 2006).
2.2.4. Sức đề kháng của virus
Virus cúm gà có trong hầu hết các cơ quan nội tạng của gà bị bệnh kể cả
máu, tuỷ xương, nước dãi, phân, lông
Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đề kháng của virus cúm
gà. Virus thường sống lâu hơn trong không khí có độ ẩm tương đối thấp,
trong phân ở điều kiện nhiệt độ thấp và độ ẩm cao.
Virus có thể sống lâu trong chuồng gà tới 35 ngày, trong phân gia cầm
bệnh đến 3 tháng.
Virus cúm dễ dàng bị tiêu diệt ở nhiệt độ 60 – 70
o
C trong 5 phút. Trong tủ
lạnh và tủ đá virus sống được hàng tháng.
Những chất sát trùng thông thường đều diệt được virus cúm gia cầm như:
xút 2%, formol 3%, crezyl 5%, chloraminB 3%, cồn 70 – 90
o
, vôi bột hoặc
nước vôi 10%, nước xà phòng đặc Người ta có thể sử dụng các chất này để
tổng tẩy uế chồng trại, dụng cụ chăn nuôi và các thiết bị chăn nuôi khi cơ sở
bị đe dọa (Cẩm nang phòng bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao, 2007).
2.2.5. Độc lực của virus
hiệu của các thụ cảm quan giống như virus cúm gà lại chủ yếu gây nhiễm các
tế bào có lông. Mặc dù các virus cúm gà có thể gây nhiễm các tế bào trên
đường hô hấp của con người nhưng sự nhân lên của chúng trên các tế bào ấy lại
bị hạn chế do tính hướng tế bào không tối ưu (Chu Thị Thơm, 2006).
2.2.6. Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm
Phần lớn các chủng virus có thể phát triển ổn định ở trứng gà có phôi hoặc
ở các loại tế bào mầm. Đây là điểm quan trọng để nhân giống virus trong
phòng thí nghiệm để nghiên cứu, bảo tồn cũng như để sản xuất vacxin. Virus
cúm type A chỉ phát triển trong môi trường tế bào không có huyết thanh chứa
trypsin. Một số hệ thống tế bào, kể cả dòng tế bào MDCK (Maxdin Darby
Canine Kidney) cần được nuôi cấy trong môi trường không có huyết thanh có
chứa trypsin để tách các proteine HA của virus giúp cho việc hình thành các
“khuẩn lạc” (hay plaque – “nốt điểm”). Ngược lại một số loại môi trường tế
15
bào như tế bào gan HepG2 của người, tế bào thận phôi lợn ESK và tế bào
thận gà CK đã được chứng minh là chứa nhiều hứa hẹn và nhạy cảm hơn với
virus cúm (Cẩm nang phòng chống bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao, 2007).
2.3. Miễn dịch học chống bệnh cúm gia cầm
Hệ thống miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh ở gia
súc, gia cầm, giúp cơ thể động vật có khả năng chống lại sự xâm nhập của
mầm bệnh ở một mức độ nhất định.
Miễn dịch (immunity) là khả năng của cơ thể không cảm thụ đối với một
tác nhân có hại cho cơ thể (trong đó có vi sinh vật gây bệnh) ở một mức độ
nhất định. Những yếu tố bảo vệ cơ thể chống cảm nhiễm mầm bệnh cúm gà
bao gồm nhiều yếu tố bên ngoài và bên trong cơ thể. Có thể chia các yếu tố
thành hai nhóm, miễn dịch đặc hiệu và miễn dịch không đặc hiệu (Phạm
Hồng Sơn và Bùi Quang Anh, 2006).
2.3.1. Miễn dịch không đặc hiệu
Miễn dịch không đặc hiệu (còn gọi là miễn dịch bẩm sinh hay là miễn
dịch tự nhiên) là sức đề kháng bẩm sinh thường là thuộc tính chung của
mẫn cảm). Miễn dịch đặc hiệu được chia làm hai nhóm: miễn dịch dịch thể và
miễn dịch qua trung gian tế bào (Phạm Hồng Sơn và Bùi Quang Anh, 2006).
2.3.2.1. Miễn dịch dịch thể
Miễn dịch dịch thể do các tế bào lympho B đảm nhiệm, các lympho bào
bắt nguồn từ tế bào nguồn tuỷ xương đi tới túi Fabricius. Ở đây chúng được
biệt hoá để trở thành các lympho B, sau đó di chuyển đến các cơ quan lympho
ngoại biên.
2.3.2.2. Miễn dịch qua trung gian tế bào
Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào
lympo T đảm nhiệm. Các lympo bào bắt nguồn từ tuỷ xương di chuyển đến
tuyến ức, tại đây chúng được huấn luyện và biệt hoá để thành tiền lympo T,
rồi chuyển thành lympo T chưa chín, rồi thành lympo T chín. Từ tuyến ức
chúng di chuyển đến các cơ quan lympo ngoại biên như các hạch lâm ba, các
mảng payer ở ruột hoặc tới lách. Khi đại thực bào đưa thông tin đến các
17
lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một
kháng thể đặc hiệu gọi là kháng thể tế bào.
Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sự
chăm sóc nuôi dưỡng nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất
kháng nguyên.
Bản chất kháng nguyên: kháng nguyên có bản chất proteine và có tính
kháng nguyên cao sẽ sinh kháng thể đặc hiệu.
Đường xâm nhập kháng nguyên: tốt nhất là dưới da hoặc trong bắp thịt.
Liều lượng kháng nguyên: khi đưa vào một liều lượng vừa đủ sẽ kích
thích cơ thể sinh miễn dịch ở mức độ tối đa mà không gây ức chế hay tê liệt
miễn dịch.
Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: tiêm nhắc lại vacxin có tác dụng
tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và duy trì được lâu hơn.
Chất bổ trợ: chất bổ trợ khi đưa vào vacxin với mục đích giữ và duy trì
trời có tỉ lệ nhiễm cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh, 2004).
Ở các loài chim hoang dã mà đặc biệt là vịt trời có sự kết hợp các kháng
nguyên bề mặt H và N của các subtype virus cúm A. Những virus này không
gây độc với vật chủ, chúng được nhân lên ở đường ruột khiến cho các loài
này mang virus và là nguồn gieo rắc mầm bệnh cho các loài khác đặc biệt là
gia cầm.
Vịt nuôi có thể là nguồn tàng trữ thầm lặng đối với virus cúm H5N1 gây
bệnh thể độc lực cao cho gà vì vật nuôi nhiễm virus, gà bệnh bài thải một
lượng virus xấp xỉ nhau nhưng ở vịt nuôi không thể hiện các triệu chứng lâm
sàng bệnh lý. Việc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở những vùng chăn
nuôi vịt thả và nguồn nước dùng chung cho các hoạt động chăn nuôi. Trên
thực tế, trong một khu vực có thể có một số đàn gia cầm bị nhiễm virus và
phát bệnh còn một số đàn lại không phát bệnh mà chỉ có phản ứng huyết
thanh dương tính. Hiện tượng này xảy ra do virus bài thải từ vịt rất dễ bị thay
đổi tính kháng nguyên. Những đàn vịt có phản ứng huyết thanh dương tính đã
19
nhiễm virus H5N1 không cường độc thải ra từ vịt bệnh hoặc vịt nhiễm
virus H5N1 không độc (Tô Long Thành, 2005).
2.4.3. Đường lây truyền bệnh
Truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khoẻ. Lây trực tiếp do con
vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các hạt khí dung
được thải ra từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống có chứa
mầm bệnh.
Lây lan gián tiếp qua các khí dung trong không khí với khoảng cách
gần hoặc những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân
hoặc lây lan qua chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, phương
tiện vận chuyển, côn trùng.
Truyền gián tiếp thông qua không khí, gió đưa bụi phân có chứa virus
đi xa, dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống, phân rác, hoặc tay chân, giày
dép của người có tiếp xúc với gia cầm mắc bệnh và vô tình truyền mầm
không có triệu chứng lâm sàng.
Vịt và ngỗng nuôi có triệu chứng ủ rủ, ỉa chảy giống như gà đẻ mắc bệnh,
các xoang thường có hiện tượng sưng, tích nước.
Vịt nhiễm virus cúm gia cầm và bài thải virus ra ngoài môi trường trong
khi không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc bệnh tích (Nguyễn Xuân
Bình, 1999).
2.6. Bệnh tích
Sau khi gà chết xác nhanh cứng.
Xác chết đỏ và có xung huyết rõ ở các tổ chức dưới da.
Trong cơ quan nội tạng và mỡ vùng bụng có những đám máu tạo thành
cục hoặc lan rộng bằng hạt đỗ hoặc nhỏ hơn.
Dạ dày tuyến và mề xuất huyết. Đây là bệnh tích đặc trưng nhất của bệnh.
Đôi khi bệnh tích lan từ dạ dày tuyến và mề xuống ruột non. Thể hiện
bằng những điểm vàng xám trên niêm mạc và ngay cả trên gan, lách và thận.
21
Một số trường hợp có viêm fibrin (viêm dính màng tim với tim và viêm
dính phúc mạc với xoang bụng). Bệnh tích này xuất hiện nhiều khi bệnh khởi
đầu với triệu chứng đường hô hấp hoặc bệnh kéo dài sau 4 – 7 ngày (Nguyễn
Xuân Bình, 1999).
2.7. Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định bệnh cúm gia cầm chủ yếu dựa vào việc quan sát triệu
chứng lâm sàng, mổ khám bệnh tích, phân lập và giám định virus.
Dựa vào điều kiện của từng vùng, cơ sở mà có thể sử dụng một phương
pháp hoặc kết hợp các phương pháp trên để đưa lại kết quả chính xác nhất.
2.7.1. Chẩn đoán dịch tễ học, triệu chứng và bệnh tích
2.7.1.1. Chẩn đoán dịch tễ học
* Bệnh cúm gia cầm có tính lây lan rất nhanh và mạnh.
* Chim hoang được coi là nguồn truyền lây bệnh. Chim mang mầm bệnh
truyền virus qua nước dãi, dịch nước mũi và phân.
* Chim và gia cầm mẫn cảm có thể bị nhiễm bệnh khi tiếp xúc trực tiếp
lập lần
2
Phân
lập
virus
Kết luận bệnh
(+) (-)
(-) (+)
2.7.2. Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
gần giống như:
Bệnh Newcastle giai đoạn mãn tính cũng có triệu chứng thần kinh, thở
khò khè và bệnh tích cũng xuất huyết dạ dày tuyến và mề. Nhưng bệnh
Newcastle tốc độ lây lan chậm hơn và triệu chứng ban đầu ít có dấu hiệu về
đường hô hấp mà chỉ biểu hiện ở đường tiêu hoá như tiêu chảy phân trắng
xanh.
Bệnh CRD cũng biểu hiện triệu chứng hô hấp, thở khò khè. Nhưng
bệnh tích không có xuất huyết ở dạ dày tuyến và mề. Khi dùng kháng sinh
Tylosin, Spiramicin điều trị bệnh khỏi.
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm và viêm thanh phế quản truyền
nhiễm cũng biểu hiện ở triệu chứng hô hấp thở khó, nhưng bệnh ít chết và
bệnh tích không xuất huyết dạ dày tuyến và mề.
Bệnh Coryza: bệnh cũng sưng phù đầu, chảy nước mũi, nước mắt
nhưng bệnh xảy ra và lây lan với tốc độ chậm tỉ lệ chết ít. Điều trị bằng kháng
sinh tiamulin, tylosin, streptomycin bệnh khỏi nhanh (Nguyễn Xuân Bình,
1999).
Phân lập và giám định virus (lấy bệnh phẩm từ những con gà bệnh và
còn sống). Làm phản ứng huyết thanh học như: Phản ứng ngăn trở ngưng kết
hồng cầu (đây là phản ứng đặc biệt quan trọng để phân biệt với bệnh
Newcastle), phản ứng trung hoà, phản ứng kết tủa và khuếch tán trên thạch.
kháng huyết thanh chuẩn càng lớn.
Phương pháp RT-PCR
ARN virus có tính đặc hiệu cao đặc trưng cho loài và có thể dùng làm
khuôn tổng hợp in vitro phân tử ADN tương bù một sợi nhờ enzym sao chép
ngược (RT: reverse transcriptase). Sau đó ADN một sợi được tách khỏi ARN
khuôn và lại làm khuôn để tổng hợp sợi ADN tương bù với nó nhờ enzyme
DNA-polymeraza. Nhờ phản ứng chuổi polymeraza (PCR: polymeraza chain
reaction) đoạn ADN có kích thước đặc hiệu phù hợp với một cặp mồi
oligonucleotid được tổng hợp. Tổ hợp hai phản ứng trên được gọi là RT-PCR
(Phạm Hồng Sơn và Bùi Quang Anh, 2004).
25