Nghiên cứu bệnh sán lá gan trâu bò trên địa bàn huyện thăng bình, tỉnh quảng nam và hiệu quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ - Pdf 22

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp là ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, hằng
năm sản phẩm từ nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập quốc dân.
Trong đó, chăn nuôi là một trong những ngành chiếm vị trí chủ đạo, những
năm gần đây tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, với tính chất ngày một
nguy hiểm hơn. Cúm gia cầm xảy ra và lây lan rộng, tiếp đến là bệnh tai xanh
ở lợn đã gây thiệt hại to lớn cho người chăn nuôi.
Bên cạnh với dịch bệnh, thì giá thức ăn công nghiệp ngày một gia
tăng, sản phẩm của ngành chăn nuôi lại thấp, gây khó khăn không nhỏ cho
người chăn nuôi. Trong khi đó, chăn nuôi trâu bò chi phí chăn nuôi thấp,
mang lại lợi nhuận cao do thức ăn trâu bò được tận dụng từ nhiều ngành
khác, sản phẩm từ trâu bò như thịt, sữa là những sản phẩm có giá trị dinh
dưỡng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng. Phân trâu bò có thể sử dụng
trong ngành trồng trọt.
Đứng trước những thuận lợi và khó khăn đó người chăn nuôi có xu
hướng phát triển thêm ngành chăn nuôi trâu, bò. Ngày nay, với trình độ dân
trí ngày một nâng cao, người nông dân biết áp dụng những tiến bộ kỹ thuật
vào chăn nuôi, nhưng dịch bệnh vẫn xảy ra, trong đó phải kể đến bệnh ký
sinh trùng.
Khi nói đến bệnh ký sinh trùng, không thể không nhắc đến bệnh sán lá
gan, một bệnh có phân bố rộng ở nhiều nước trên thế giới như Liên Xô,
Hunggari, Ý, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… Ở Việt
Nam loài gây bệnh được xác định chủ yếu là Fasciola gigantica, có phân bố
rộng trong cả nước, gây bệnh chủ yếu ở các loài gia súc nhai lại với tỷ lệ khá
cao và dao động tuỳ theo vùng, ngoài ra còn lây nhiễm cả trên người. Chu
trình phát triển của sán lá gan lại thông qua vật chủ trung gian là các loài ốc
nước ngọt, các loài ốc này phân bố ở khắp nơi do đó mầm bệnh phát tán
nhanh.
Bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn, bệnh tiến triển ở thể mạn tính làm súc
vật gầy còm, sút cân, kiệt sức. Gia súc cho sữa mắc bệnh làm sản lượng sữa
1

Fasciola gigantica. Đến năm 1882 Thomas và Leue Kark lập được chu trình
hoàn chỉnh của sán lá gan [9].
Bệnh sán lá gan phân bố rộng ở nhiều nước trên thế giới như
Achentina, Chilê, Cu Ba, Liên Xô, Hungary, Ý, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản,
Indonexia, Ai Cập, Cônggô, Kênia… [7] Ở các nước Châu Âu loài thường
gặp là Fasciola heptica, còn ở khu vực Đông Nam Á loài thường gặp là
Fasciola gigantica phân bố rộng ở Thái Lan, Malaysia, Singapo, Indonesia…
Theo kết quả điều tra của Hillger và cộng sự (1996) về tình hình nhiễm
sán lá gan ở bò tại Bolivia bằng phản ứng Elisa, cho kết quả 58% dương tính
(+).
Theo tài liệu của FAO (1994) trên thế giới hàng năm có khoảng 300
triệu trâu, bò và 250 triệu dê, cừu bị nhiễm sán lá gan [12]
Spithill và cộng sự (1999) cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở một số
nước Đông Nam Á là rất cao như Campuchia 35%, Thái Lan 15 - 85%,
Philippin 34 - 100%, Indonexia 25 - 90%.
2.1.2. Tình hình nghiên cứu sán lá gan ở Việt Nam.
Các nghiên cứu cho thấy trâu, bò nước ta chủ yếu nhiễm Fasciola
gigantica. Houdemer (1938) cho biết ở Việt Nam 64,7% trâu nhiễm sán lá
gan, bò 23,5%, cừu 52,9%, dê 35%, thỏ 14,8% [8], [10].
3
Trịnh văn Thịnh (1962) cho là 50 - 70% trâu bò nước ta nhiễm sán lá
gan. Theo Phan Địch Lân, Nguyễn Công Phúc, Trần Tuấn Sa (1963) ở lò sát
sinh khu gang thép Thái Nguyên năm 1961 mổ 1.043 trâu thì số gan bị bỏ
toàn bộ vì sán lá gan là 589 (tức trên 57 %) [8], [10].
Dorozd (1967) thấy Fasciola gigantica ở 76,9% trâu được kiểm tra,
36% bò, 30% dê. Nhưng chỉ thấy Fasciola hepatica ở một trâu ở vùng núi
Tuyên Quang.
Theo Phan Huy Giáp (1969) trâu, bò ở Hà Giang bị nhiễm sán lá gan là
79 - 96%. Những điều tra của viện khoa học nông nghiệp (1970) cho biết
72,7% trâu, bò kiểm tra bị nhiễm Fasciola gigantica.

một số điểm đại diện cho Tây Nguyên với các tỉnh phía Bắc thì tỷ lệ mắc
bệnh ở Tây Nguyên cao hơn. Theo Phan Địch Lân (1979 - 1984) tỷ lệ nhiễm
sán lá gan của bò ở nông trường Sao Đỏ là 25%, nông trường Mộc Châu là
32,5%. Cũng theo các tác giả này qua mổ khám 62 bò tại các điểm điều tra và
một số lò mổ, trong đó có 36 bò bị nhiễm sán lá gan [19].
Theo Nguyễn Đức Tân và cộng sự (2008), qua thu thập và
nghiên cứu 335 mẫu phân bò, bê và 102 mẫu phân trâu, tại 3 tỉnh Khánh Hoà,
Phú Yên, Bình Định. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở bò là 47,16% (158/335),
trâu 33,33% (34/102). Trong đó ở Bình Định tỷ lệ nhiễm ở bò là 43,36%.
Khánh Hoà 47,5%, Phú Yên 59,32%, trâu ở Khánh Hoà 40,81%, Phú Yên
26,41% [12].
2.2. Vị trí của sán lá gan trong hệ thống phân loại
Sán lá gan Fasciola hepatica, F. gigantica thuộc:
Ngành sán dẹt : Plathelminthes
Lớp sán lá : Trematoda
Phân lớp : Prosostomidea
Bộ : Fasciolida
Phân bộ : Fasciolata
Họ : Fasciolidae
Phân họ : Fasciolinae stiles
Giống : Fasciola
Loài : Fasciola hepatica (1758)
Fasciola gigantica (1858) [3], [4], [13].
5
2.3. Hình thái và chu trình phát triển của sán lá gan Fasciola hepatica, F.
gigantica.
2.3.1. Fasciola gigantica
2.3.1.1. Hình thái của Fasciola gigantica
Fasciola gigantica gặp phổ biến ở nước ta, sán có hình lá kích thước
dài khoảng từ 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm. Có màu đỏ nâu hoặc nâu nhạt, hai

tạo thành kén Aldolescaria bám vào thực vật thủy sinh. Gia súc ăn phải kén
vào trong cơ thể, ấu trùng di hành về gan, ống dẫn mật và phát triển thành sán
trưởng thành, sán trưởng thành đẻ trứng và vòng đời lại tiếp tục [5], [10].
Thời gian từ khi gia súc ăn phải kén cho đến khi phát triển thành sán
trưởng thành là 3 - 4 tháng.
2.3.1.3. Đặc điểm ấu trùng
Mao ấu (Miracidium) gồm có túi đỉnh ở phía đầu, hai bên có tuyến
đỉnh, có cơ quan bài tiết, mắt mao ấu nằm ở mặt lưng, xung quanh được bao
phủ lông. Mao ấu bơi lội được trong nước
Bào ấu (Sporocysts) là dạng ấu trùng thứ hai của sán lá, bào ấu có dạng
hình túi được bao bởi mang mỏng, có ống ruột và hầu, ngoài ra trong bào ấu
còn có các đám phôi, các đám phôi này phát triển thành lôi ấu (redia).
Lôi ấu (Redia) có dạng hình giun, hoạt động mạnh và đã xuất hiện một
số nét của sán trưởng thành. Redia có hai thế hệ : Redia I được phát triển từ
bào ấu, Redia II được phát triển từ Redia I.
Vĩ ấu (Cercaria) cấu tạo gồm thân và đuôi, Cercaria còn non phần thân
dài hơn, Cercaria già phần đuôi dài hơn, Cercaria mang phần nào đặc điểm
của sán trưởng thành [8]
Cercaria có kích thước dài 0,28 - 0,3 mm, rộng 0,23 mm, bơi tự do
trong nước. Vài giờ sau khi ra khỏi cơ thể ốc, cercaria rụng đuôi và tiết chất
nhờn dính, sau vài phút chất nhờn này đông đặc lại thành vỏ bọc chắc chắn
màu nâu, đường kính 0,2 - 0,25 mm. Lúc này Cercaria hoàn toàn biến thành
kén Aldolescaria hình khối tròn có 4 lớp vỏ, bên trong chứa phôi hoạt động,
phôi đã có giác miệng, giác bụng rõ, ruột phân nhánh. Aldolescaria ở trong
nước hoặc bám vào cây cỏ xung quanh ở những vùng lầy lội, ẩm thấp. Trâu,
7
bò, dê, cừu… nuốt phải Aldolescaria, ở trong ống tiêu hoá lớp vỏ ngoài bị
phân huỷ ấu trùng đựơc giải phóng [1], [3].
2.3.2. Fasciola hepatica
2.3.2.1. Hình thái của F. hepatica

hàng năm.
Theo Trịnh Văn Thịnh, Phạm Văn Khuê (1978) cho biết trâu bò từ 13 -
24 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 30%, trên 24 tháng tuổi nhiễm 47% và sán có thể
sống trong cơ thể gia súc từ 3 - 11 năm. Qua điều tra ở 26 tỉnh phía Bắc nước
ta dưới 3 tuổi tỷ lệ nhiễm từ 13,7 - 19,62%, 3 - 5 tuổi tỷ lệ nhiễm 22,51 -
34,2%, 5 tuổi tỷ lệ nhiễm 31,68 – 61,32% [6], [11].
Trên đàn trâu già loại thải tỷ lệ nhiễm sán lá gan cao hơn hẳn; những
trâu trên 10 tuổi, hoặc những trâu quá gầy yếu do bị sán xâm nhiễm nặng
trong nhiều năm. Lò mổ Tuyên Quang năm 1964 có 392 trâu có sán lá gan
trong tổng số 452 trâu mổ, chiếm tỷ lệ 84,6%. Trong khi đó đàn trâu cày kéo
lứa tuổi dưới 5 chỉ nhiễm 39% [11].
2.4.4. Vùng nhiễm bệnh
Bệnh sán lá gan phân bố rộng khắp các vùng trong cả nước, tuy nhiên
tỷ lệ nhiễm có sự khác nhau giữa các vùng. Trâu bò nước ta bị nhiễm nhiều,
mắc bệnh nặng ở vùng đồng bằng, trung du, nhất là những nơi lầy lội ẩm
thấp, ngập quanh năm. Những nơi không luân phiên cải tạo bãi chăn, không
quản lý phân chặt chẽ trên đồng cỏ [3], [1].
Theo kết quả điều tra 4 vùng của 26 tỉnh phía Bắc thì tỷ lệ nhiễm có sự
khác nhau. Theo một kết quả điều tra khác tỷ lệ nhiễm giữa các vùng như sau:
ở 11 tỉnh thuộc vùng núi tỷ lệ nhiễm sán là 39%, 4 tỉnh thuộc trung du tỷ lệ
nhiễm 42,2%, 5 tỉnh thuộc đồng bằng tỷ lệ nhiễm 57, 6 tỉnh thuộc vùng ven
biển tỷ lệ nhiễm 36,7% [6].
2.4.5. Mùa mắc bệnh
Gia súc mắc bệnh quanh năm, nhưng thường nặng vào mùa hè. Vì mùa
hè có điều kiện nhiệt độ thích hợp cho trứng phát triển, có mưa tạo điều kiện
cho ký chủ trung gian phát triển mạnh. Từ mùa hè sang mùa đông sán lá gan
10
hoàn thành vòng đời, gia súc bị bệnh thường phát bệnh vào mùa đông. Khi
thời tiết giá rét, cỏ thiếu, nguồn thức ăn dữ trữ khan hiếm, gia súc làm việc
nhiều dẫn đến sức đề kháng giảm [5]. Qua theo dõi 12 tháng trong năm đều

vào ốc vật chủ trung gian và tiếp tục phát triển. Mao ấu có thể tồn tại ở môi
trường ngoài không quá 40 giờ. Nếu không có ốc vật chủ trung gian mao ấu
chuyển động chậm dần và chết. Trong cơ thể ốc mao ấu sinh sản vô tính
thành bào ấu, bào ấu thành lôi ấu, lôi ấu thành vĩ ấu. Sau đó, vĩ ấu chui ra
11
khỏi cơ thể ốc, rụng đuôi thành kén Aldolescaria sau 2 giờ. Kén bám trên cây
cỏ thủy sinh, trâu bò ăn phải kén thì nhiễm sán.
Sự phân bố của ốc vật chủ trung gian ở khắp các vùng, tuy nhiên có sự
khác nhau về tỷ lệ giữa các vùng, và các mùa trong năm. Ở vùng đồng bằng
ốc L. viridis chiếm 42
±
11,79%, L. swinhoei 58
±

8,99%. Ở trung du L.
viridis 66
±
7,72%, L. swinhoei 33,5
±
7,72%. Vụ đông xuân L. viridis 123
±
51,14 con /m
2
, L. swinhoei 146,66
±
46,96 ốc/m
2
. Vụ hè thu L. viridis 64
±


tiếp tục tăng kích thước phát triển thành dạng trưởng thành. Những sán trưởng
thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật, bằng gai cuticun trên cơ
12
thể, gây viêm ống mật. Sán có kích thước lớn nên khi ký sinh với số lượng
lớn thường gây tắt ống dẫn mật, gây hoàng đản.
Trong khi ký sinh sán thường xuyên tiết độc tố, làm biến đổi thành ống
dẫn mật và nhu mô gan. Độc tố thấm vào máu gây trúng độc toàn thân, độc tố
còn tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm thành mạch dẫn đến rối
loạn dinh dưỡng của cơ thể. Do tác động của độc tố nên tiểu thuỳ gan có hiện
tượng thấm nhiễm huyết thanh và tế bào
Như vậy tác động bệnh lý của sán dẫn tới tăng sinh tổ chức liên kết,
thoái hoá nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan, làm chức năng bình thường của
gan bị phá huỷ. Quá trình này dẫn đến hàng loạt phản ứng như rối loạn cơ
năng dạ dày, ruột, thiếu máu, gầy dần, suy nhược.
Trong khi di hành ấu trùng còn đem theo nhiều loại vi trùng vào gan,
máu và những cơ quan khác làm bệnh nặng thêm và có thể phát sinh bệnh
truyền nhiễm [14], [23].
2.6. Triệu chứng và bệnh tích
2.6.1. Triệu chứng
Bệnh sán lá gan biểu hiện ở mức độ khác nhau và phụ thuộc vào số
lượng sán, tình trạng sức khoẻ của súc vật, tuổi, mùa vụ và tình trạng quản lý,
chăm sóc. Bệnh thường ở hai thể, cấp tính và mạn tính.
* Thể cấp tính
Ít xảy ra, thường gặp ở giai đoạn sán non di hành trong cơ thể và khi
nuôi dưỡng không đảm bảo chất lượng, số lượng, thiếu vitamin, canxi…
Biểu hiện: Con vật suy nhược, kém ăn, ỉa chảy, chướng bụng, thiếu
máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh (quay cuồng), kiệt sức. Con
vật có thể chết do xuất huyết nặng, trúng độc, suy nhược toàn thân và ghép
với bệnh khác.
13

14
Khả năng chống đỡ bệnh tật giảm, mở đường cho các bệnh truyền
nhiễm xâm nhập [1,3].
2.7. Chẩn đoán
2.7.1. Chẩn đoán khi gia súc còn sống
2.7.1.1. Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào tính chất dịch tễ học, triệu chứng để chẩn đoán. Con vật bị
bệnh Fasciola thường bị kiệt sức, ỉa chảy, ăn ít, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù
dễ rụng… tuy nhiên thường không chính xác, thời gian kéo dài do phải quan
sát nhiều ngày.
2.7.1.2. Chẩn đoán bằng phương pháp xét nghiệm phân
Xét nghiệm phân của gia súc bằng phương pháp lắng cặn để tìm trứng,
phương pháp này dùng phổ biến. Tuy nhiên khi xét nghiêm phân để chẩn
đoán cần phân biệt trứng sán lá gan Fasciola .sp với trứng sán lá dạ cỏ
Paramphistomum .sp.
2.7.1.3. Chẩn đoán bằng kháng nguyên
Kháng nguyên được pha chế từ sán lá gan trưởng thành, toàn bộ cơ thể
sán đem nghiền nhỏ, sấy khô pha với nước sinh lý. Độ pha loãng 1/200 đến
1/300, tiêm 0,2 ml vào dưới tai hoặc khấu đuôi. Sau khi tiêm 10 - 15 phút
theo dõi sự biến đổi ở nơi tiêm. Nếu nơi tiêm sưng to, xung quanh đỏ đường
kính khoảng 0,2 - 4 cm thì dương tính, ngược lại là âm tính.
Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi kỹ thuật cao, tốn kém [5], [1].
2.7.2. Chẩn đoán gia súc chết
Phương pháp chẩn đoán sau khi con vật chết là chính xác nhất. Phương
pháp này có thể tìm thấy sán ở tất cả các cơ quan, bằng cách mổ khám toàn
diện tìm sán lá gan.
2.8. Phòng trị bệnh
2.8.1. Phòng bệnh
2.8.1.1. phòng bệnh bằng cách sử dụng thuốc
15

dụng để chứa thức ăn và định kỳ dùng nước sôi tiêu độc.
Đối với đồng cỏ, bãi chăn trước hết phải giữ khô ráo tránh nước đọng,
tức là tạo điều kiện bất lợi cho sự phát triển của trứng, ấu trùng và ký chủ
trung gian trên đồng cỏ, bằng cách luân phiên chăn dắt trên đồng cỏ, 45 - 60
ngày phải thay đổi bãi chăn, cỏ cắt về phải phơi khô trước khi cho gia súc ăn.
Việc chăn dắt luân phiên còn tạo điều kiện cho việc vệ sinh đồng cỏ [2].
2.8.1.3. Diệt ốc vật chủ trung gian
Tháo cạn nước, làm khô cống rãnh, cày bừa ruộng đất canh tác để
phơi nắng, làm khô những đồng cỏ bãi chăn. Vớt bèo, cây thuỷ sinh ở những
ao, hồ, kênh, mương [1], [3], [8].
Dùng dung dịch CuSO
4
1/5000 hoặc Amoniac sunfat mỗi năm 2 lần,
trung bình 5lít dung dịch/m
2
đồng cỏ để diệt ốc. Phát triển chăn nuôi những
súc vật ăn ký chủ trung gian như vịt, ngan, ngỗng… [2]
2.8.1.4. Chăm sóc nuôi dưỡng
Cung cấp thức ăn đủ cả về số lượng và chất lượng để nâng cao sức đề
kháng của vật nuôi. Không cho gia súc ăn cỏ cắt ở những vùng lầy lội, không
cho súc vật uống nước nơi ao tù, cống rãnh. Những cống rãnh gần nơi uống
nước rào kín, giữ khô ráo, sạch sẽ. Không cho gia súc uống nước có chứa
phân, bùn, xác chết. Nếu dùng nước giếng, thì địa điểm đào giếng phải xa nhà
chứa phân, hố rãnh, chuồng gia súc [1,3]
2.8.2. Trị bệnh
Hiện nay có rất nhiều loại thuốc dùng để tẩy sán lá gan, có thể dùng
một trong những loại thuốc sau
- Vime – Ono : 1 g/10 – 15 kg P, uống một liều duy nhất
- Vime - Fasci : 1 ml/30 - 35 kg P
- Han – Dertil – B : 1viên/50 kg P

ra 2 trường hợp nhiễm sán lá gan ở người [25 ].Theo báo cáo của giáo sư Trần
Vinh Hiển tại hội nghị ký sinh trùng toàn quốc tháng 4/1998, năm 1991 đã
phát hiện ra 1 ca nhiễm bệnh ở người, tại bệnh viện Nguyễn Trãi, Thành Phố
Hồ Chí Minh. Từ đó đến năm 1997 đã phát hiện 125 ca, hầu hết bệnh nhân
19
đến từ các tỉnh Miền Trung Quảng Ngãi 21 ca, Bình Định 21 ca, Phú Yên 12
ca, Khánh Hoà 40 ca, Lâm Đồng 9 ca, còn lại ở Bến Tre và thành phố Hồ Chí
Minh, các bệnh nhân được chẩn đoán với kháng nguyên chế từ F. gigantica
cho (+) 100% [5].
Tính đến thời điểm cuối tháng 9/2006 toàn quốc có đến 47 tỉnh thành
có người mắc bệnh sán gan như Hà Giang, Lào Cai, Thanh Hoá, Nghệ An,
Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi…Trong đó đáng chú ý đến thực
trạng nhiễm sán lá gan tại khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, nhiều nhất là
các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai [9].
Tại Quảng Nam, theo Trung Tâm Phòng Chống Sốt Rét, Bướu Cổ cho
biết bệnh viện Đa Khoa Quảng Nam và bệnh viện Miền Núi Phía Bắc Quảng
Nam đã phát hiện 254 trường hợp mắc bệnh sán lá gan lớn. Sáu tháng đầu
năm 2006, bệnh viện miền núi Phía Bắc Quảng Nam đã phát hiện 196 trường
hợp, tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ chiếm 70%, người cao tuổi nhất mắc bệnh là 84
tuổi, nhỏ nhất là 7 tuổi. Theo số liệu thống kê của bệnh viện Đa Khoa Quảng
Nam Từ năm 2007 đến tháng 3/2009 có 263 ca.
Ở người bệnh sán lá trước tiên biểu hiện dưới một dạng nhiễm bệnh,
nhiễm độc trong giai đoạn xâm nhập, di hành của vĩ ấu. Gây các cơn đau
thượng vị và vùng hạ sườn phải, sốt nhẹ, sút cân, gây suy nhược. Giai đoạn
toàn phát đồng thời với sự có mặt của sán lá gan trưởng thành trong các ống
dẫn mật, gan, gây viêm túi mật mạn tính, nổi mẫn, viêm gan… [16], [22]. Nếu
ký sinh nhiều thì gây tổn thương các cơ quan mà nó ký sinh và di hành, tạo
điều kiện cho các bệnh khác phát sinh.
Như vậy, để hạn chế bệnh, phòng bệnh sán lá gan cho người, thì trước
hết phải hạn chế sự nhiễm kén ra môi trường, bằng cách phòng trị bệnh sán lá

21
Mật độ phân bố của ốc vật chủ trung gian, và tỷ lệ ốc nhiễm ấu trùng
sán lá gan ở môi trường tự nhiên
Sự phát triển của trứng sán lá gan trong các môi trường nuôi nước cất,
nước hồ, nước muối 0,9%, nước muối 0,5 %.
Sự phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc vật chủ trung gian
Tỷ lệ sạch sán sau tẩy
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp lấy mẫu
Lấy mẫu ngẫu nhiên từng cá thể, lấy mẫu mới thải ra, lấy nhiều điểm
trên đống phân, không lấy phần tiếp xúc với mặt đất. Mỗi mẫu lấy 10 – 15
gam, có đánh số thứ, thông tin cần thiết cho từng cá thể như tên chủ hộ, địa
chỉ, tuổi gia súc, loài gia súc tính biệt… Mẫu được bảo quản ở điều kiện thích
hợp để đưa về phòng thí nghiệm kiểm tra
3.4.2. Phương pháp xét nghiệm
Sử dụng phương pháp lắng cặn để kiểm tra phân
*Nguyên lý: Dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng của nước lã với tỷ trọng
của sán lá gan
* Các bước tiến hành:
Bước 1: Lấy 5 - 10 g phân của gia súc cần xét nghiệm cho vào cốc thủy
tinh, cho vào đó một lượng nước lã vừa phải và làm tan đều phân. Sau đó tiến
hành lọc qua rây lọc vào cốc tam giác, được dung dịch lọc.
Bước 2 Cho nước lã vào cốc chứa dung dịch một lượng tới vạch 500
ml, để chờ trong thời gian 15 - 30 phút sau đó đổ nước ra.
Đổ nước vào lần 2, đợi thời gian t2 rồi lại đổ nước ra. Mỗi mẫu tiến
hành đổ vào đổ ra từ 3 - 5 lần. Thời gian chờ t1 > t2 >…>tn (n từ 3 - 5 lần tùy
thuộc vào tính chất của phân)
Bước 3: Sau khi đổ nước cuối cùng ra, phần cặn lắng ta đổ vào đĩa petri
rồi nhỏ vào một giọt xanh methylen để nhuộm những cặn lọt qua rây khi lọc.
22

23
3.4.6.2. Nuôi ốc
Những ốc nuôi được chọn là những con to khoẻ, nguyên vẹn về hình
dạng. Ốc được cho vào các môi trường đựng trong các cốc thuỷ tinh, trong
chậu có bỏ bèo để ốc bám vào, thức ăn cho ốc là các loại rau. Thêm thức ăn
và nước đảm bảo lúc nào ốc cũng đủ no và ướt. Chậu được để nơi có ánh
sáng, hằng ngày kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm của phòng, pH của môi trường, theo
dõi sự phát triển của ốc và mổ ốc để kiểm tra sự phát triển của ấu trùng trong
ốc.
3.4.7. Kết quả xét nghiệm
*Xác định mẫu dương tính
Mẫu phân được quan sát trên 3 tiêu bản, nếu xuất hiện trứng sán lá gan thì
mẫu được quy định là dương tính (+), mẫu phân quan sát trên 3 tiêu bản
không thấy trứng sán lá gan xuất hiện thì mẫu được quy định là âm tính (-)
*Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm
Tỷ lệ nhiễm =
Số mẫu dương tính
x 100%
Tổng số mẫu xét nghiệm
Cường độ nhiễm được quy định như sau
+ Nhiễm nhẹ : 1-5 trứng/1 tiêu bản (+)
+ Nhiễm vừa : 6-10 trứng/1 tiêu bản (++)
+ Nhiễm nặng: > 10 trứng /1 tiêu bản (+++)
*Đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc điều trị
Sử dụng thuốc điều trị cho trâu, bò nhiễm sán lá gan theo liệu trình, sau
đó lấy mẫu phân đem xét nghiệm để đánh giá hiệu quả thuốc điều trị. Đánh
giá dựa vào tỷ lệ sạch
Tỷ lệ sạch sán =
Số trâu, bò sạch trứng sán
x 100%

Trích đoạn Hiệu quả sử dụng thuốc tẩy Tình hình nhiễm sán lá gan ở người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status