Nghiên cứu sán lá ruột lợn trên địa bàn huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế và kết quả thử nghiệm một số thuốc tẩy trừ - Pdf 22

PHẦN MỘT. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta là một nước nông nghiệp, thu nhập của người dân chủ yếu từ
trồng trọt và chăn nuôi, trong đó chăn nuôi lợn chiếm một phần đáng kể.
Trong mấy năm gần đây dịch bệnh ở lợn xảy ra thường xuyên gây thiệt hại
lớn cho người chăn nuôi mà chưa tìm được biện pháp khắc phục triệt để.
Nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra, người chăn nuôi đã áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật về con giống, thức ăn và thực hiện các biện pháp phòng
bệnh nhưng vẫn còn nhiều thiệt hại do dịch bệnh gây nên, trong đó phải kể
đến bệnh ký sinh trùng… Nếu các bệnh truyền nhiễm xảy ra nhanh và lây lan
mạnh thì bệnh ký sinh trùng lại có tính chất kéo dài, âm ỉ, làm giảm sức đề
kháng và mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập vào cơ thể vật chủ.
Điển hình là bệnh sán lá ruột lợn vì khi bị nhiễm bệnh không chỉ gây thiệt hại
kinh tế cho người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Bệnh phổ biến ở những nước nhiệt đới thuộc vùng Đông Nam Châu Á
như Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Indonesia… Ở nước ta lợn nhiễm từ 23 – 50,4%
với cường độ nhiễm từ 1 - 283 sán trong một cơ thể. Bệnh có ở khắp các vùng
trong nước nhưng phổ biến hơn cả là vùng đồng bằng 53,6%, vùng trung du
có giảm đi 38,1%, vùng núi lợn bị mắc ít hơn 8,3%. Lợn ăn sống các loại rau,
bèo dưới nước bị nhiễm nhiều hơn so với lợn ăn các loại rau trên cạn và ăn
chín.
Lợn nhiễm sán sinh trưởng, phát triển chậm. Trung bình mỗi sán làm
giảm 1,86g - 2,57g thịt trong một ngày. Lợn nái bị nhiễm thường gầy còm,
thiếu sữa làm lợn con dễ mắc bệnh ỉa phân trắng, ỉa chảy, còi cọc và tỷ lệ chết
cao khi cai sữa. Trứng được thải ra ngoài theo phân lợn gặp điều kiện thuận
lợi phát triển thành ấu trùng có khả năng gây nhiễm (kén Aldolescaria) bám
vào cây cỏ thủy sinh ở nước. Đó là nguồn gieo rắc mầm bệnh ra môi trường
và lây nhiễm cho người. Người nhiễm sán thiếu máu, gầy còm, đau bụng, ỉa
chảy, phù toàn thân. Nếu bệnh nặng có thể chết.
Ở Thừa Thiên Huế có mạng lưới sông, ao hồ, mương máng, ruộng nước
tương đối nhiều, đây là điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của vật chủ
trung gian gây bệnh. Bên cạnh đó người dân còn có thói quen sử dụng thực

Fasciolopsis buski trên thế giới khoảng 100 triệu người (Pedro, 1987) [3].
Đối với loài Gastrodiscoides hominis được phát hiện ở người India và
lợn. Sharma (1930) cho biết tỷ lệ của người Hindu nhiễm là 3,2 %. Brau và
Bruyant đã báo cáo một trường hợp ở người Cochin Trung Quốc. Mathis và
Leger cũng đã tìm thấy loài này ký sinh ở lợn với tỷ lệ 5 % [5].
2.1.2. Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột lợn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bệnh sán lá ruột đã có từ lâu đời nhưng mãi đến 1911,
Marthis, Leger và Bauche mới mô tả loài sán này khi thu thập mẫu vật từ ruột
lợn và một số người bệnh ở Bắc Bộ [11].
Vào năm 1941 Đặng Văn Ngữ, Gilliard cho biết lợn bị nhiễm sán lá ruột
6 – 12 %, có khi tới 74 % [20].
Trong thời thuộc Pháp ở Bắc Bộ, Mathis và Leger (1911) cho biết tỷ lệ
nhiễm khoảng 6 %; Houdemer và Trần Thọ Huy (1925), 73 %; Đặng Văn
Ngữ và Galliard (1941), 6 – 12 % vào tháng 3, 47 % vào tháng 12; ở Huế,
3
Railiet và Henry là 1 – 2 % lợn nhiễm sán lá ruột [11], [20].
Ở miền Bắc nước ta theo Bùi Lập (1965) cho biết tỷ lệ lợn nhiễm sán lá
ruột 41,4 % ở một nông trường. Ở Vĩnh Phú, Phan Địch Lân (1963) thấy tỷ lệ
lợn nhiễm sán lá ruột 78,4 %. Điều tra trên 6139 lợn thuộc các tỉnh Hải Hưng,
Ninh Bình, Hà Bắc, Hà Nội, Nguyễn Trọng Nội (1966) thấy tỷ lệ nhiễm sán lá
ruột từ 45,4 % - 86,4 % [20].
Ở nước ta lợn nhiễm từ 23 - 50,1 % với cường độ nhiễm từ 1 - 283 sán
trong một cơ thể. Có trường hợp thấy 1.716 sán ký sinh trong một lợn (nông
trường Thống Nhất). Một số cơ sở chăn nuôi 100 % lợn bị nhiễm sán (trại
Cộng Hòa, nông trường Thống Nhất) [8], [5], [24].
Nguyễn Hữu Hưng (2002), khi nghiên cứu về thành phần giun sán ký
sinh ở lợn tại một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tỷ lệ nhiễm
Fasciolopsis buski có sự khác biệt giữa các vùng. Tỉnh Đồng Tháp tỷ lệ lợn
nhiễm Fasciolopsis buski ở thị xã Cao Lãnh là 11 %, Sa Đéc 1,25 %, huyện
Hồng Ngự 10,5 %, huyện Tân Hồng 3,6 %. Tỉnh Hậu Giang (Cần Thơ và Sóc

Loài : Fasciolopsis buski (Lankaster,1857) [14], [22], [27].
2.3. Hình thái và chu trình phát triển của Fasciolopsis buski,
Echinostoma malayanum, Gastrodiscoides hominis
2.3.1. Fasciolopsis buski
2.3.1.1. Hình thái của Fasciolopsis buski
Fasciolopsis buski có hình lá, màu đỏ thớ thịt, phình rộng phía sau, thon
nhỏ dần về phía đầu. Sán dài 20 – 70 mm, dày 0,5 – 3 mm.
Trên thân có phủ những gai nhỏ, có hai giác bám gần nhau ở phía trước
cơ thể, giác bụng lớn hơn giác miệng. Thực quản ngắn, hầu nhỏ, hai manh
tràng chạy dọc hai bên thân. Hai tinh hoàn phân nhánh hình cành cây, xếp
trên dưới nhau ở phần sau thân sán. Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh
hoàn và hơi lệch về bên trái. Túi sinh dục hình ống thông với bên ngoài qua lỗ
sinh dục phía trước giác bụng. Tuyến noãn hoàng chạy dọc hai bên thân sán.
Trứng màu vàng nhạt, vỏ mỏng, phình rộng ở giữa thon dần đều về phía
hai đầu, ở đầu hơi nhỏ có nắp trứng. Kích thước của trứng 0,13 - 0,14 mm x
0,08 - 0,085 mm. Phôi bào phân bố đều, xếp kín vỏ trứng [8], [24].
2.3.1.2. Chu trình phát triển của Fasciolopsis buski
Phát triển gián tiếp có sự tham gia của vật chủ trung gian là những ốc
nước ngọt Planorbis planorbis, P. coenurus, P. hemisphaerula, P.
schmacheri, Gyraulus chinensis , G. saigonensis, Segmentina calathus, S.
5
largillieri, Hippetis contori, H. umbilicalis. Trung bình mỗi ngày sán đẻ được
15.000 – 48.000 trứng theo phân ra ngoài gặp môi trường nước ở nhiệt độ 27
– 32
O
C sau 14 - 15 ngày phát triển thành Miracidium chui ra khỏi trứng.
Miracidium có thể sống ở ngoài môi trường 6 - 8 giờ, dài 0,123 mm, rộng
0,049 mm hình quả lê. Miracidium xâm nhập vào ốc phát triển thành
Sporocyst. Sau 9 - 10 ngày hình thành Redia ở gan tụy ốc, sau đó Cercaria
chui ra khỏi ốc sau 1 - 3 giờ rụng đuôi và tạo kén Aldolescaria. Khi người và

tác dụng của dịch ruột và dịch mật mới phân giải được màng trong. Kích
thước của kén là 0,216 x 0,187 mm, nếu không tính màng ngoài thì chỉ có
0,148 x 0,138 mm [20].
7
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA FASCIOLOPSIS BUSKI
1. Trứng 5. Cercaria ở môi trường
2. Trứng trong môi trường nước 6. Aldolescaria (nang ấu)
3. Miracidium (mao ấu) 7,8. Sán trưởng thành trong lợn và người
4. Ốc vật chủ trung gian
4a Sporocysts (bào ấu)
4b Redia (lôi ấu)
4c Cercaria (vĩ ấu)
8
2.3.2. Echinostoma malayanum
2.3.2.1. Hình thái của Echinostoma malayanum
Echinostoma malayanum đồng nghĩa với Euparyphium malayanum
(Leiper, 1911), Artyfechinostomum sufartifex (Lane, 1915 Bhalerao, 1931).
Sán dài 12 mm, rộng 3 mm, giác miệng nhỏ hơn giác bụng có hình vành
khăn. Trên vành khăn miệng có 42 - 43 gai xếp thành hai hàng. Toàn thân phủ
đầy gai. Túi sinh dục dài nằm trước giác bụng. Buồng trứng hình hạt đậu nằm
ở giữa thân. Hai tinh hoàn phân thùy xếp trên dưới nhau mỗi tinh hoàn chia 4
- 6 thùy. Tuyến noãn hoàng dày đặc hai bên thân.
Trứng gần giống với trứng của Fasciolopsis buski nhưng tròn hơn.
2.3.2.2. Chu trình phát triển của Echinostoma malayanum
Nghiên cứu về chu trình phát triển của Echinostoma malayanum, Rao
(1933) cho rằng vật chủ trung gian thứ nhất của Echinostoma malayanum là
ốc Limnae luteola, vật chủ trung gian thứ hai là ốc Limnae luteola,
Indoplanorbis exustus và cá Barbus stigma. Trứng ra ngoài sẽ phát triển thành
Miracidium xâm nhập vào ốc Limnae luteola, sau 6 tuần sẽ hình thành
Cercaria và tiếp tục xâm nhập vào ốc Limnae, Indoplanorbis và cá Barbus,

thực vật thủy sinh như bèo tấm, bèo Nhật Bản, bèo cái, rau lấp, rau muống,
rau dừa nước, bèo hoa dâu, bèo tai chuột, cây súng…[37].
2.4.3. Động vật cảm nhiễm
Động vật cảm nhiễm sán lá ruột lợn là: lợn nhà, lợn rừng, chó, hổ, thỏ,
trâu (Barlow, 1920; Ngô Quang 1937 - 1949 ; Tiền Trào, 1940; Trần Vượt
Thường, 1945….Người sống ở các nước nhiệt đới ẩm Đông Nam Á cũng
thường bị nhiễm sán lá ruột Fasciolopsis buski (Lý Như Thức, 1965; Pedro
Acha, 1989) [10], [11].
2.4.4. Vùng nhiễm bệnh
Ở nước ta bệnh do Fasciolopsis buski phân bố ở lợn khắp các vùng
nhưng lợn vùng đồng bằng mắc nhiều hơn cả 53,6 %. Vùng trung du số lợn
nhiễm có giảm đi 38,1 %. Ở vùng núi lợn bị bệnh ít hơn 8,3 % [8]. Lợn nuôi ở
vùng đồng bằng có tỷ lệ nhiễm sán lá ruột cao. Ở đồng bằng Sông Hồng lợn
bị nhiễm tới 57 %; ở miền núi lợn nhiễm 8 %. Các giống lợn, các lứa tuổi đều
bị nhiễm sán [28].
Vùng núi có tỷ lệ nhiễm 14,4 %, trung du 40,1 %, đồng bằng 50,7 %
(Bùi Lập, Phạm Văn Khuê, 1967; Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1970 - 1971 và
Phạm Văn Khuê, 1974). Cường độ nhiễm sán lá ruột của lợn cũng tăng dần từ
10
miền núi, trung du đến đồng bằng. Cường độ nhiễm ở miền núi 1- 6 con sán,
ở trung du 1 - 270 con sán và ở đồng bằng 1- 313 con sán / 1 lợn [11].
Ở miền Bắc tỷ lệ nhiễm sán lá ruột Fasciolopsis buski của đàn lợn là
62,1 %. Còn ở miền Nam tỷ lệ nhiễm sán lá ruột lợn là 65,8 % [15].
Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột tăng dần từ miền núi đến đồng bằng
Miền núi nhiễm 8,3 %
Trung du nhiễm 38,1 %
Đồng bằng nhiễm 53,6 % [5].
Tỷ lệ nhiễm bệnh cũng cho thấy sự phân bố của sán lá có sự khác biệt
nhau giữa các loài theo vùng địa lý. Ở miền Nam sự phân bố của Fasciolopsis
buski thấp. Qua mổ khám 787 lợn ở 4 lứa tuổi Lương Văn Huấn và Lê Hữu

2.4.6. Giống nhiễm bệnh
Theo số liệu điều tra của trại thực hành thí nghiệm trên 200 lợn lai F1 từ
4 - 10 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm bệnh 100 %. Còn lợn Lang Hồng thuần cùng
tuổi tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn (74 %) [3].
Mọi giống lợn ở nước ta đều bị nhiễm sán. Các giống lợn nội như Ỉ
Bắc Ninh, Ỉ Nam Định, Ỉ Quảng Hải, Móng Cái và Yorkshire đều cảm
nhiễm sán lá ruột mà không có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ (Phạm Văn
Khuê, 1965) [8], [11], [20].
2.4.7. Điều kiện lây truyền bệnh
Các điều kiện lây truyền bệnh bao gồm nguồn tàng trữ và truyền mầm
bệnh, vật chủ trung gian, vật môi giới và tập quán ăn rau sống. Lợn và người
nhiễm sán là nguồn tàng trữ và gieo rắc mầm bệnh.
Ở các vùng đồng trũng, trồng lúa nước thường có tỷ lệ nhiễm sán lá ruột
ở lợn rất cao bởi vì có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài ốc ký
chủ trung gian như Planorbis coenurus, Segmentina hemisphearula, Gyraulus
chinensis …Ốc sẽ giúp cho ấu trùng sán lá ruột lợn phát triển trong cơ thể
chúng cho đến giai đoạn cảm nhiễm. Các vùng đồng trũng, nhiều ao, hồ,
mương rạch cũng là điều kiện cho các cây cỏ thủy sinh phát triển mạnh và đa
dạng. Lợn và người ăn rau thủy sinh sống có kén bị nhiễm sán [11].
2.4.8. Mùa vụ phát bệnh
Ở nước ta cả bốn mùa lợn đều nhiễm bệnh. Song số lợn bị bệnh giảm
xuống ở tháng 5 - 6 (26 – 29 %). Những tháng tiếp theo tỷ lệ nhiễm sán tăng
dần. Đến tháng 9 - 10 tỷ lệ lợn nhiễm sán cao hơn cả (66 – 67 %). Những
tháng tiếp theo tỷ lệ này lại giảm dần cho đến tháng 5 năm sau [3], [8 ], [24].
12
Theo kết quả điều tra về tỷ lệ nhiễm sán của lợn qua các tháng trong
năm tại trại chăn nuôi Quang Trung (Đại Học Nông Nghiệp I), nông trường
Toàn Thắng (Hà Nội) và nông trường Thống Nhất (Hải Hưng) đã cho thấy tỷ
lệ nhiễm sán lá ruột của lợn gần như không có sự chênh lệch từ tháng 1 đến
tháng 12. Tỷ lệ nhiễm sán trung bình của lợn trong các tháng là: tháng 10 có

ngày có thể diệt được trứng. Trứng sán bị diệt ở nhiêt độ trên 40
0
C và 5 ≥ pH
≥ 8 [8], [11], [24].
Sức đề kháng của kén Aldolescaria phụ thuộc vào môi trường. Nhiệt độ
trong nước từ 4 - 5
0
C kén tồn tại 25 ngày, ở 24 - 28
0
C trên 60 ngày, ở 32 - 39
0
C trên 90 ngày. Lấy kén để trong điều kiện khô và nhiệt độ 28 – 30
0
C thì chỉ
sống được 10 ngày.
Nếu Aldolescaria lấy từ cây cỏ dưới nước cho lên giấy thấm ướt giữ ở
nhiệt độ 28 – 30
0
C có thể sống trên dưới 10 ngày. Nếu kén bám ở cây cỏ ít
nước có ánh nắng chiếu trực tiếp, sau 10 phút kén mất sức sống [8], [11],
[20], [24].
2.4.11. Vật chủ trung gian và vật môi giới truyền bệnh sán lá ruột lợn
Quá trình phát triển của sán lá ruột cần có ký chủ trung gian là ốc và cây
cỏ ở nước làm vật môi giới truyền bệnh. Sán trưởng thành sống ở ruột non
của người hoặc lợn, sán đẻ trứng theo phân lợn và người ra ngoài, gặp điều
kiện thích hợp (nước, ánh sáng, nhiệt độ, pH ) nở thành Miracidium chui vào
ốc là ký chủ trung gian, phát triển thành bào ấu (Sporocyst), lôi ấu (Redia)
mẹ, lôi ấu (Redia) con, và vĩ ấu (Cercaria). Sau khi hình thành ở cơ thể ốc thì
vĩ ấu chui ra ngoài và rụng đuôi, bám vào cây cỏ ở nước thành nang kén
(Aldolescaria) [20].

của sán lá ruột. Tác giả đã kiểm tra một củ ấu có tới 20 ốc bám, kiểm tra 10
củ ấu trung bình có 17,9 nang ấu, cá biệt có tới hơn 200 Aldolescaria. Có nơi
kiểm tra thấy 100 % củ ấu có chứa kén. Ở một vùng khác trung bình một củ
ấu có 105,8 kén, có khi tới 688 kén (Barlow, 1925).
Theo Hứa Bằng Như (1964), các loại cây cỏ thuỷ sinh khác như: bèo
Nhật Bản (Eichhornia crassipes Solm), tóc tiên nước (Vallisneria spiralis
Linn), bèo ong (Salvinia natans Hoffm), bèo dâu (Azolla pinnala R. Br), rong
đuôi chó (Geratophyllum demersum Linn), rong nhám (Hydrilla verticillata)
… đều là vật môi giới truyền bệnh sán lá ruột lợn [20].
2.5. Triệu chứng và bệnh tích
2.5.1. Triệu chứng
Lợn nhiễm sán còi cọc, thiếu máu, suy nhược do sán chiếm đoạt chất
dinh dưỡng… có những lợn vẫn ăn khỏe nhưng không lớn được, tăng trọng
thấp.
15
Lợn nái nuôi con bị nhiễm sán thì gầy còm, giảm sản lượng sữa, tỷ lệ lợn
con ỉa phân trắng cao.
Lợn ỉa chảy, phân nhão, tanh, da hơi thô, lông xù. Lợn ăn uống thất
thường, gầy còm, chậm lớn [8], [12], [24], [29].
2.5.2. Bệnh tích
Niêm mạc ruột non bị loét, tụ máu.
Ở những lợn trưởng thành 6 - 8 tháng thường thấy ruột non bị sùi lên,
niêm mạc ruột dày do tác động bám vào ruột và di chuyển của sán [12], [20].
2.6. Cơ chế sinh bệnh
Do sán lá ruột có giác bám to khỏe để bám vào thành ruột vật chủ, gây
tổn thương niêm mạc ruột mở đường cho vi khuẩn gây bệnh đường ruột phát
triển, tạo điều kiện cho việc nhiễm trùng thứ phát, gây viêm ruột cata.
Sán có kích thước lớn khi ký sinh với số lượng nhiều thường gây tắc
ruột.
Độc tố của sán tiết ra làm lợn trúng độc, còi cọc, chậm lớn, gầy yếu,

[10].
Cách tiến hành: lấy kháng nguyên tiêm vào nội bì của con vật cần chẩn
đoán. Sau 10 - 20 phút nơi tiêm có phản ứng sưng đỏ là dương tính, ngược lại
là âm tính [10], [28].
2.9. Biện pháp phòng trừ
2.9.1. Tẩy trừ sán cho lợn
Căn cứ vào thời gian từ kén Aldolescaria phát triển thành sán trưởng
thành, thời gian tẩy thích hợp là 90 ± 6 ngày. Nên tẩy sán trước ngày 84 và
không quá ngày thứ 96. Thời gian tẩy tốt nhất là trước lúc sán trưởng thành
chưa kịp đẻ trứng, tránh gieo rắc mầm bệnh ra ngoài môi trường và hạn chế
tác hại của sán [3].
Đối với lợn nái tẩy 1 lần/năm, thời gian tẩy là sau khi cai sữa và trước khi
phối giống.
Có thể sử dụng một số loại thuốc tẩy sau
Vime - Ono: 1 g/10 - 15 kg P, uống một liều duy nhất.
Vimedazol: 1 g/10 kg P, uống một liều duy nhất.
Chú ý: không sử dụng cho gia súc già và gia súc đang mang thai.
Han - Dertil – B: 1 viên/50 kg P.
Bioxinil: 1ml/25 kg P.
Ngoài ra có thể sử dụng bài thuốc Nam
17
Vỏ rễ lựu 40 g
Đại hoàng hoặc chút chít 10 g
Hạt cau già 1 g
Nước 750 ml
Sắc lên lấy 30 ml, chia làm 3 lần uống, mỗi lần cách nhau nửa giờ. Sau 3 - 4
giờ sán sẽ ra. Nếu lợn con từ 15 - 20 kg thì chỉ cần dùng nửa liều trên.
Chú ý: vỏ rễ lựu rất độc, khi sử dụng phải cẩn thận. Nếu tẩy đại trà cho nhiều
lợn nên tẩy thí điểm trước vài con để rút kinh nghiệm rồi mới dùng tẩy cho
nhiều con khác [6].

Ngoài ra có thể xây bể Biogas và bổ sung chế phẩm EM vào nước bể.
Chế phẩm EM có tác dụng làm giảm độ pH của nước nhưng làm lượng khí
trong bể tăng lên. Ở bể biogas có EM 1 %, sau 20 ngày trứng sán bị mất màu,
một số trứng tan rữa. Với nồng độ EM 5 %, sau 10 ngày trứng không biến
dạng, nhưng nhạt màu, tế bào của nhiều trứng tan rữa. Sau 20 ngày trứng mất
màu, tế bào của đa số trứng tan rữa hoàn toàn. Trứng ngâm 10 ngày, ở nồng
độ EM 1 % chỉ có 24,6 % trứng phát triển được tới Miracidium, thời gian
trứng phát triển hết 18 ngày. Ngâm 20 ngày, không trứng nào phát triển. Ở
nồng độ 5 %, không có trứng nào phát triển được tới Miracidium. Chế phẩm
EM có tác dụng rút ngắn thời gian diệt trứng Fasciolopsis buski. So sánh với
kết quả lưu giữ trứng trong bể không bổ sung EM, thì ở mức bổ sung EM 1 %
thời gian diệt trứng Fasciolopsis buski đã rút ngắn được 10 ngày, EM 5 % rút
ngắn được 20 ngày [26].
2.9.3. Diệt ốc ký chủ trung gian
Diệt vật chủ trung gian là một mắc xích quan trọng vì không có vật chủ
trung gian sán lá ruột không thể phát triển và gây bệnh được. Tiêu diệt vật chủ
trung gian là làm mất một mắc xích quan trọng trong toàn bộ chu trình đó.
Ở nước ta ký chủ trung gian phổ biến của Fasciolopsis buski là Polypilis
và Gyraulus. Để diệt ký chủ trung gian có thể dùng những biện pháp sau:
Dùng vôi bột (CaO), sunfat đồng (CuSO
4
) một số loại phân hóa học
như sulphat amon [(NH
4
)
2
SO
4
], sulphat kali (K
2

Trung Quốc, tỷ lệ nhiễm cao và gây bệnh nặng. Có vùng có đến 65 % người
mắc bệnh sán lá ruột, trẻ em mắc nhiều hơn người lớn và phụ nữ mắc nhiều
hơn nam giới [23]. Ở Quảng Châu người nhiễm 10 – 15 % (Trần Tâm Đào
1935), Quang Tắc Đạt điều tra ở Tân Hội thấy người nhiễm 82 – 83 %. Theo
Ngô Quang 1938 cho biết ở Triết Giang người mắc 36 %. Theo Đỗ Dương
Thái (1959) tỷ lệ người Việt Nam nhiễm sán lá ruột khoảng 0,08 % [20].
Theo Vogel (1936) thời gian hoàn thành vòng đời của sán ở cơ thể người
là mười tuần lễ. Năm 1925, Barlow đã dùng thuốc tẩy sán cho một em bé gái
chín tuổi ở Trung Quốc, tẩy ra 3721 con sán lá ruột, đó là mức nhiễm cao
chưa từng thấy. Theo Trang Bạch (Trung Quốc, 1956) cho biết ở Tân Hội
trong số 65 bệnh nhân bị bệnh sán lá ruột thì tỷ lệ chết 21,5 % [20].
Sán lá ruột phân bố từ miền trung Trung Quốc đến Bengal và nhiều nước
ở bán đảo India. Stoll (1947) ước tính rằng có khoảng 10 triệu người nhiễm
sán phần lớn là người Trung Quốc. Barlow cho biết có nhiều làng mạc ở
Trung Quốc tỷ lệ người nhiễm 100 % [5]. Tại Trung Quốc, có nơi trẻ nhiễm
đến 80 – 86 %; tại Thái Lan, bệnh sán lá ruột chiếm đến 10 % số ca nhiễm ký
sinh trùng này ở đường ruột (Wiwanitkit và cộng sự, 2002) [35].
Theo Mao Thủ Bạch (1964), bệnh sán lá ruột ở người thường có tỷ lệ
cao ở lứa tuổi 15 - 20 tuổi, sau đó thì giảm dần theo sự tăng của tuổi [20].
20
Hiện nay số người nhiễm Fasciolopsis buski trên thế giới khoảng 100 triệu
người (Pedro, 1987) [3], [ 5].
Tại Việt Nam, thời gian từ năm 2000 - 2005, 16 tỉnh, thành trong cả
nước có người nhiễm sán lá ruột lợn Fasciolopsis buski (Yên Bái, Tuyên
Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Nam
Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Đắc Lăk, Cần Thơ và An
Giang. Tỷ lệ nhiễm chung trung bình là 1,23 % (0,16 – 3,82 %)). Sán lá ruột
trưởng thành thu thập từ bệnh nhân khi điều tra tại 7 tỉnh, thành Nam Định,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ và An Giang đã
được xác định loài là Fasciolopsis buski qua phương pháp hình thái học và

- Nghiên cứu sự phát triển của mầm bệnh sán lá ruột lợn ở môi trường
nuôi và trong ốc vật chủ trung gian.
- Đánh giá hiệu quả của thuốc Bioxinil và Vime - Ono tẩy sán lá ruột
lợn.
3.5 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột lợn ở 4 xã Phú Thượng, Phú Dương, Phú Mậu,
Phú Mỹ của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm sán lá ruột lợn ở các nhóm tuổi: sơ
sinh đến 2 tháng tuổi, trên 2 tháng tuổi đến 4 tháng tuổi, trên 4 tháng tuổi đến
6 tháng tuổi, trên 6 tháng tuổi đến 12 tháng tuổi và trên 12 tháng tuổi.
- Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tính biệt .
- Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo phương thức cho ăn.
- Sự phát triển của trứng sán lá ruột trong các môi trường: nước cất, nước
hồ, nước muối 0,5 %, nước muối 0,9 %.
22
- Sự phát triển của ấu trùng sán lá ruột trong ốc vật chủ trung gian.
- Mật độ ốc và tỷ lệ ốc nhiễm ấu trùng sán lá ruột lợn trong tự nhiên.
- Tỷ lệ ra sán lá ruột lợn.
- Tỷ lệ sạch sán lá ruột sau khi tẩy.
3.6 Phương pháp nghiên cứu và vật liệu nghiên cứu
3.6.1 Phương pháp lấy mẫu
- Chọn gia súc ngẫu nhiên, lấy mẫu từng cá thể, phân do lợn mới thải ra.
Lấy nhiều điểm trên đống phân, không lấy phần tiếp xúc với mặt đất, mỗi
mẫu lấy 10 – 15 g, cho vào túi nilon có ghi đầy đủ thông tin: số mẫu, địa
điểm, tên chủ hộ, giống, tính biệt, tuổi…và các thông tin khác được ghi trong
sổ số liệu thô.
3.6.2 Phương pháp kiểm tra mẫu
- Phương pháp lắng cặn (Sedimentation method)
+ Nguyên lý : dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng của trứng với nước lã (d
=1) để tách trứng ra khỏi phân.

môi trường: nước hồ, nước cất, nước muối 0,5 %, nước muối 0,9 %. Hàng
ngày theo dõi nhiệt độ, độ ẩm của phòng nuôi, pH của môi trường, sự biến đổi
của trứng và ấu trùng.
3.6.6. Phương pháp nuôi ốc gây nhiễm
3.6.6.1. Chuẩn bị ốc
Ốc vật chủ trung gian bắt ở những vùng khi kiểm tra không tìm thấy ấu
trùng sán lá ruột lợn. Sau đó bắt 500 ốc về nuôi trong nước sạch để kiểm tra
dần, mỗi lần kiểm tra 50 ốc và kiểm tra 3 lần nếu không tìm thấy ấu trùng sán
lá ruột trong ốc thì số còn lại sử dụng để nuôi ốc gây nhiễm.
3.6.6.2. Nuôi ốc
Ốc vật chủ trung gian bắt ở các ao hồ trên địa bàn huyện Phú Vang
được cho vào chậu thuỷ tinh. Thả thêm rong, bèo sạch vào cho ốc bám và làm
thức ăn, để chậu ở nơi có ánh sáng thường xuyên. Hàng ngày theo dõi nhiệt
độ, độ ẩm, pH của môi trường, sự phát triển của ốc. Mổ ốc kiểm tra sự thay
đổi của ấu trùng sán lá ruột.
3.6.7. Thu thập kết quả

24
Tỷ lệ nhiễm =
Số mẫu dương tính
* 100
Số mẫu kiểm tra

Cường độ nhiễm
1 - 5 trứng / 1tiêu bản +
6 - 10 trứng / 1 tiêu bản + +
> 10 trứng / 1 tiêu bản + + +
Tỷ lệ ra sán =
Số lợn tẩy có ra sán
* 100


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status