Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Cao su có tên gốc là cây Hêvê (Hévéa) mọc dọc theo sông Amazone ở
Nam Mỹ và các vùng kế cận, là cây của vùng nhiệt đới xích đạo. Cây Cao su được
nhập vào nước ta năm 1897, trải qua 110 năm cây cao su ở Việt Nam đã trở thành cây
công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm chính của cây Cao su là mủ cao su được
dùng làm nguyên liệu chủ yếu cho nhiều ngành công nghiệp; bên cạnh đó, sản phẩm
phụ của cây cao su như hạt cao su cho tinh dầu quý, gỗ cao su làm nguyên liệu giấy,
làm hàng mộc phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu ..., cây cao su còn có vị trí
quan trọng trong việc bảo vệ đất và cân bằng sinh thái.
Hiện nay, giá Cao su tổng hợp tăng cao và chịu ảnh hưởng của giá dầu thô nên
nhiều nước đã chuyển sang sử dụng cao su thiên nhiên. Tuy nhiên, năng lực sản xuất
cao su thiên nhiên không đủ đáp ứng theo tốc độ của nhu cầu cùng với mức sống cải
thiện và sự tăng trưởng dân số trên thế giới. Tình trạng thiếu cao su thiên nhiên đã
được dự đoán từ những thập niên trước đây, nhu cầu cao su thiên nhiên trên thế giới
gia tăng đã khuyến khích nhiều nước mở rộng diện tích cao su, thậm chí cả ở những
vùng có điều kiện môi trường ít thuận lợi và người trồng đã tăng đầu tư, thâm canh
để đạt năng suất cao.
Việt Nam là nước xuất khẩu cao su thiên nhiên lớn thứ tư sau Thái Lan,
Indonesia và Malaysia. Lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu năm 2005 đạt 587.000
tấn, trị giá 804 triệu USD, năm 2006 đạt 690.000 tấn, trị giá 1,27 tỷ USD và là mức
cao nhất từ trước đến nay. Với kết quả này, cao su đã trở thành mặt hàng nông sản
xuất khẩu có giá trị xếp thứ hai sau gạo trong năm 2005, chiếm 2,5% tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam. Điều này cho thấy tiềm năng kinh tế đem lại từ cây cao su
là rất lớn.
Thực hiện phát triển cao su tiểu điền tại Thừa Thiên Huế đã góp phần thực
hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn; giải quyết việc làm, định canh định cư đối với đồng bào vùng sâu,
vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy vậy thực trạng việc phát triển sản xuất cao su
Nguyễn Cảnh Sơn
trong thời gian tới.
* Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:
Nguyễn Cảnh Sơn
2
Khóa luận tốt nghiệp
- Phương pháp duy vật biện chứng để xem xét các hiện tượng trong mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau.
- Phương pháp phân tổ thống kê để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến kết quả và hiệu quả sản xuất, kinh doanh cây cao su.
- Phương pháp phân tích chuỗi cung để phân tích quá trình tiêu thụ mủ Cao Su
của nông hộ.
- Phương pháp điều tra thống kê nhằm thu thập số liệu có liên quan đến đề tài.
Số liệu thứ cấp được thu thập từ chính quyền và các ban ngành địa phương. Số liệu
sơ cấp thu thập qua phỏng vấn các hộ trồng cao su tiểu điền, với số mẫu điều tra là 60
hộ, trong đó 30 hộ ở xã Hương Bình, 15 hộ ở xã Hương Thọ và 15 hộ ở Xã Bình
Điền.
- Phương pháp quy đổi tất cả các khoản đầu tư của các năm về hiện giá tại
thời điểm hiện tại để xem xét năm hoàn vốn đầu tư của nông hộ.
- Phương pháp phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình sản xuất
Cao Su của nông hộ (Phương pháp phân tích ANOVA trên phần mềm SPSS) .
Chúng tôi sử dụng phuơng pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên với kích thước
mẫu là 60 hộ trồng cây cao su (30 hộ ở xã Hương Bình,15 hộ ở xã Hương Thọ và 15
hộ ở Xã Bình Điền).
* Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Do nội dung nghiên cứu rộng nhưng thời gian hạn chế nên chúng tôi chỉ tập
trung nghiên cứu các vấn đề:
+ Đối tượng: Tình hình phát triển sản xuất cao su của các hộ trên địa bàn
huyện
+ Phạm vi: - Về không gian: Huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Về thời gian: Từ 2005 – 2008 với các số liệu thứ cấp và trong
sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Ngoài ra còn có các quan điểm khác như: hiệu quả nghĩa là không lãng phí,
hay hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ chi phí
trong một đơn vị hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích của lao động sản
Nguyễn Cảnh Sơn
4
Khóa luận tốt nghiệp
xuất trong một thời kỳ nhất định, hay hiệu quả sản xuất là là mức độ hữu ích của sản
phẩm được sản xuất tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải là giá trị.
Tóm lại, tất cả các quan điểm về hiệu quả kinh tế (hoặc hiệu quả sản xuất kinh
doanh) đều xoay quanh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào, với đầu vào là ít nhất và
đầu ra là cao nhất trong đó có thể đề cập đến các lợi ích của xã hội. Hiệu quả sản xuất
kinh doanh không chỉ là thước đo về mặt chất lượng, không những phản ánh trình độ
tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của mọi doanh nghiệp/đơn vị;
hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao doanh nghiệp càng đứng vững trên thương
trường nhờ đó nâng cao được sức cạnh tranh, đầu tư thêm trang thiết bị máy móc,
công nghệ hiện đại ...tạo điều kiện nâng cao đời sống cho CBCNV và hoàn thành
nghĩa vụ đối với Nhà nước. Vì vậy, khi nhận xét đánh giá hiệu quả kinh tế của Doanh
nghiệp ta phải đặt nó trong mối quan hệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để hiệu
quả kinh tế là thước đo cho sự tăng trưởng kinh tế, là chỗ dựa cơ bản để đánh giá
mục tiêu sản xuất của từng đơn vị kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY CAO SU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
1.2.1. Đặc điểm sinh học
Cây cao su có nguồn gốc ở Nam Mỹ, mọc hoang dại tại vùng Amazon khi
được nhân trồng trong sản xuất với mật độ từ 400 -571 cây/ha và chu kỳ sống được
giới hạn lại từ 30 - 40 năm, chia làm 2 thời kỳ:
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản (TKKTCB) :
Là khoảng thời gian 07 năm của cây cao su tính từ khi trồng cây. Đây là
khoảng thời gian cần thiết để vanh thân cây cao su đạt 50 cm đo cách mặt đất 1m.
50% so với mủ nước buổi sáng.
1.2.3. Vai trò và giá trị kinh tế của cây Cao su
Cây cao su từ khi trở thành hàng hoá, công dụng của nó ngày càng được mở
rộng. Hiện nay mủ cao su trở thành một trong bốn nguy ên liệu chính của Ngành
công nghiệp thế giới. Nó đứng sau gang thép, than đá và dầu mỏ. Sản phẩm cần dùng
đến cao su có thể kể đến các loại sau: lốp ô tô chiếm 70% sản lượng cao su thế giới,
kế đến là cao su dùng để làm ống băng truyền, đệm giảm xóc, vật liệu chống mài
mòn, các thiết bị hàng không, dụng cụ gia đình và dụng cụ thể thao ...
Nguyễn Cảnh Sơn
6
Khóa luận tốt nghiệp
Ngoài giá trị mủ cao su, cây cao su còn có thể cung cấp một lượng gỗ lớn, mặt
hàng đồ gỗ cao su Việt Nam chiếm khoảng 10% trong tổng giá trị đồ gỗ xuất khẩu, giá
gỗ cao su có thể dao động từ 400 - 600 USD/m
3
( bản tin cao su Việt Nam số 10 ngày
30/07/2006). Hàng năm sau năm thứ 7, cây cao su có thể cung cấp khoảng 200 - 300
kg hạt/ha với hàm lượng dầu khoảng 10 - 20% trọng lượng hạt; lượng prôtêin trong
hạt, dầu cao su có thể dùng trong công nghệ sơn, vecni, xà phòng, làm chất độn pha
thuốc kích thích mủ cao su hoặc nếu được xử lý thích hợp có thể dùng làm dầu thực
phẩm; cuối cùng việc trồng cao su đem lại những lợi ích về môi trường, về rừng phòng
hộ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn đất góp phần xây dựng chương
trình XĐGN, ổn định xã hội thông qua việc tạo công ăn việc làm cho đồng bào dân tộc
ở các vùng sâu, vùng xa và là môi trường tốt để nuôi ong.
Về giá trị thương mại của mủ cao su thiên nhiên là loại nguyên liệu độc quyền
trong trong thời gian đầu của thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ II sự xuất hiện
của cao su nhân tạo làm từ dầu mỏ, cao su thiên nhiên bị cạnh tranh gay gắt trong
nhiều thập kỷ. Do cao su là sản phẩm quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp nên
giá mủ cao su luôn ổn định trong thời gian dài. Tuy vậy, những năm gần đây cùng
với thị trường Trung Quốc rộng lớn nhập khẩu cao su Việt Nam trên 70% kế đến là
- Gió: gió nhẹ 1 - 2m/s có lợi cho cây cao su vì gió giúp cho vườn cây thông
thoáng, hạn chế được bệnh và giúp cho vỏ cây mau khô sau khi mưa. Trồng cao su ở
nơi có gió mạnh thường xuyên, gió bão, gió lốc sẽ gây hư hại cho cây cao su, làm bị
gãy cành, gãy thân, đổ cây, rễ cây cao su không phát triển sâu và rộng được.
- Giờ chiếu sáng, sương mù:
+ Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp của cây và như
thế ảnh hưởng đến mức tăng trưởng và sản xuất mủ của cây. Ánh sáng đầy đủ giúp
cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao. Giờ chiếu sáng được ghi nhận tốt
cho cây cao su bình quân là 1.800 - 2.800 giờ /năm và tối thiểu khoảng 1.600 giờ -
1.700 giờ/năm.
+ Sương mù nhiều gây một tiểu khí hậu ướt tạo cơ hội cho các loại nấm bệnh
phát triển và tấn công cây cao su như trường hợp bệnh phấn trắng ...
- Đất đai
Cây cao su có thể sống được trên hầu hết các loại đất và phát triển trên các
loại đất mà các cây khác không thể sống được. Cây cao su phát triển ở vùng khí hậu
nhiệt đới ẩm ướt nhưng thành tích và hiệu quả kinh tế của cây là một vấn đề cần lưu
ý hàng đầu khi nhân trồng cao su trên quy mô lớn, do vậy việc chọn lựa các vùng đất
thích hợp cho cây cao su là một vấn đề cơ bản cần được đặt ra.
Vùng Duyên hải miền Trung, trong đó Tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và đặc
biệt là huyện Hương trà nói riêng có 04 dạng địa hình chính là: vùng ven biển, vùng
đồng bằng, vùng gò đồi và vùng núi. Trong đó: Cây cao su thích hợp với các vùng
đất gò đồi có độ cao trình thích hợp nhất từ 200 - 600 m. Điều này là một thuận lợi
lớn của địa phương trong việc nhân rộng diện tích cây cao su. Càng lên cao càng bất
lợi do độ cao của đất có tương quan với nhiệt độ thấp và gió mạnh.
Nguyễn Cảnh Sơn
8
Khóa luận tốt nghiệp
- Độ dốc
Độ dốc đất có liên quan đến độ phì đất. Đất càng dốc, xói mòn càng mạnh
khiến các dinh dưỡng trong đất nhất là trong lớp đất mặt bị mất đi nhanh chóng. Khi
thích hợp đối với quy mô phát triển cao su đại điền nên chọn các vùng liền khoảnh có
diện tích tương đối tập trung nhằm giảm thiểu chi phí đầu tư đường vận chuyển và
nhất là việc quản lý được tập trung, tuân thủ quy trình kỹ thuật nghiêm ngặc sẽ mang
lại hiệu quả kinh tế cao.
Nguyễn Cảnh Sơn
9
Khóa luận tốt nghiệp
- Cần lưu ý nền đất là một trong những yếu tố cơ bản có tính quyết định đến
hiệu quả kinh tế của vườn cây. Việc chọn đất là mục tiêu xác định và xếp hạn các
diện tích đất có khả năng trồng cao su, cây cao su thích hợp vùng đất cao, thoáng
không bị ngập hoặc úng nước.
Khai hoang nên kết hợp cả 2 phương pháp: khai hoang thủ công và khai hoang
cơ giới để khai thác tận dụng quỹ đất và liền vùng liền thửa. Công tác khai hoang
càng đảm bảo chất lượng thì việc chăm sóc vườn cây về sau càng thuận lợi ít tốn
kém.
- Chống xói mòn: trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, hiện tượng xói mòn, rửa
trôi đất xảy ra ngay sau khi thảm thực vật tự nhiên bị đốn hạ, mức độ xói mòn càng
nghiêm trọng trên các đất dốc, đất sườn đồi. Vì vậy cần áp dụng các biện pháp chống
xói mòn như che phủ mặt đất bằng một thảm thực vật, trồng cao su theo đường đồng
mức...
* Các loại bệnh
Cũng như các loài thực vật khác, cây cao su là mục tiêu tấn công của một số
loài bệnh hại. Theo ước tính của các cơ quan thống kê quốc tế, sâu bệnh đã làm mất
20% sản lượng cao su thiên nhiên thế giới , trong đó các loại bệnh làm mất 15% sản
lượng.
Các loại bệnh cao su hầu hết đều đã được phát hiện, định danh rất sớm phổ biến
như bệnh phấn trắng lá, bệnh héo đen đầu lá, bệnh rụng lá mùa mưa, bệnh nấm hồng,
bệnh loét sọc mặt cạo, bệnh thối mốc mặt cạo, bệnh khô mủ ... Mức độ tác hại của mỗi
loại bệnh thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai, phương pháp chăm sóc ... dẫn
đến các loại bệnh gây tác hại trầm trọng ở một vùng nhưng ở vùng khác thì mức độ ảnh
Khai thác mủ (cạo mủ) là tạo nên một vết cắt lấy đi một khoảng vỏ trên vỏ
kinh tế của cây cao su. Động tác này chủ yếu là cắt ngang các ống mủ nằm trong lớp
vỏ cạo khiến cho chất dịch đang chưa trong ống mủ chảy tràn ra ngoài để thu được
một sản phẩm đặc biệt gọi là mủ cao su.
Các nước trồng cao su trên thế giới đã đầu tư nhiều công sức để nghiên cứu tìm
các biện pháp cạo mủ hợp lý nhằm đảm bảo chẳng những thu được mức sản lượng tối
đa tại thời điểm khai thác mà còn phải đảm bảo sức khoẻ cho cây để có thể khai thác
Nguyễn Cảnh Sơn
11
Khóa luận tốt nghiệp
đủ niên hạn kinh tế của cây. Cho đến nay, việc cạo mủ cao su là một công tác được lặp
lại hầu như suốt năm theo một định kỳ nhất định ( 2 - 3 ngày/lần) và kéo dài từ 20 - 30
năm.
Sản lượng khai thác mủ cao su phụ thuộc vào:
- Tiêu chuẩn cây cạo
Cây đạt tiêu chuẩn thu hoạch ( mỏ cạo) khi bề vòng thân cây đo cách mặt đất
1 m đạt từ 50 cm trở lên, độ dày vỏ ở độ cao 1 m cách mặt đất phải đạt từ 6 mm trở
lên. Lô cao su KTCB có từ 50% trở lên số cây hữu hiệu đạt tiêu chuẩn mở cạo thì
được đưa vào cạo mủ.
-Thời vụ cạo mủ cao su trong năm
Mở miệng cạo các vườn cây mới đưa vào khai thác được tiến hành vào các
tháng 3 - 4 và tháng 10. Đối với cạo úp, mở miệng cạo vào các tháng 3 - 4 ( cạo úp cả
năm), tháng 7 (cạo úp 7 tháng/năm) hoặc tháng 9 ( cạo úp 5 tháng/năm)
Rụng lá sinh lý hàng năm sớm hay muộn tuỳ theo dòng vô tính, nền đất trồng
( đỏ, xám), vùng tiểu khí hậu. Vì vậy vườn cây nào rụng lá trước thì cho nghỉ trước.
Nghỉ cạo lúc lá bắt đầu nhú chân chim, cạo mủ lại khi cây có tán lá ổn định. Vườn
cây nào có tán lá ổn định trước thì cho cạo trước.
- Độ sâu cạo mủ: cạo cách tượng tầng 1,0 - 1,3 mm đối với cả 2 miệng ngửa
và úp. Tránh cạo cạn, cạo sát, cạo phạm .
- Tiêu chuẩn đường cạo: đường cạo phải đúng độ dốc quy định, có lòng máng,
phương tiện đển thực hiện tái sản xuất và là khâu trung gian cần thiết giữa người sản
xuất và người tiêu dùng. Xác định thị trường cho sản phẩm có tác dụng quan trọng
nhằm xác định đúng mục tiêu, kế hoạch sản xuất của ngành. Vì vậy nghiên cứu thị
trường luôn là vấn đề quan tâm đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, các nhà
nghiên cứu kinh tế.
+ Giá cả: Song song với vấn đề lựa chọn thị trường, thì vấn đề giá cả các
nguyên liệu đầu vào cũng như sản phẩm đầu ra là vấn đề có thể quyết định rất lớn
đến thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt hơn, cao su là cây công
nghiệp lâu năm nên yếu tố biến động giá cả ảnh hưởng rất lớn. Sản xuất cao su là quá
Nguyễn Cảnh Sơn
13
Khóa luận tốt nghiệp
trình sản xuất hàng hóa, do vậy sẽ luôn gắn với thị trường và giá cả cũng chư chịu sự
tác động của chúng.
- Sự phát triển hệ thống dịch vụ
Sự phát triển của hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất có tác động rất lớn đến việc
hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa. Nó đảm bảo cho quá trình sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm được diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả, đồng thời nó
góp phần nâng cao giá trị của nông sản hàng hóa nói chung và hàng hóa cao su nói
riêng.
Số lượng các cơ sở chế biến và các doanh nghiệp kinh doanh càng lớn cho
thấy mức độ cạnh tranh trong hệ thống thị trường càng cao, điều này sẽ tạo ra được
những thuận lợi nhất định cho người sản xuất.
1.3.2. Các nhân tố vi mô
- Mức độ tập trung hoá sản xuất
Tập trung hóa là quá trình tập trung các yếu tố sản xuất như: vốn, đất đai, lao
động và tư liệu sản xuất để nâng cao quy mô sản xuất ra sản phẩm. Quá trình đó có
thể diễn ra theo chiều rộng và chiều sâu.
Tập trung hóa trong nông nghiệp trước hết phải là quá trình tập trung hóa về
ruộng đất. Mức độ tập trung về ruộng đất lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: chính
cao, mang cả đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và công nghiệp với quy trình kỹ
thuật canh tác và công nghệ chế biến phức tạp nên việc bố trí, quản lý lại càng quan
trọng trong sản xuất kinh doanh.
1.4. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, điều kiện thu thập số liệu chúng tôi sử dụng
các chỉ tiêu sau để đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra.
1.4.1. Tổng Giá trị sản xuất (GO)
Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ do lao động sản xuất xã hội tạo
ra trong một kỳ nhất định, thông thường là một năm.
GO = P x Q Trong đó: P: giá bán/kg mủ cao su
Q: sản lượng mủ cao su
1.4.2. Chi phí
Nguyễn Cảnh Sơn
15
Khóa luận tốt nghiệp
- Chi phí trung gian ( IC): là bộ phận cấu thành tổng giá trị sản xuất bao gồm: chi
phí vật chất và chi phí thuê ngoài (thuê Lao động).
- Chi phí đầu tư cơ bản bình quân 1ha: là toàn bộ các khoản chi phí cho khai hoang,
trồng và chăm sóc vườn cây Cao su từ khi bắt đầu cho đến năm đầu tiên cho sản phẩm.
- Tổng chi phí sản xuất ( TC): là toàn bộ các hao phí về vật chất, dịch vụ và lao
động đã đầu tư cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong chu kỳ sản xuất
TC = IC + KH + Công lao động gia đình
1.4.3. Chỉ tiêu (GO- TC)
- GO -TC: là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí sản
xuất, đây là chỉ tiêu để xác định năm hoà vốn hoạt động.
Giá trị (GO- TC)/TC: chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị chi phí bỏ ra thì
thu về được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng.
1.4.4. Chỉ tiêu lợi nhuận
- Lợi nhuận: là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh; là một khoản
tiền dôi ra giữa tổng doanh thu và tổng chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lợi nhuận/đơn vị sản phẩm
1.5. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CAO SU TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TẠI VIỆT NAM
1.5.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trên thế giới
Cuối thế kỷ XIX, khi rời vùng nguyên quán Amazone (Nam Mỹ), cây cao su
Hevea Brasiliensis đã được phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới. Mặc dù
cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ, nhưng các quốc gia ở Châu Á mới là các quốc gia
sản xuất chính ngành hàng này.
Bảng 1: Diện tích trồng cao su tại các quốc gia chính
ĐVT: 1000đ
Nước 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Malaysia 1465 1431 1389 1348 1315 1275 1237
Indonesia 545 549 507 493 518 514 512.4
Thailand 1985 1988 1988 2004 2019 2107 2133
Việt Nam 394.9 412 415.8 428.8 440.8 454.1 480.2
Nguồn: Cơ quan thống kê cao su thế giới
Nguyễn Cảnh Sơn
17
Khóa luận tốt nghiệp
Trong đó Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam là
các nước sản xuất chính, các nước xuất khẩu chính là Malaysia, Thái Lan, Indonesia
và Việt Nam .Thái Lan là quốc gia đứng đầu trên thế giới về diện tích, năng suất và
sản lượng cao su. Đứng vị trí thứ hai và thứ ba là Malaysia và Indonesia. Việt Nam
đứng thứ tư trên thế giới về nguồn cung cấp cao su thiên nhiên.
Diện tích cây cao su thiên nhiên tăng mạnh trong những năm đầu thế kỷ XX:
năm 1905 toàn thế giới trồng được 52000 ha, sản lượng cao su đạt khoảng 49,9 nghìn
tấn. Đến năm 1910 được 455.000 ha với sản lượng cao su đạt mức cao nhất là 80
nghìn tấn. Theo viện nghiên cứu cao su Malaysia thì tổng diện tích cao su hiện nay
khoảng 9,7 triệu ha và được trồng trên 30 nước. Châu Á, đặc biệt là các nước Đông
Nam Á chiếm khoảng 90% sản lượng cao su thiên nhiên thế giới, khoảng 75% sản
2003
440,8 363,5 13,63
2004
450,9 400,1 13,10
2005
480,3 436,5 14,14
Nguồn: www.Agroviet.gov.vn
Như vậy, những năm qua một số địa phương đã có những cố gắng tích cực
trong công tác phát triển diện tích trồng cây cao su do người dân thực sự thấy được
những giá trị mang lại từ vườn cây cao su. Do vậy, diện tích và sản lượng cao su đã
tăng lên qua các năm.
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại ba mô hình tổ chức sản xuất cao su như sau:
- Cao su Quốc doanh của Tổng công ty cao su quản lý, đến năm 2006 có
217.674 ha, trong đó có 178.457 ha đang khai thác mủ, trải rồng từ Đông Nam Bộ đến
Tây Nguyên và miền Trung, xuất khẩu 290.000 tấn chiếm 72% tổng sản lượng xuất
khẩu cao su Việt Nam. Công ty cao su Quốc doanh thực hiện nhiệm vụ trồng, chăm
sóc, khai thác và sơ chế mủ cao su. Mô hình này có tổ chức hoàn chỉnh gồm 4 cấp: cấp
công ty, cấp nông trường, cấp đội và cấp tổ chức sản xuất. Tổ chức cao su Quốc doanh
có ưu điểm là tập trung được nguồn vốn, có tư cách pháp nhân được liên doanh với
nước ngoài, ứng dụng công nghệ mới nhanh. Tuy vậy, mô hình này lại đòi hỏi vốn đầu
tư lớn, dài hạn và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, bộ máy quản lý tốn kém...
- Cao su Quốc doanh địa phương: Đó là các công ty nông trường Quốc doanh
trực thuộc tỉnh, phần lớn tập trung tại vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung.
Nguyễn Cảnh Sơn
19
Khóa luận tốt nghiệp
- Cao su tiểu điền: Cao su tiểu điền phần lớn là do nông dân hay công nhân
cao su có đất và vốn hay vay vốn của các quỹ tín dụng để tiến hành sản xuất với quy
mô dưới 4 ha. Hầu hết chất lượng của các vườn cây cao suchưa cao do chưa áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây, kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác mủ.
nội thất. Sản xuất đồ gỗ cao su nội thất xuất khẩu hiện là một hoạt động đầy tiềm
năng của ngành cao su Việt Nam. Nguyên liệu gỗ từ vườn cao su được thanh lý để
chuẩn bị tái canh chưa đủ cung cấp gỗ cho các nhà máy chế biến gỗ trong cả nước,
hàng năm có khoảng 100.000–120.000 m
3
gỗ phôi/năm được cung cấp từ vườn cao
su.
1.6. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ
Cây cao su được trồng tại Thừa Thiên Huế lần đầu tiên vào năm 1993, với giá
trị kinh tế cao và kỹ thuật chăm sóc tương đối đơn giản, cho nên quy mô diện tích
cũng như sản lượng mủ cao su trên địa bàn đã phát triển một cách nhanh chóng.
Trong những năm qua được sự đầu tư của dự án đa dạng hóa nông nghiệp,
Tỉnh Thừa Thiên Huế đã thành lập ban chỉ đạo trồng và chăm sóc cây cao su. Sau khi
tiếp quản diện tích cao su trồng theo chương trình dự án 327-CP, tỉnh đã nhanh chóng
phân loại và đưa vào đầu tư chăm sóc 1382 ha. Cơ sở hạ tầng cũng được xây dựng
cho các vùng trồng cao su với 30km đường cấp phối và trên 7 km đường lô. Hầu hết
diện tích cao su đều có đường ô tô nên thuận lợi cho việc đầu tư thâm canh và khai
thác mủ. Hầu hết các hộ tham gia dự án trồng cao su đều được Nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công tác giải ngân vốn đầu tư cho các hộ
được thực hiện 2 lần/ năm theo mùa vụ chăm sóc đã khuyến khích các hộ
nghèo tham gia tích cực. Nếu như trong giai đoạn 1993 – 1997, toàn tỉnh chỉ trồng
được 1.600 ha, thì đến giữa năm 2007, diện tích này đã lên đến 8.500 ha, tập trung
nhiều nhất là huyện Nam Đông với gần 3.000ha, Phong Điền 2.500ha, Hương Trà
2.500ha... Diện tích cao su được khai thác trong năm 2007 là gần 3.500 ha, sản lượng
mủ khô trên 3.000 tấn và kim ngạch xuất khẩu cao su đạt hơn 7 triệu USD/năm.
Nguyễn Cảnh Sơn
21
Khóa luận tốt nghiệp
Bảng 4: Diện tích và sản lượng cao su tỉnh Thừa Thiên Huế qua các năm
tích cây cao su toàn tỉnh lên hơn 11.000 ha.
Cây cao su đã thực sự làm đổi thay những vùng đất nghèo khó của Thừa Thiên
Huế và kéo theo sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa và chế
biến xuất khẩu ngay tại vùng nguyên liệu. Cây cao su ngoài những lợi ích về kinh tế
lâu dài còn là loại cây rừng mang tính bền vững giúp cải tạo tốt môi trường sinh thái
và cảnh quan nhưng cũng không ít khó khăn thách thức. Nếu được sự quan tâm đúng
mức của các ngành các cấp chắc chắn sẽ tạo thêm động lực mới trong phát triển kinh
tế nông nghiệp từ cao su góp phần tích cực trong xoá đói giảm nghèo cho đồng bào
vùng sâu, vùng xa của Thừa Thiên Huế.
Nguyễn Cảnh Sơn
23
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CAO SU
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯƠNG TRÀ – TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hương Trà có tổng diện tích tự nhiên là 520,9088 km2, chiếm 10,31% so với
tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế. Toàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn,
trong đó có 2 xã thuộc vùng đầm phá ven biển, 5 xã vùng núi, còn lại 8 xã và 1 thị
trấn thuộc vùng đồng bằng và bán sơn địa.
Huyện Hương Trà nằm trong tuyến hành lang Huế - Đông Hà, nằm trên trục
giao thông Bắc - Nam về đường bộ và đường sắt. Trung tâm hành chính - kinh tế - văn
hóa của huyện là thị trấn Tứ Hạ, cách thành phố huế 17 km về phía Bắc; có hai con
sông lớn nhất tỉnh bao quanh là sông Hương và Sông Bồ; do ở vào vị trí trung độ của
cả tỉnh nên Hương Trà tiếp giáp với phần lớn các huyện, thành phố trong tỉnh.
- Phía Bắc giáp biển Đông và huyện Quảng Điền;
- Phía Tây giáp huyện Phong Điền;
- Phía Đông giáp thành phố Huế, huyện Hương Thủy và huyện Phú Vang;
- Phía Nam giáp huyện A lưới.
trồng hợp lý.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Hương Trà 52.090,88 ha, với diện tích
đất khá rộng nhưng chủ yếu vẫn là địa hình đồi núi nên việc phát triển nông nghiệp
gặp rất nhiều khó khăn, bao gồm:
* Đất nông lâm nghiệp, thủy sản 30.494,14 ha, chiếm 58,54 %. Trong đó: Đất
sản xuất nông nghiệp 7.476,93 ha, với diện tích trồng cây lâu năm (cây lâm nghiệp)
là 2.023,64 ha.
* Đất chưa sử dụng 12.448,36 ha chiếm 23,9%. Trong đó có đất bằng 621,87
ha, đất đồi núi 11.748,38 ha…Đây là nguồn tài nguyên lớn để huyện phát triển thêm
diện tích Cao su trong thời gian tới.
Bình quân đất sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản trên 1 nhân khẩu 0,2600
ha/người. Trong đó: bình quân đất sản xuất nông nghiệp trên nhân khẩu 0,0637 ha;
Nguyễn Cảnh Sơn
25