Khóa luận tốt nghiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO
SU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯƠNG TRÀ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Cảnh Sơn
Nguyễn Cảnh Sơn
1
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CAO
SU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯƠNG TRÀ – TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 26
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT
TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯƠNG TRÀ , 68
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
Nguyễn Cảnh Sơn
2
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Cao su có tên gốc là cây Hêvê (Hévéa) mọc dọc theo
sông Amazone ở Nam Mỹ và các vùng kế cận, là cây của vùng
nhiệt đới xích đạo. Cây Cao su được nhập vào nước ta năm 1897,
trải qua 110 năm cây cao su ở Việt Nam đã trở thành cây công
nữa, Thừa Thiên Huế được xem là vùng ngoài truyền thống về phát triển cây cao su,
người dân địa phương mới bắt đầu thích nghi, trình độ tay nghề chưa có, cán bộ kỹ
thuật thiếu, yếu
Hương Trà là một huyện đồng bằng của tỉnh Thừa thiên Huế có đầy đủ các
dạng địa hình từ vùng đồi núi, đồng bằng đến đầm phá ven biển. Bên cạnh những
lợi thế để phát triển sản xuất công nghiệp, dịch vụ; Hương Trà cũng có nhiều lợi thế
về điều kiện tự nhiên, đất đai, mặt nước để phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng
và phong phú. Tuy nhiên trong những năm qua, sản xuất nông lâm ngư nghiệp trên
địa bàn huyện tăng trưởng chưa cao, cơ cấu sản xuất nông lâm ngư nghiệp chuyển
dịch chậm, kinh tế trang trại chưa phát triển. Trong những năm gần đây, theo định
hướng phát triển kinh tế của tỉnh, diện tích trồng cây cao su trên địa bàn huyện đã
phát triển nhanh chóng, góp phần không nhỏ đến việc cải thiện đời sống của người
dân, cũng như thay đổi diện mạo nơi đây. Năm 1993 toàn huyện trồng được 67,69
ha (thuộc 92 hộ), đến năm 2005 quy mô diện tích đã được mở rộng lên đến 2007 ha
(thuộc 1.524 hộ) và đến nay diện tích cao su trên địa bàn huyện đã lên đến 2.156 ha
(thuộc 1.715 hộ). Mô hình trồng cây cao su trên địa bàn huyện Hương Trà đã đạt
được những thắng lợi bước đầu quan trọng, bên cạnh đó vẫn bộc lộ nhiều hạn chế
nhất định làm ảnh hưởng đến việc phát triển cao su tiểu điền không đạt được hiệu
quả kinh tế cao nhất như mong muốn.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Tình hình phát triển
sản xuất Cao su trên địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm khóa
luận tốt nghiệp của mình.
* Mục đích, nội dung của đề tài:
- Đánh giá thực trạng cũng như kết quả, hiệu quả sản xuất và tiêu thụ cao su
trên địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất cao su trên địa bàn
huyện trong thời gian tới.
Nguyễn Cảnh Sơn
4
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Cảnh Sơn
5
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: hiệu quả kinh tế của Doanh nghiệp/ đơn vị
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ và năng lực quản trị, đảm bảo sử dụng tất
cả các nguồn lực của DN nhằm đạt được kết quả nhất định với chi phí tối thiểu.
Qua quan điểm trên, ta thấy hiệu quả kinh tế của Doanh nghiệp/ đơn vị được
biểu hiện qua 02 phạm trù đó là kết quả và chi phí.
Kết quả là những gì đạt được sau quá trình kinh doanh được đo bằng các chỉ
tiêu như doanh thu, lợi nhuận, sản lượng.
Chi phí là toàn bộ những hao phí lao động sống và vật hoá vào sản phẩm
kinh doanh cho 1 thời kỳ nhất định thường được tính theo tháng, quý, năm .
Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả sản xuất kinh doanh trước hết là một đại lượng
so sánh giữa đầu ra và đầu vào, so sánh giữa hiệu quả đạt được và các chi phí sản
xuất kinh doanh, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của xã hội, thước đo của
hiệu quả là sự tiết kiệm chi phí lao động xã hội, tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa
hoá kết quả đạt được hoặc tối thiểu hoá chi phí, là nhà kinh doanh làm thế nào để
tối đa hoá kết quả đạt được và tối thiểu hoá chi phí là một nhiệm vụ hàng đầu.
Quan điểm thứ hai do ngành thống kê đưa ra: hiệu quả sản xuất kinh doanh
là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh
trình độ khai thác các nguồn lực với chi phí, trình độ, các nguồn lực đó trong quá
trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Ngoài ra còn có các quan điểm khác như: hiệu quả nghĩa là không lãng phí,
hay hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ chi phí
trong một đơn vị hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích của lao động sản
thích hợp thì có thể rút ngắn thời gian KTCB từ 06 tháng đến 01 năm.
- Thời kỳ kinh doanh (TKKD):
Nguyễn Cảnh Sơn
7
Khóa luận tốt nghiệp
Là khoảng thời gian khai thác mủ cao su, cây cao su được khai thác khi có
trên 50% tổng số cây có vanh thân đạt từ 50 cm trở lên, giai đoạn kinh doanh có thể
dài từ 25 - 30 năm. Trong giai đoạn này cây vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng ở mức
thấp hơn nhiều so với giai đoạn KTCB. Sản lượng mủ thấp ở những năm đầu tiên,
sau đó cao dần ở những năm cạo thứ ba, thứ tư đến năm thứ năm, năm thứ sáu năng
suất đạt cao dần và ổn định. Sau giai đoạn trung niên khi cây ở tuổi cạo từ năm thứ
18 trở đi năng suất giảm nhanh do ảnh hưởng tới các yếu tố sinh lý, gãy đổ do mưa
bão, bệnh… làm giảm mật độ vườn cây đồng thời năng lực tái tạo mủ của cây cũng
giảm sút. Các yếu tố này là nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng suất mủ cao su.
1.2.2. Đặc tính của mủ cao su
Mủ nước là sản phẩm chính thu được từ mủ cao su. Mủ nước là một dung
dịch thể keo, màu trắng đục như sữa hoặc có màu hơi vàng hoặc hơi hồng tuỳ theo
giống cây. Mủ nước có tỷ trọng từ 0,974 ( khi mủ có độ DRC = 40%) đến 0,991
( khi DRC = 25%)
Thành phần mủ nước trung bình gồm:
- Cao su = 30 - 40%, Nhựa ( Resine) = 1,5 - 2%, Nước = 55 - 60%, đường,
Indositol = 1%, Protêin = 2%, Chất khoáng = 0,5 - 1%.
Trong mủ nước có nhiều loại hạt như: phân tử cao su, hạt Lutoid, hạt Frey -
Wyssling chứa trong 1 dung dịch gọi là mủ thanh. Mủ thanh có cấu tạo gồm nước
có hoà tan nhiều chất muối khoáng, Acid, đường, muối hữu cơ, kích thích tố, sắc tố,
enzym, có PH = 6,9 và có điểm đẳng điện thấp. Kết quả theo dõi cho thấy mủ nước
thu được vào buổi trưa có chứa hàm lượng đường, prôtein và tro là 300%, 100% và
50% so với mủ nước buổi sáng.
1.2.3. Vai trò và giá trị kinh tế của cây Cao su
Cây cao su từ khi trở thành hàng hoá, công dụng của nó ngày càng được mở
lợi ích thiết thực cho đất nước tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ.
1.2.4. Điều kiện và yêu cầu để phát triển sản xuất Cao su
Để cây Cao su phát triển tốt và cho hiệu quả cao cần chú ý đến các yêu cầu
về kỹ thuật trồng. Các yêu cầu đó là:
- Nhiệt độ: Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp từ 25 -
30
0
C. Các vùng trồng cao su trên Thế giới hiện nay phần lớn ở vùng khí hậu nhiệt
đới có nhiệt độ bình quân năm bằng 28
0
+ 2
0
C và biên độ nhiệt trong ngày là 7 -
Nguyễn Cảnh Sơn
9
Khóa luận tốt nghiệp
8
0
C. Ở nhiệt độ 25
0
C năng suất cây đạt mức tối hảo, nhiệt độ mát dịu vào buối sáng
sớm ( 1 - 5 giờ sáng) giúp cây sản xuất mủ cao nhất.
- Lượng mưa: Cây cao su có thể trồng ở các vùng đất có lượng mưa từ 1.500
- 2.000 mm nước/năm. Ở những nơi không có điều kiện đất thuận lợi, cây cao su
cần lượng mưa từ 1.800 - 2.000 mm nước/năm. Các trận mưa lớn kéo dài nhất là
các trận mưa buổi sáng gây trở ngại cho việc cạo mủ và đồng thời làm tăng khả
năng lây lan, phát triển của các loại nấm bệnh gây hại trên mặt cạo cây cao su.
- Gió: gió nhẹ 1 - 2m/s có lợi cho cây cao su vì gió giúp cho vườn cây thông
thoáng, hạn chế được bệnh và giúp cho vỏ cây mau khô sau khi mưa. Trồng cao su
ở nơi có gió mạnh thường xuyên, gió bão, gió lốc sẽ gây hư hại cho cây cao su, làm
Do vậy, trong điều kiện có thể lựa chọn được nên trồng cao su ở đất có ít dốc.
Nhận thức được vấn đề này, trong việc phát triển cây Cao su ở huyện Hương
Trà đã chú ý đến độ dốc: đối với những Xã đất có độ dốc dưới 10
0
thì trồng theo
hàng ngang (cây cách cây 3m, hàng cách hàng 6m), với đất có độ dốc trên 10
0
thì
trồng theo đường đồng mức để giảm thiểu tác động của gió bão ảnh hưởng tới sự
phát triển của cây.
Ngoài ra, với khí hậu mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuộc vùng
khí hậu trung du núi thấp, có nhiệt độ trung bình năm là 25
0
C; tầng đất dày > 120 cm,
lượng mưa trung bình năm: 1.500 - 2.500
mm
/năm, số ngày mưa bình quân năm: 150
ngày; số giờ nắng cả năm: 2.266 giờ là điều kiện thích hợp cho cây cao su phát triển.
* Các yêu cầu kỹ thuật trồng cao su
Do cây cao su có chu kỳ sống dài trên 30 năm, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu
lớn, thời gian đầu tư ban đầu ( Kiến thiết cơ bản) kéo dài nhiều năm ( từ 7 - 8 năm)
cho nên tất cả các khâu trong công tác trồng phải được chuẩn bị chu đáo và triển
khai đúng quy trình.
Mục tiêu của công tác trồng cao su là phải tạo nên một vườn cây có:
- Mật độ đông đặc tốt ( đảm bảo 95% mật độ thiết kế vào năm trồng) và tỷ lệ
đồng đều cao để khi đưa vào khai thác số cây cạo nhiều sẽ cho sản lượng cao.
- Rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản bằng cách đầu tư thâm canh, chọn đất
thích hợp đối với quy mô phát triển cao su đại điền nên chọn các vùng liền khoảnh
có diện tích tương đối tập trung nhằm giảm thiểu chi phí đầu tư đường vận chuyển
Nguyễn Cảnh Sơn
không được kiểm dịch thích hợp thì việc xâm nhập và phát triển các loại bệnh trên
Nguyễn Cảnh Sơn
12
Khóa luận tốt nghiệp
vẫn có nguy cơ xuất hiện tại các vùng này. Kinh nghiệm cho thấy trong cùng một
vùng sinh thái dễ nhiễm bệnh, mức độ bệnh được ghi nhận là nhẹ trên các diện tích
có phòng trị bệnh kịp thời so với mức độ bệnh nặng ở các diện tích không được
phòng trị đúng mức.
Ở huyện Hương Trà, một số diện tích đã xuất hiện bệnh: loét sọc mặt cạo và
nứt vỏ xì mủ (khoảng 1- 2% số cây trên 1 ha) đã làm giảm đi sản lượng mủ đáng kể.
Để việc phòng trị bệnh có hiệu quả, cần thực hiện nghiêm chỉnh các biện
pháp sau:
- Phải có một đội ngủ bảo vệ thực vật tương xứng với quy mô diện tích và
tình trạng bệnh hại. Đội ngủ bảo vệ thực vật và công nhân phải được tập huấn nâng
cao tay nghề cũng như trình độ hiểu biết về các loại bệnh.
Thường xuyên kiểm tra vườn cây nhất là các thời điểm bộc phát của mỗi loại
bệnh. Phải định danh đúng loại bệnh và xác định đúng mức độ bệnh.
- Đối với vườn cây khai thác, một số bệnh xảy ra vào mùa mưa, có độ ẩm
cao và nhiệt độ thấp, cần phòng tránh không cạo mủ khi cây còn ướt, vườn cây phải
sạch cỏ, thông thoáng, thường xuyên làm vệ sinh mặt cạo.
- Ngay sau khi phát hiện bệnh, phải triển khai ngay việc phòng trị để giảm bớt
tác hại của bệnh đồng thời nâng cao hiệu quả và giảm chi phí cho việc chữa bệnh.
- Sử dụng đúng loại thuốc, đúng liều lượng và đúng phương pháp để dập tắc
ngay sự lây lan của bệnh.
- Sau mỗi đợt trị bệnh, phải kiểm kê đánh giá lại mức độ bệnh để có kế
hoạch hữu hiệu cho đợt trị bệnh tiếp theo.
* Kỹ thuật khai thác mủ
Khai thác mủ (cạo mủ) là tạo nên một vết cắt lấy đi một khoảng vỏ trên vỏ
kinh tế của cây cao su. Động tác này chủ yếu là cắt ngang các ống mủ nằm trong
lớp vỏ cạo khiến cho chất dịch đang chưa trong ống mủ chảy tràn ra ngoài để thu
giờ trưa mà vỏ cây còn ướt thì cho nghỉ cạo.
Nguyễn Cảnh Sơn
14
Khóa luận tốt nghiệp
Tóm lại, cạo mủ là một công việc đòi hỏi sự khéo léo, trình độ kỹ thuật và
tính kỷ luật cao. Sự khai thác cao su hợp lý sẽ tạo nên sự cân bằng giữa hoạt động
tái tạo mủ của các tế bào ống mủ với những hoạt động sinh lý khác trong cây nhằm
đảm bảo thu được sản lượng mủ cao mà không ảnh hưởng đến đời sống lâu dài của
cây nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho cây cao su.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU
Để đánh giá một cách chi tiết ta phải xét đến các nhân tố ảnh hưởng, mức độ
tác động của từng nhân tố đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây để từ đó
thấy được những hướng tác động khác nhau của từng nhân tố mà có biện pháp thích
hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mủ cao su, chúng ta có thể xếp
chúng thành những nhân tố sau.
1.3.1. Các nhân tố vĩ mô
- Chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế
Chính sách kinh tế là những tác động vĩ mô của nhà nước đối với sản xuất
kinh doanh, nó có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển hay kìm hãm nền
kinh tế xã hội nói chung và trong lĩnh vực sản xuất cao su nói riêng. Mỗi chính sách
phù hợp với một thời kỳ nhất định, tương ứng với một điều kiện kinh tế xã hội nhất
định. Vì vậy, các chính sách kinh tế luôn phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện
thực tế. Đối với sản xuất cao su, cần phải sản xuất trên quy mô lớn, tập trung và yêu
cầu về vốn lớn nên cần có những chính sách chung và chính sách riêng phù hợp với
những đặc điểm sản xuất của nó.
- Thị trường - giá cả
+ Thị trường: trong nền kinh tế phát triển, thị trường vừa là điều kiện vừa là
phương tiện đển thực hiện tái sản xuất và là khâu trung gian cần thiết giữa người
sản xuất và người tiêu dùng. Xác định thị trường cho sản phẩm có tác dụng quan
trọng nhằm xác định đúng mục tiêu, kế hoạch sản xuất của ngành. Vì vậy nghiên
các yếu tố đó có sự phối hợp chặt chẽ nhất để có thể tạo ra nhiều sản phẩm nhất.
- Mức độ đầu tư thâm canh
Thâm canh trong sản xuất nông nghiệp là việc áp dụng những thành tựu khoa
học kỹ thuật về di truyền chọn giống cây trồng và vật nuôi, sử dụng phân bón, thuỷ
Nguyễn Cảnh Sơn
16
Khóa luận tốt nghiệp
lợi, thuốc trừ sâu, các công cụ cơ giới hóa nhằm làm tăng năng suất, sản lượng cây
trồng nông nghiệp và giảm sự tiêu hao sức lao động trên một đơn vị sản phẩm sản
xuất ra, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu lương thực trong nước và tăng kim ngạch
xuất khẩu nông sản.
Với quỹ đất nông nghiệp đang ngày một thu hẹp, tình trạng thiếu nông phẩm
hoành hành và sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường như hiện nay thì mức
độ thâm canh càng mang ý nghĩa quan trọng hơn. Tuy nhiên bên cạnh việc gia tăng
mức độ thâm canh cây trồng cần phải chú trọng đến hoạt động bảo vệ tài nguyên và
môi trường nhằm phát triển nông nghiệp một cách bền vững.
- Tổ chức sản xuất
Đa dạng hóa nông nghiệp là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta. Sản xuất cao su phải được tiến hành trên quy mô tương đối lớn. Do vậy, việc quy
hoạch, nghiên cứu tổ chức sản xuất để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế đất đai của
từng vùng là rất quan trọng trong điều kiện đất đai có hạn như hiện nay.
Ngoài ra, vấn đề bố trí sản xuất cũng mang ý nghĩa hết sức to lớn. Sản phẩm
chính của cây cao su là mủ cao su, yêu cầu mủ nước sau khi khai thác ở vườn cây
cần phải đưa nhanh đến nhà máy chế biến. Do vậy, bố trí sản xuất trồng cao su phân
tán sẽ làm giảm chất lượng mủ trong quá trình vận chuyển, đồng thời sẽ làm tăng
chi phí vận chuyển.
Quá trình sản xuất cao su là quá trình sản xuất có trình độ chuyên môn hóa
cao, mang cả đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và công nghiệp với quy trình kỹ
thuật canh tác và công nghệ chế biến phức tạp nên việc bố trí, quản lý lại càng quan
trọng trong sản xuất kinh doanh.
1.4.5. Năm hòa vốn hoạt động
Là năm mà doanh thu từ hoạt động trồng cao su năm đó bù đắp được chi phí
hoạt động trong năm đó.
1.4.6. Năm hoà vốn đầu tư
Là năm mà hiện giá tích lũy của doanh thu bù đắp được hiện giá tích lũy của
chi phí. Chỉ tiêu này giúp cho các đơn vị xác định được đến năm nào đó hoạt động
kinh doanh cây cao su đã bù đắp được chi phí đầu tư và bắt đầu có lãi.
1.4.7. Giá trị tương lai của khoản đầu tư (FV)
FV= ∑ A
i
* (1+ r)
n
Nguyễn Cảnh Sơn
18
Khóa luận tốt nghiệp
Trong đó: FV là giá trị tương lai
A
i
: Doanh thu năm thứ i
r: lãi suất chiết khấu, được xác định bằng lãi suất cho vay của ngân
hàng theo Dự án là 10,2%/năm.
i: Năm thứ i
n: Số năm của chu kỳ sản xuất
Trong báo cáo này chúng tôi quy đổi tất cả các khoản đầu tư của 12 năm về
hiện giá tại thời điểm năm 2008.
Ngoài ra để phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế ta còn sử dụng các chỉ tiêu:
- Lợi nhuận/ha
- Lợi nhuận/đơn vị sản phẩm
1.5. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CAO SU TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TẠI VIỆT NAM
1.5.2.1. Tình hình sản xuất
Ở Việt nam, cao su bắt đầu được gieo trồng từ năm 1897 do Raoul, một dược
sỉ hải quan Pháp mang một số hạt giống cao su từ vườn thực nghiệm Buitnzorg
(Java) đem trồng lần đầu tiên tại trạm thí nghiệm ỏ Sông Bé và tại trại thí nghiệm
của viện Pasteur tại suối Dầu Nha Trang do bác sĩ Yersin nhận 200 cây giống cao
su từ vườn Bách Thảo Sài Gòn đã tổ chức nhận trồng. Sau đó ông Yersin đã nhập
nhiều hạt giống cao su từ Srilanca để thành lập đồn điền cao su ở nước ta. Năm
1906, các đồn điền cao su đầu tiên được xây dựng tại Đông Nam Bộ.
Từ sau năm 1975 hậu quả của chiến tranh và cơ chế bao cấp đã kìm hãm sự
phát triển của ngành cao su. Sau thời kỳ đổi mới ngành cao su đã dần cải thiện được
vị trí cùa mình. Năm 1991 đến nay một số nông trường được giải thể hay sát nhập
một phần diện tích đất quy hoạch mà chưa sử dụng đến giao lại cho các địa phương
theo nghị định NĐ 388/HĐBT. Năm 1997, diện tích cao su tăng lên đến 329.400 ha
với sản lượng 180.700 tấn và lên đến 403.775 vào năm 2000. Diện tích, sản lượng
cao su Việt Nam qua các năm 1999 – 2005 thể hiện qua bảng sau:
Nguyễn Cảnh Sơn
20
Khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2: Diện tích, sản lượng cao su Việt Nam qua các năm 1999 – 2005
Năm Diện tích ( 1000 ha) Sản lượng mủ khô(1000 tấn)
Năng suất
(100kg/ha/năm)
1996
254,2 142,5 5,61
2001
415,8 312,6 12,99
2002
428,6 298,2 12,17
2003
440,8 363,5 13,63
gồm mủ nước và mủ tạp). Theo Hiệp hội cao su Việt Nam thì diện tích cao su tiểu
điền hiện tại đạt khoảng 180.000 ha, tập trung chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ
(65%), Tây Nguyên (23%), Bắc Trung Bộ ( 8%), Nam Trung Bộ (3,8%).
1.5.2.2. Tình hình tiêu thụ
Việt Nam xuất khẩu cao su trên thị trường 46 nước, đối tác lớn nhất là Trung
Quốc, Mỹ, Nhật Bản. Ngoài ra, có các nước như Singapore, Malaixia, Hàn Quốc là
khách hàng mới nhưng khối lượng mua tăng khá nhanh. Theo đánh giá xếp hạng
mới công bố của Hiệp hội cao su Thế giới thì Việt Nam đứng thứ 6 về sản xuất và
đứng thứ 4 về xuất khẩu cao su trên thế giới( sau Thái Lan, Indonesia, Malayxia).
Giá bán cao su của Việt Nam băng 80 – 90% giá bình quân của thị trường thế giới,
điều này chủ yếu do chất lượng sản phẩm chưa cao cũng như quá trình tổ chức xuất
khẩu chưa tốt.
Bảng 3: Thị trường xuất khẩu của cao su Việt Nam sang các thị trường chính
năm 2007
Thị trường Lượng (Tấn) Trị giá (1000 USD)
Trung Quốc 469.975 851.379
Hàn Quốc 32.324 50.768
Đức 30.066 58.606
Đài Loan 22.429 44.580
Nhật bản 11.563 23.823
Nguyễn Cảnh Sơn
22
Khóa luận tốt nghiệp
Nguồn: www.vinanet.vn
Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của nước ta, chiếm
66,38% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước, đạt gần 470 ngàn tấn với trị giá
851,38 triệu USD, tăng 27% về lượng và tăng 64% về trị giá so với năm 2006.
Bên cạnh những sản phẩm chính làm từ nhựa cây cao su thì gỗ cây cao su
giai đoạn cuối vòng đời cũng là một nguồn nguyên liệu có giá trị cao cho sản xuất
đồ gỗ nội thất. Sản xuất đồ gỗ cao su nội thất xuất khẩu hiện là một hoạt động đầy
2000 – 2007
Năm Diện tích (ha) Sản lượng mủ khô (tấn)
2000 2171 82
2001 2100 100
2002 2900 100
2003 4354 363
2004 5546 735
2005 6300 1000
2006 6900 1700
2007 8500 3015
Nguồn: www.Agroviet.gov.vn
Hiện nay, Thừa Thiên Huế đang thực hiện giai đoạn 2 của dự án Đa dạng
hóa nông nghiệp từ 2007 – 2010, trong đó cây cao su được đặc biệt quan tâm với
mục tiêu trồng mới thêm 4.500 ha. Như vậy, với tốc độ nhân rộng diện tích cao su
như hiện nay thì đến 2010, diện tích cao su của Thừa Thiên Huế đạt trên 12.000 ha,
dẫn đầu các tỉnh duyên hải miền Trung về sản lượng cao su thành phẩm.
Có thể nói, cây cao su đang trở thành cây trồng chủ lực trong xóa đói giảm
nghèo ở Thừa Thiên Huế, chưa một loại cây trồng nào ở Thừa Thiên Huế có tốc độ
nhân rộng diện tích nhanh và đem lại hiệu quả kinh tế cao như cao su. Loại cây này
đã thế chỗ cho rất nhiều cây trồng truyền thống hiện nay như sắn, mía, chè, tiêu.
Nguyễn Cảnh Sơn
24
Khóa luận tốt nghiệp
Năm 2009, tỉnh Thừa Thiên-Huế đưa từ 1.300 ha đến 1.500 ha cây cao su
vào khai thác mủ, dự tính sản lượng mủ khô đạt 2.800 tấn, thu 55 tỷ đồng/năm;
trong khi đó sản lượng khai thác được trong năm 2007 vừa qua là 2.015 tấn mủ khô.
Sản phẩm cao su hiện đang được tiêu thụ rất mạnh trên thị trường, nên càng
lôi cuốn người dân phát triển mạnh cây cao su. Trong giai đoạn từ nay đến năm
2012, tỉnh Thừa Thiên-Huế có kế hoạch trồng mới hơn 4.000 ha cây cao su trên
vùng gò đồi tại các huyện Nam Đông, Phú Lộc, Hương Trà, Phong Điền và A Lưới,