Báo cáo “Tình hình phát triển sản xuất Cao su trên địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” - Pdf 16

z
Khóa luận tốt nghiệp

Báo cáo “Tình hình phát triển sản xuất Cao
su trên địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên Huế”
Nguyễn Cảnh Sơn
1
Khóa luận tốt nghiệp
Mục Lục
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Cao su có tên gốc là cây Hêvê (Hévéa) mọc dọc theo sông Amazone ở
Nam Mỹ và các vùng kế cận, là cây của vùng nhiệt đới xích đạo. Cây Cao su được
nhập vào nước ta năm 1897, trải qua 110 năm cây cao su ở Việt Nam đã trở thành
cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm chính của cây Cao su là mủ cao su
được dùng làm nguyên liệu chủ yếu cho nhiều ngành công nghiệp; bên cạnh đó, sản
phẩm phụ của cây cao su như hạt cao su cho tinh dầu quý, gỗ cao su làm nguyên
liệu giấy, làm hàng mộc phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu , cây cao su còn
có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ đất và cân bằng sinh thái.
Hiện nay, giá Cao su tổng hợp tăng cao và chịu ảnh hưởng của giá dầu thô
nên nhiều nước đã chuyển sang sử dụng cao su thiên nhiên. Tuy nhiên, năng lực sản
xuất cao su thiên nhiên không đủ đáp ứng theo tốc độ của nhu cầu cùng với mức
sống cải thiện và sự tăng trưởng dân số trên thế giới. Tình trạng thiếu cao su thiên
nhiên đã được dự đoán từ những thập niên trước đây, nhu cầu cao su thiên nhiên

phát triển nhanh chóng, góp phần không nhỏ đến việc cải thiện đời sống của người
dân, cũng như thay đổi diện mạo nơi đây. Năm 1993 toàn huyện trồng được 67,69
ha (thuộc 92 hộ), đến năm 2005 quy mô diện tích đã được mở rộng lên đến 2007 ha
(thuộc 1.524 hộ) và đến nay diện tích cao su trên địa bàn huyện đã lên đến 2.156 ha
(thuộc 1.715 hộ). Mô hình trồng cây cao su trên địa bàn huyện Hương Trà đã đạt
Nguyễn Cảnh Sơn
3
Khóa luận tốt nghiệp
được những thắng lợi bước đầu quan trọng, bên cạnh đó vẫn bộc lộ nhiều hạn chế
nhất định làm ảnh hưởng đến việc phát triển cao su tiểu điền không đạt được hiệu
quả kinh tế cao nhất như mong muốn.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Tình hình phát triển
sản xuất Cao su trên địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm khóa
luận tốt nghiệp của mình.
* Mục đích, nội dung của đề tài:
- Đánh giá thực trạng cũng như kết quả, hiệu quả sản xuất và tiêu thụ cao su
trên địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất cao su trên địa bàn
huyện trong thời gian tới.
* Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp duy vật biện chứng để xem xét các hiện tượng trong mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau.
- Phương pháp phân tổ thống kê để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến kết quả và hiệu quả sản xuất, kinh doanh cây cao su.
- Phương pháp phân tích chuỗi cung để phân tích quá trình tiêu thụ mủ Cao
Su của nông hộ.
- Phương pháp điều tra thống kê nhằm thu thập số liệu có liên quan đến đề
tài. Số liệu thứ cấp được thu thập từ chính quyền và các ban ngành địa phương. Số
liệu sơ cấp thu thập qua phỏng vấn các hộ trồng cao su tiểu điền, với số mẫu điều
tra là 60 hộ, trong đó 30 hộ ở xã Hương Bình, 15 hộ ở xã Hương Thọ và 15 hộ ở Xã

Qua quan điểm trên, ta thấy hiệu quả kinh tế của Doanh nghiệp/ đơn vị được
biểu hiện qua 02 phạm trù đó là kết quả và chi phí.
Kết quả là những gì đạt được sau quá trình kinh doanh được đo bằng các chỉ
tiêu như doanh thu, lợi nhuận, sản lượng.
Chi phí là toàn bộ những hao phí lao động sống và vật hoá vào sản phẩm
kinh doanh cho 1 thời kỳ nhất định thường được tính theo tháng, quý, năm .
Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả sản xuất kinh doanh trước hết là một đại lượng
so sánh giữa đầu ra và đầu vào, so sánh giữa hiệu quả đạt được và các chi phí sản
Nguyễn Cảnh Sơn
5
Khóa luận tốt nghiệp
xuất kinh doanh, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của xã hội, thước đo của
hiệu quả là sự tiết kiệm chi phí lao động xã hội, tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa
hoá kết quả đạt được hoặc tối thiểu hoá chi phí, là nhà kinh doanh làm thế nào để
tối đa hoá kết quả đạt được và tối thiểu hoá chi phí là một nhiệm vụ hàng đầu.
Quan điểm thứ hai do ngành thống kê đưa ra: hiệu quả sản xuất kinh doanh
là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh
trình độ khai thác các nguồn lực với chi phí, trình độ, các nguồn lực đó trong quá
trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Ngoài ra còn có các quan điểm khác như: hiệu quả nghĩa là không lãng phí,
hay hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ chi phí
trong một đơn vị hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích của lao động sản
xuất trong một thời kỳ nhất định, hay hiệu quả sản xuất là là mức độ hữu ích của
sản phẩm được sản xuất tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải là giá trị.
Tóm lại, tất cả các quan điểm về hiệu quả kinh tế (hoặc hiệu quả sản xuất
kinh doanh) đều xoay quanh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào, với đầu vào là ít
nhất và đầu ra là cao nhất trong đó có thể đề cập đến các lợi ích của xã hội. Hiệu
quả sản xuất kinh doanh không chỉ là thước đo về mặt chất lượng, không những
phản ánh trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của mọi
doanh nghiệp/đơn vị; hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao doanh nghiệp càng

18 trở đi năng suất giảm nhanh do ảnh hưởng tới các yếu tố sinh lý, gãy đổ do mưa
bão, bệnh… làm giảm mật độ vườn cây đồng thời năng lực tái tạo mủ của cây cũng
giảm sút. Các yếu tố này là nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng suất mủ cao su.
1.2.2. Đặc tính của mủ cao su
Mủ nước là sản phẩm chính thu được từ mủ cao su. Mủ nước là một dung
dịch thể keo, màu trắng đục như sữa hoặc có màu hơi vàng hoặc hơi hồng tuỳ theo
giống cây. Mủ nước có tỷ trọng từ 0,974 ( khi mủ có độ DRC = 40%) đến 0,991
( khi DRC = 25%)
Thành phần mủ nước trung bình gồm:
- Cao su = 30 - 40%, Nhựa ( Resine) = 1,5 - 2%, Nước = 55 - 60%, đường,
Indositol = 1%, Protêin = 2%, Chất khoáng = 0,5 - 1%.
Nguyễn Cảnh Sơn
7
Khóa luận tốt nghiệp
Trong mủ nước có nhiều loại hạt như: phân tử cao su, hạt Lutoid, hạt Frey -
Wyssling chứa trong 1 dung dịch gọi là mủ thanh. Mủ thanh có cấu tạo gồm nước
có hoà tan nhiều chất muối khoáng, Acid, đường, muối hữu cơ, kích thích tố, sắc tố,
enzym, có PH = 6,9 và có điểm đẳng điện thấp. Kết quả theo dõi cho thấy mủ nước
thu được vào buổi trưa có chứa hàm lượng đường, prôtein và tro là 300%, 100% và
50% so với mủ nước buổi sáng.
1.2.3. Vai trò và giá trị kinh tế của cây Cao su
Cây cao su từ khi trở thành hàng hoá, công dụng của nó ngày càng được mở
rộng. Hiện nay mủ cao su trở thành một trong bốn nguy ên liệu chính của Ngành
công nghiệp thế giới. Nó đứng sau gang thép, than đá và dầu mỏ. Sản phẩm cần
dùng đến cao su có thể kể đến các loại sau: lốp ô tô chiếm 70% sản lượng cao su thế
giới, kế đến là cao su dùng để làm ống băng truyền, đệm giảm xóc, vật liệu chống
mài mòn, các thiết bị hàng không, dụng cụ gia đình và dụng cụ thể thao
Ngoài giá trị mủ cao su, cây cao su còn có thể cung cấp một lượng gỗ lớn, mặt
hàng đồ gỗ cao su Việt Nam chiếm khoảng 10% trong tổng giá trị đồ gỗ xuất khẩu,
giá gỗ cao su có thể dao động từ 400 - 600 USD/m

đới có nhiệt độ bình quân năm bằng 28
0
+ 2
0
C và biên độ nhiệt trong ngày là 7 -
8
0
C. Ở nhiệt độ 25
0
C năng suất cây đạt mức tối hảo, nhiệt độ mát dịu vào buối sáng
sớm ( 1 - 5 giờ sáng) giúp cây sản xuất mủ cao nhất.
- Lượng mưa: Cây cao su có thể trồng ở các vùng đất có lượng mưa từ 1.500
- 2.000 mm nước/năm. Ở những nơi không có điều kiện đất thuận lợi, cây cao su
cần lượng mưa từ 1.800 - 2.000 mm nước/năm. Các trận mưa lớn kéo dài nhất là
các trận mưa buổi sáng gây trở ngại cho việc cạo mủ và đồng thời làm tăng khả
năng lây lan, phát triển của các loại nấm bệnh gây hại trên mặt cạo cây cao su.
- Gió: gió nhẹ 1 - 2m/s có lợi cho cây cao su vì gió giúp cho vườn cây thông
thoáng, hạn chế được bệnh và giúp cho vỏ cây mau khô sau khi mưa. Trồng cao su
ở nơi có gió mạnh thường xuyên, gió bão, gió lốc sẽ gây hư hại cho cây cao su, làm
bị gãy cành, gãy thân, đổ cây, rễ cây cao su không phát triển sâu và rộng được.
- Giờ chiếu sáng, sương mù:
+ Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp của cây và
như thế ảnh hưởng đến mức tăng trưởng và sản xuất mủ của cây. Ánh sáng đầy đủ
giúp cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao. Giờ chiếu sáng được ghi
nhận tốt cho cây cao su bình quân là 1.800 - 2.800 giờ /năm và tối thiểu khoảng
1.600 giờ - 1.700 giờ/năm.
+ Sương mù nhiều gây một tiểu khí hậu ướt tạo cơ hội cho các loại nấm bệnh
phát triển và tấn công cây cao su như trường hợp bệnh phấn trắng
Nguyễn Cảnh Sơn
9

khí hậu trung du núi thấp, có nhiệt độ trung bình năm là 25
0
C; tầng đất dày > 120 cm,
lượng mưa trung bình năm: 1.500 - 2.500
mm
/năm, số ngày mưa bình quân năm: 150
ngày; số giờ nắng cả năm: 2.266 giờ là điều kiện thích hợp cho cây cao su phát triển.
* Các yêu cầu kỹ thuật trồng cao su
Nguyễn Cảnh Sơn
10
Khóa luận tốt nghiệp
Do cây cao su có chu kỳ sống dài trên 30 năm, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu
lớn, thời gian đầu tư ban đầu ( Kiến thiết cơ bản) kéo dài nhiều năm ( từ 7 - 8 năm)
cho nên tất cả các khâu trong công tác trồng phải được chuẩn bị chu đáo và triển
khai đúng quy trình.
Mục tiêu của công tác trồng cao su là phải tạo nên một vườn cây có:
- Mật độ đông đặc tốt ( đảm bảo 95% mật độ thiết kế vào năm trồng) và tỷ lệ
đồng đều cao để khi đưa vào khai thác số cây cạo nhiều sẽ cho sản lượng cao.
- Rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản bằng cách đầu tư thâm canh, chọn đất
thích hợp đối với quy mô phát triển cao su đại điền nên chọn các vùng liền khoảnh
có diện tích tương đối tập trung nhằm giảm thiểu chi phí đầu tư đường vận chuyển
và nhất là việc quản lý được tập trung, tuân thủ quy trình kỹ thuật nghiêm ngặc sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Cần lưu ý nền đất là một trong những yếu tố cơ bản có tính quyết định đến
hiệu quả kinh tế của vườn cây. Việc chọn đất là mục tiêu xác định và xếp hạn các
diện tích đất có khả năng trồng cao su, cây cao su thích hợp vùng đất cao, thoáng
không bị ngập hoặc úng nước.
Khai hoang nên kết hợp cả 2 phương pháp: khai hoang thủ công và khai
hoang cơ giới để khai thác tận dụng quỹ đất và liền vùng liền thửa. Công tác khai
hoang càng đảm bảo chất lượng thì việc chăm sóc vườn cây về sau càng thuận lợi ít

pháp sau:
- Phải có một đội ngủ bảo vệ thực vật tương xứng với quy mô diện tích và
tình trạng bệnh hại. Đội ngủ bảo vệ thực vật và công nhân phải được tập huấn nâng
cao tay nghề cũng như trình độ hiểu biết về các loại bệnh.
Thường xuyên kiểm tra vườn cây nhất là các thời điểm bộc phát của mỗi loại
bệnh. Phải định danh đúng loại bệnh và xác định đúng mức độ bệnh.
- Đối với vườn cây khai thác, một số bệnh xảy ra vào mùa mưa, có độ ẩm
cao và nhiệt độ thấp, cần phòng tránh không cạo mủ khi cây còn ướt, vườn cây phải
sạch cỏ, thông thoáng, thường xuyên làm vệ sinh mặt cạo.
- Ngay sau khi phát hiện bệnh, phải triển khai ngay việc phòng trị để giảm bớt
tác hại của bệnh đồng thời nâng cao hiệu quả và giảm chi phí cho việc chữa bệnh.
Nguyễn Cảnh Sơn
12
Khóa luận tốt nghiệp
- Sử dụng đúng loại thuốc, đúng liều lượng và đúng phương pháp để dập tắc
ngay sự lây lan của bệnh.
- Sau mỗi đợt trị bệnh, phải kiểm kê đánh giá lại mức độ bệnh để có kế
hoạch hữu hiệu cho đợt trị bệnh tiếp theo.
* Kỹ thuật khai thác mủ
Khai thác mủ (cạo mủ) là tạo nên một vết cắt lấy đi một khoảng vỏ trên vỏ
kinh tế của cây cao su. Động tác này chủ yếu là cắt ngang các ống mủ nằm trong
lớp vỏ cạo khiến cho chất dịch đang chưa trong ống mủ chảy tràn ra ngoài để thu
được một sản phẩm đặc biệt gọi là mủ cao su.
Các nước trồng cao su trên thế giới đã đầu tư nhiều công sức để nghiên cứu
tìm các biện pháp cạo mủ hợp lý nhằm đảm bảo chẳng những thu được mức sản
lượng tối đa tại thời điểm khai thác mà còn phải đảm bảo sức khoẻ cho cây để có thể
khai thác đủ niên hạn kinh tế của cây. Cho đến nay, việc cạo mủ cao su là một công
tác được lặp lại hầu như suốt năm theo một định kỳ nhất định ( 2 - 3 ngày/lần) và kéo
dài từ 20 - 30 năm.
Sản lượng khai thác mủ cao su phụ thuộc vào:

tác động của từng nhân tố đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây để từ đó
thấy được những hướng tác động khác nhau của từng nhân tố mà có biện pháp thích
hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mủ cao su, chúng ta có thể xếp
chúng thành những nhân tố sau.
1.3.1. Các nhân tố vĩ mô
- Chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế
Chính sách kinh tế là những tác động vĩ mô của nhà nước đối với sản xuất
kinh doanh, nó có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển hay kìm hãm nền
kinh tế xã hội nói chung và trong lĩnh vực sản xuất cao su nói riêng. Mỗi chính sách
phù hợp với một thời kỳ nhất định, tương ứng với một điều kiện kinh tế xã hội nhất
định. Vì vậy, các chính sách kinh tế luôn phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện
thực tế. Đối với sản xuất cao su, cần phải sản xuất trên quy mô lớn, tập trung và yêu
Nguyễn Cảnh Sơn
14
Khóa luận tốt nghiệp
cầu về vốn lớn nên cần có những chính sách chung và chính sách riêng phù hợp với
những đặc điểm sản xuất của nó.
- Thị trường - giá cả
+ Thị trường: trong nền kinh tế phát triển, thị trường vừa là điều kiện vừa là
phương tiện đển thực hiện tái sản xuất và là khâu trung gian cần thiết giữa người
sản xuất và người tiêu dùng. Xác định thị trường cho sản phẩm có tác dụng quan
trọng nhằm xác định đúng mục tiêu, kế hoạch sản xuất của ngành. Vì vậy nghiên
cứu thị trường luôn là vấn đề quan tâm đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, các
nhà nghiên cứu kinh tế.
+ Giá cả: Song song với vấn đề lựa chọn thị trường, thì vấn đề giá cả các
nguyên liệu đầu vào cũng như sản phẩm đầu ra là vấn đề có thể quyết định rất lớn
đến thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt hơn, cao su là cây công
nghiệp lâu năm nên yếu tố biến động giá cả ảnh hưởng rất lớn. Sản xuất cao su là
quá trình sản xuất hàng hóa, do vậy sẽ luôn gắn với thị trường và giá cả cũng chư
chịu sự tác động của chúng.

Với quỹ đất nông nghiệp đang ngày một thu hẹp, tình trạng thiếu nông phẩm
hoành hành và sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường như hiện nay thì mức
độ thâm canh càng mang ý nghĩa quan trọng hơn. Tuy nhiên bên cạnh việc gia tăng
mức độ thâm canh cây trồng cần phải chú trọng đến hoạt động bảo vệ tài nguyên và
môi trường nhằm phát triển nông nghiệp một cách bền vững.
- Tổ chức sản xuất
Đa dạng hóa nông nghiệp là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta. Sản xuất cao su phải được tiến hành trên quy mô tương đối lớn. Do vậy, việc quy
hoạch, nghiên cứu tổ chức sản xuất để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế đất đai của
từng vùng là rất quan trọng trong điều kiện đất đai có hạn như hiện nay.
Ngoài ra, vấn đề bố trí sản xuất cũng mang ý nghĩa hết sức to lớn. Sản phẩm
chính của cây cao su là mủ cao su, yêu cầu mủ nước sau khi khai thác ở vườn cây
cần phải đưa nhanh đến nhà máy chế biến. Do vậy, bố trí sản xuất trồng cao su phân
tán sẽ làm giảm chất lượng mủ trong quá trình vận chuyển, đồng thời sẽ làm tăng
chi phí vận chuyển.
Quá trình sản xuất cao su là quá trình sản xuất có trình độ chuyên môn hóa
cao, mang cả đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và công nghiệp với quy trình kỹ
Nguyễn Cảnh Sơn
16
Khóa luận tốt nghiệp
thuật canh tác và công nghệ chế biến phức tạp nên việc bố trí, quản lý lại càng quan
trọng trong sản xuất kinh doanh.
1.4. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, điều kiện thu thập số liệu chúng tôi sử
dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra.
1.4.1. Tổng Giá trị sản xuất (GO)
Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ do lao động sản xuất xã hội tạo
ra trong một kỳ nhất định, thông thường là một năm.
GO = P x Q Trong đó: P: giá bán/kg mủ cao su
Q: sản lượng mủ cao su

FV= ∑ A
i
* (1+ r)
n
Trong đó: FV là giá trị tương lai
A
i
: Doanh thu năm thứ i
r: lãi suất chiết khấu, được xác định bằng lãi suất cho vay của ngân
hàng theo Dự án là 10,2%/năm.
i: Năm thứ i
n: Số năm của chu kỳ sản xuất
Trong báo cáo này chúng tôi quy đổi tất cả các khoản đầu tư của 12 năm về
hiện giá tại thời điểm năm 2008.
Ngoài ra để phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế ta còn sử dụng các chỉ tiêu:
- Lợi nhuận/ha
- Lợi nhuận/đơn vị sản phẩm
1.5. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CAO SU TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TẠI VIỆT NAM
1.5.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trên thế giới
Cuối thế kỷ XIX, khi rời vùng nguyên quán Amazone (Nam Mỹ), cây cao su
Hevea Brasiliensis đã được phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới. Mặc dù
cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ, nhưng các quốc gia ở Châu Á mới là các quốc gia
sản xuất chính ngành hàng này.
Bảng 1: Diện tích trồng cao su tại các quốc gia chính
Nguyễn Cảnh Sơn
18
Khóa luận tốt nghiệp
ĐVT: 1000đ
Nước 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005

Từ sau năm 1975 hậu quả của chiến tranh và cơ chế bao cấp đã kìm hãm sự
phát triển của ngành cao su. Sau thời kỳ đổi mới ngành cao su đã dần cải thiện được
vị trí cùa mình. Năm 1991 đến nay một số nông trường được giải thể hay sát nhập
một phần diện tích đất quy hoạch mà chưa sử dụng đến giao lại cho các địa phương
theo nghị định NĐ 388/HĐBT. Năm 1997, diện tích cao su tăng lên đến 329.400 ha
với sản lượng 180.700 tấn và lên đến 403.775 vào năm 2000. Diện tích, sản lượng
cao su Việt Nam qua các năm 1999 – 2005 thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Diện tích, sản lượng cao su Việt Nam qua các năm 1999 – 2005
Năm Diện tích ( 1000 ha) Sản lượng mủ khô(1000 tấn)
Năng suất
(100kg/ha/năm)
1996
254,2 142,5 5,61
2001
415,8 312,6 12,99
2002
428,6 298,2 12,17
2003
440,8 363,5 13,63
2004
450,9 400,1 13,10
2005
480,3 436,5 14,14
Nguồn: www.Agroviet.gov.vn
Như vậy, những năm qua một số địa phương đã có những cố gắng tích cực
trong công tác phát triển diện tích trồng cây cao su do người dân thực sự thấy được
những giá trị mang lại từ vườn cây cao su. Do vậy, diện tích và sản lượng cao su đã
tăng lên qua các năm.
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại ba mô hình tổ chức sản xuất cao su như sau:
Nguyễn Cảnh Sơn

khẩu chưa tốt.
Bảng 3: Thị trường xuất khẩu của cao su Việt Nam sang các thị trường chính
Nguyễn Cảnh Sơn
21
Khóa luận tốt nghiệp
năm 2007
Thị trường Lượng (Tấn) Trị giá (1000 USD)
Trung Quốc 469.975 851.379
Hàn Quốc 32.324 50.768
Đức 30.066 58.606
Đài Loan 22.429 44.580
Nhật bản 11.563 23.823
Nguồn: www.vinanet.vn
Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của nước ta, chiếm
66,38% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước, đạt gần 470 ngàn tấn với trị giá
851,38 triệu USD, tăng 27% về lượng và tăng 64% về trị giá so với năm 2006.
Bên cạnh những sản phẩm chính làm từ nhựa cây cao su thì gỗ cây cao su
giai đoạn cuối vòng đời cũng là một nguồn nguyên liệu có giá trị cao cho sản xuất
đồ gỗ nội thất. Sản xuất đồ gỗ cao su nội thất xuất khẩu hiện là một hoạt động đầy
tiềm năng của ngành cao su Việt Nam. Nguyên liệu gỗ từ vườn cao su được thanh
lý để chuẩn bị tái canh chưa đủ cung cấp gỗ cho các nhà máy chế biến gỗ trong cả
nước, hàng năm có khoảng 100.000–120.000 m
3
gỗ phôi/năm được cung cấp từ
vườn cao su.
1.6. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ
Cây cao su được trồng tại Thừa Thiên Huế lần đầu tiên vào năm 1993, với
giá trị kinh tế cao và kỹ thuật chăm sóc tương đối đơn giản, cho nên quy mô diện
tích cũng như sản lượng mủ cao su trên địa bàn đã phát triển một cách nhanh chóng.

Hiện nay, Thừa Thiên Huế đang thực hiện giai đoạn 2 của dự án Đa dạng
hóa nông nghiệp từ 2007 – 2010, trong đó cây cao su được đặc biệt quan tâm với
Nguyễn Cảnh Sơn
23
Khóa luận tốt nghiệp
mục tiêu trồng mới thêm 4.500 ha. Như vậy, với tốc độ nhân rộng diện tích cao su
như hiện nay thì đến 2010, diện tích cao su của Thừa Thiên Huế đạt trên 12.000 ha,
dẫn đầu các tỉnh duyên hải miền Trung về sản lượng cao su thành phẩm.
Có thể nói, cây cao su đang trở thành cây trồng chủ lực trong xóa đói giảm
nghèo ở Thừa Thiên Huế, chưa một loại cây trồng nào ở Thừa Thiên Huế có tốc độ
nhân rộng diện tích nhanh và đem lại hiệu quả kinh tế cao như cao su. Loại cây này
đã thế chỗ cho rất nhiều cây trồng truyền thống hiện nay như sắn, mía, chè, tiêu.
Năm 2009, tỉnh Thừa Thiên-Huế đưa từ 1.300 ha đến 1.500 ha cây cao su
vào khai thác mủ, dự tính sản lượng mủ khô đạt 2.800 tấn, thu 55 tỷ đồng/năm;
trong khi đó sản lượng khai thác được trong năm 2007 vừa qua là 2.015 tấn mủ khô.
Sản phẩm cao su hiện đang được tiêu thụ rất mạnh trên thị trường, nên càng
lôi cuốn người dân phát triển mạnh cây cao su. Trong giai đoạn từ nay đến năm
2012, tỉnh Thừa Thiên-Huế có kế hoạch trồng mới hơn 4.000 ha cây cao su trên
vùng gò đồi tại các huyện Nam Đông, Phú Lộc, Hương Trà, Phong Điền và A Lưới,
nâng diện tích cây cao su toàn tỉnh lên hơn 11.000 ha.
Cây cao su đã thực sự làm đổi thay những vùng đất nghèo khó của Thừa
Thiên Huế và kéo theo sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng
hóa và chế biến xuất khẩu ngay tại vùng nguyên liệu. Cây cao su ngoài những lợi
ích về kinh tế lâu dài còn là loại cây rừng mang tính bền vững giúp cải tạo tốt môi
trường sinh thái và cảnh quan nhưng cũng không ít khó khăn thách thức. Nếu được
sự quan tâm đúng mức của các ngành các cấp chắc chắn sẽ tạo thêm động lực mới
trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ cao su góp phần tích cực trong xoá đói giảm
nghèo cho đồng bào vùng sâu, vùng xa của Thừa Thiên Huế.
Nguyễn Cảnh Sơn
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status