MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục các từ viết tắt
vii
Danh mục bảng
ix
Danh mục đồ thị
x
Danh mục sơ đồ
x
PHẦN I MỞ ĐẦU
2.1.1
Một số khái niệm
5
2.1.2
Một số vấn đề về cây cà rốt
6
2.1.3
Vai trò của việc phát triển sản xuất cà rốt
10
2.1.4
Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất cà rốt
14
2.1.5
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cà rốt
15
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU
38
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
38
3.1.1
Điều kiện tự nhiên
38
3.1.2
Đặc điểm kinh tế - Xã hội
40
iv
3.2
Phương pháp nghiên cứu
56
3.3.3
Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả kinh tế.
56
3.3.4
Nhóm chỉ tiêu phản ánh sản xuất cà rốt hàng hoá
57
3.3.5
Nhóm chỉ tiêu phát triển sản xuất cà rốt hàng hóa
57
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
58
4.1
Thực trạng phát triển sản xuất cà rốt trên địa bàn huyện Cẩm Giàng
58
4.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cà rốt trên địa bàn huyện
Cẩm Giàng
83
4.2.1
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
83
4.2.2
Các điều kiện sản xuất
84
4.2.3
Quy hoạch phát triển sản xuất cà rốt
87
4.2.4
Cơ sở hạ tầng vùng sản xuất
87
93
4.3.2
Định hướng phát triển sản xuất cà rốt
94
v
4.3.3
Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cà rốt trên địa bàn
huyện Cẩm Giàng
95
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
102
5.1
Kết luận
102
5.2
Bảo vệ thực vất
BCĐ
Ban chỉ đạo
BQ
Bình quân
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CC
Cơ cấu
ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
EU
Liên minh Châu Âu
EUROGAP
Quy trình thực hành nông nghiệp tốt của Châu Âu
Kế hoạch hóa gia đình
KHKT
Khoa học kỹ thuật
LĐ
Lao động
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ODA
Viện trợ phát triển chính thức
PPP
Sức mua tương đương
QL
Quốc lộ
SXNN
Sản xuất nông nghiệp
Quy trình thực hành nông nghiệp tốt của Việt Nam
VJEPA
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
viii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
2.1
Tên bảng
Trang
Diện tích cà rốt của các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh giai đoạn vụ Đông 2011-2014.
30
3.1
Hiện trạng sử dụng đất của huyện Cẩm Giàng giai đoạn 2012 - 2014
42
3.2
Tình hình tiêu thụ Cà rốt
69
4.4
Tình hình liên kết trong tiêu thụ Cà rốt của nhóm hộ điều tra
73
4.5
Sản lượng và thời điểm tiêu thụ cà rốt từ 2012-2014
74
4.6
Khái quát điều kiện sản xuất cà rốt của nhóm hộ điều tra
75
4.7
Khái quát trình độ nhóm hộ điều tra
77
4.8
So sánh quy mô và kinh nghiệm sản xuất của hộ
86
4.14
Cơ cấu vốn đầu tư của các nhóm hộ
87
4.15
Hiện trạng đường giao thông huyện Cẩm Giàng năm 2014
88
4.16
Tình hình sử dụng nguồn cung cấp giống cà rốt của huyện Cẩm Giàng
90
4.17
So sánh tình hình liên kết của các hộ sản xuất cà rốt
91
ix
61
4.3
Tiêu thụ rau củ và trái cây trên người dân tại Đức năm 2011
71
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
4.1
Tổ chức Bộ máy ban chỉ đạo sản xuất cà rốt tại huyện Cẩm Giàng
65
4.2
Hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật
98
x
năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 tại Quyết định số 52/2007/QĐ-BNN ngày
05/6/2007 và chính sách hỗ trợ phát triển ngành rau, quả, chè an toàn đến năm 2015
đã được phê duyệt tại Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg ngày 30/7/2008 là những
yếu tố hết sức thuận lợi cho sự phát triển sản xuất rau trong tương lai.
Trong sản xuất nông nghiệp, cà rốt là loại rau vừa có giá trị dinh dưỡng vừa
có giá trị kinh tế. Từ 3000 năm trước, những người cổ đại đã biết dùng cà rốt trong
các hoạt động của đời sống. Cà rốt có hàm lượng Bêta-carotene nhiều nhất trong
các loại rau củ. Bêta-carotene là thể hoạt động tích cực nhất của carotene, sắc tố
giúp hình thành vitamin A trong thực vật, vì vậy chất này đã được đặt tên từ chữ cà
rốt. Vitamin A giữ vai trò rất quan trọng đối với cơ thể như kích thích sự tăng
trưởng, làm tăng khả năng nhận biết ánh sáng và màu sắc, ngăn ngừa chứng khô da
và mắt, bảo vệ bộ máy tiêu hóa tiết niệu và tăng cường hệ thống, ngăn ngừa nhiễm
khuẩn...Với giá trị dinh dưỡng và các lợi ích từ củ cà rốt, cho nên cà rốt được du
nhập tới nhiều quốc gia trên thế giới và là món ăn ưa chuộng của mọi người dân
không kể giàu nghèo.
Huyện Cẩm Giàng nằm ở phía tây Bắc tỉnh Hải Dương, được tái thành lập
năm 1997. Huyện có diện tích 10.934,3 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 67,4%,
đất chuyên dùng 20%, đất ở 6,9% và đất chưa sử dụng 5,7%. Dân số toàn huyện
hơn 12 vạn người, trong đó người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 50%.
Huyện Cẩm Giàng bao gồm 17 xã và 02 thị trấn (UBND huyện Cẩm Giàng, 2014).
Trên địa bàn huyện có các trục đường giao thông chạy qua như: Quốc lộ 5, QL38,
đường tỉnh lộ 394A, 394B, 394C, đường 95, đường 9 và đường 5B. Về đường sắt
có tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy ngang qua địa bàn huyện. Về đường
thuỷ có sông Thái Bình, sông Sặt, sông Cẩm Giàng là những tuyến giao thông
đường thuỷ thuận tiện cho vận chuyển hàng hoá trong huyện và các vùng lân cận.
Huyện Cẩm Giàng cách trung tâm tỉnh Hải Dương 8km và cách Thủ đô Hà Nội 50
km. Ngoài ra, trên địa bàn huyện có hàng chục khu công nghiệp và các làng nghề
truyền thống.
4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về phát triển
Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động
tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn của sự vật. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa đến sự ra đời
của cái mới thay thế cái cũ. Quan điểm này cũng cho rằng, sự phát triển là kết quả
của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình
diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban
đầu nhưng ở cấp độ cao hơn (Nguyễn Ngọc Long và cs, 2009).
2.1.1.2 Khái niệm về sản xuất
Theo giáo trình triết học Mác-Lênin (2005): Sản xuất là hoạt động đặc trưng
của con người và xã hội loài người. Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản
xuất tinh thần, và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và
phát triển của xã hội (Nguyễn Hữu Vui và Nguyễn Ngọc Long, 2005).
Theo giáo trình Nguyên lý kinh tế nông nghiệp: thì sản xuất là quá trình phối
hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản
phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ đầu ra (David Colman & Tre VorYoung, 1994).
Theo giáo trình Phân tích kinh tế nông nghiệp: Sản xuất là quá trình tạo ra của
cải vật chất và dịch vụ. Trong sản xuất con người là lực lượng chủ yếu đóng vai trò
quyết định (Phạm Thị Mỹ Dung và Bùi Bằng Đoàn, 1996).
Tóm lại sản xuất là một quá trình tạo ra sản phẩm, quá trình này tính từ khi bắt
đầu tiến hành sản xuất cho đến khi sản phẩm được tạo ra (Nguyễn Ngọc Long và cs,
2009). Sản xuất nông nghiệp càng phát triển thì thu nhập của người nông dân càng
mùi thơm, bẹ khá phát triển, phiến lá xẻ lông chim, càng gần phía đầu càng hẹp. Cụm
hoa mọc thành tán kép, nhỏ; trong mỗi tán hoa, hoa ở chính giữa thì không sinh sản
có màu tía; còn các hoa sinh sản ở chung quanh có màu trắng hay hồng, lá bắc của
6
tổng bao cũng xẻ lông chim, lá bắc của tiểu bao đơn xẻ ba, đế hoa khum lõm. Hạt cà
rốt có vỏ gỗ và có lớp lông cứng che phủ, màng vỏ hạt có tinh dầu, là loại rau ăn củ.
Cây thụ phấn chéo nhờ côn trùng. Ngày nay cà rốt được gieo trồng rộng khắp thế
giới, chủ yếu là khu vực ôn đới, nhiệt độ (khí hậu) mát mẻ từ 16-240c. Cà rốt cũng có
thể trồng ở nhiều vùng nhiệt đới nơi có độ cao trên 700m so với mặt nước biển và
vùng cận nhiệt đới trong mùa đông. Chúng có nguồn gốc từ khu vực Bắc Phi, Tây
Nam Á và Châu Âu với nhiều màu sắc khác nhau như trắng, vàng, đỏ và tím đỏ.
Cà rốt được sử dụng phổ biến như một loại thực phẩm cung cấp nhiều dưỡng
chất cho cơ thể. Cà rốt có thể sử dụng ở dạng súp, nước ép hoặc ăn sống trực tiếp. Cà
rốt có lượng Beta-carotene nhiều nhất trong các loại thực phẩm. Bêta-carotene là thể
hoạt động tích cực nhất của carotene, sắc tố giúp hình thành vitamin A trong thực vật,
vì vậy chất này đã được đặt tên từ chữ cà rốt. Vitamin A giữ vai trò rất quan trọng đối
với cơ thể như kích thích sự tăng trưởng, làm tăng khả năng nhận biết ánh sáng và màu
sắc, ngăn ngừa chứng khô da và mắt, bảo vệ bộ máy tiêu hóa tiết niệu và tăng cường hệ
thống, ngăn ngừa nhiễm khuẩn.... Ngoài ra, trong cà rốt cũng chứa rất nhiều vitamin B,
C, D, E và K, canxi, phốtpho, kali, natri, một lượng nhỏ khoáng chất và protein.
Bên cạnh giá trị thông dụng hàng ngày là một loại thực phẩm thì cà rốt còn
được biết đến với vai trò là một loại dược phẩm quý, có rất nhiều công dụng trong y
học như: Beta carotene trong cà rốt có tác dụng chống ung thư trong thời kỳ sơ khởi,
khi mà các gốc tự do tác động để biến các tế bào lành mạnh thành tế bào bệnh. Beta
carotene là chất chống ôxy hóa, ngăn chặn tác động của gốc tự do, do đó có thể giảm
nguy cơ gây ung thư phổi, tụy tạng, vú và nhiều loại ung thư khác. Nghiên cứu tại
Đại học Massachsetts với 13.000 người cao tuổi cho thấy nếu họ ăn một củ cà rốt mỗi
ngày thì có thể giảm nguy cơ cơn suy tim tới 60% (Trần Thị Hòa, 2010). Ngoài ra, cà
Cây cà rốt có nguồn gốc từ vùng ôn đới, trồng nhiều vào vụ đông ở miền Bắc
nước ta. Nhiệt độ thích hợp với cây cà rốt là từ 16-240, để đạt năng suất cao yêu cầu
nhiệt độ là 20-220, nhưng cà rốt cũng có thể chịu được nhiệt độ cao bất thường tới 25270 . Tuy nhiên, nếu nhiệt độ thường xuyên cao hơn 250C cây sinh trưởng kém, các
mạch gỗ trong củ phát triển mạnh, nhiều xơ và hàm lượng carotene thấp, nên năng
suất cà rốt đạt cao nhất khi trồng chính vụ vào tháng 9-10 và thu hoạch vào tháng 1-2
năm sau (Trần Thị Hòa, 2010).
b) Yêu cầu về nước
Cà rốt cần nhiều nước và có nhu cầu đối với nước trong suốt quá trình sinh
8
trưởng và phát triển. Nếu thiếu nước ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất của củ, cây
nhanh bị già cỗi, nhiều xơ, củ nhỏ, nhánh phân nhiều, không đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu, giá thành hạ. Thừa nước cũng làm giảm phẩm chất của củ, hàm lượng đường,
muối hòa tan trong củ giảm, lõi cà rốt chóng to, củ dễ bị nứt, dễ phụ và sâu bệnh phát
triển nhiều (Trần Thị Hòa, 2010).
Nhu cầu nước của cà rốt thay đổi tùy theo giống, điều kiện khí hậu, thời vụ
trồng và thời gian sinh trưởng, độ ẩm đất thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển là
60-70%. Các giai đoạn khác nhau nhu cầu nước của cây cũng khác nhau:
- Thời kỳ nảy mầm hạt cần rất nhiều nước, để hạt trương lên và nảy mầm, cà
rốt cần 100% nước so với trọng lượng hạt. Vì vậy sau khi gieo cần giữ ẩm và che đậy
cho hạt nhanh nảy mầm.
- Thời kỳ cây con: Do bộ rễ cây còn yếu và chưa ăn sâu vào đất nên cây cần được
cung cấp nước đầy đủ. Vì vậy cần tưới nước đều đặn cho cây nhưng chỉ tưới nhẹ.
- Thời kỳ sinh trưởng: Cây có thân lá phát triển mạnh, bốc thoát hơi nước
nhiều, hoạt động hút và đồng hóa chất dinh dưỡng mạnh, do đó cần rất nhiều nước.
Thiếu nước trong thời gian này sẽ dẫn đến giảm năng suất.
c) Yêu cầu về ánh sáng
Cà rốt yêu cầu ánh sáng ngày dài, số giờ chiếu sáng dưới 10 giờ thì cây phát
triển kém hơn so với điều kiện chiếu sáng trên 12 giờ. Giai đoạn cây con cần ánh
và giá trị).
- Chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng cũng như vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu
diện tích đất nông nghiệp, đất canh tác, đất gieo trồng.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động sản xuất nông nghiệp và nội bộ ngành
nông nghiệp.
- Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, nội bộ ngành và
các khâu sản xuất…
Muốn cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đạt chất lượng mang
tính toàn diện và hiệu quả cần phải đặc biệt quan tâm đến các vấn đề như:
- Vùng và tiểu vùng sinh thái
- Thành phần kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
- Chất lượng sản phẩm nông nghiệp.
10
- Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp theo hướng gia tăng hàm lượng khoa học
công nghệ mới, kỹ thuật tiên tiến và quản lý hiện đại…
Trong những năm qua, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nước ta
đã đem lại nhiều ý nghĩa thiết thực: Làm thay đổi cơ cấu mùa vụ; làm thay đổi
cơ cấu cây trồng; đặc biệt là cây rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày; tăng cơ
cấu sản phẩm hàng hóa; hình thành các vùng chuyên môn hóa. Theo số liệu của
Tổng cục Thống kê, năm 2013, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ
trọng 18,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,3% và khu vực dịch vụ
chiếm 43,3% trong đó năm 2012 các tỷ trọng tương ứng là: 19,7%; 38,6% và
41,7% (Tổng cục Thống kê, 2013). Bước sang năm 2014, cơ cấu nền kinh tế 6
tháng đầu năm vẫn theo hướng tích cực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
chiếm tỷ trọng 17,69%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,70%; khu
vực dịch vụ chiếm 43,61% trong đó cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là:
18,18%; 38,70%; 43,12% (Tổng cục Thống kê, 2014).
bền vững trong sản xuất nông nghiệp, tình trạng phá rừng, chăn thả quá mức và sự
thay đổi khí hậu. Hiện tượng thoái hóa đất diễn ra trong điều kiện khí hậu khô hạn
đã thúc đẩy quá trình hoang mạc hóa và mở rộng diện tích hoang mạc trên thế giới
chiếm trên 30% diện tích đất (Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam,
2013). Việc sử dụng quá nhiều các vật tư hoá học như các loại phân N,P,K, các chất
diệt cỏ, trừ sâu làm cho dư lượng chất hoá học đọng lại trong đất ngày càng nhiều.
Chất thải công nghiệp thải bừa bãi ra sông, ra đầm cũng góp phần làm ô nhiễm đất
và nước nghiêm trọng. Ô nhiễm đất làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm cây
trồng, đe doạ sự sống của các sinh vật và cây trồng trong khu vực bị ô nhiễm.
Hiện nay nhiều nước đã và đang hướng tới phát triển một nền nông nghiệp
bền vững với các yêu cầu của nông nghiệp sinh thái mà trong đó các thành tựu khoa
học kỹ thuật và công nghệ được áp dụng nhằm tạo ra năng suất cao, đáp ứng nhu
cầu về nông sản. Những đặc trưng của nông nghiệp bền vững, những yêu cầu của
gìn giữ cân bằng sinh thái được coi như những ràng buộc của quá trình ứng dụng
các thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phát triển nông nghiệp bền
vững như:
- Phát triển nông nghiệp bền vững là gia tăng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu
12
lương thực, thực phẩm càng cao và đảm bảo cho giá giảm dần.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là duy trì trình độ sản xuất cần thiết đáp
ứng nhu cầu tăng dân số mà không suy thoái môi trường.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là duy trì sự cân bằng giữa sự tăng trưởng
và cân bằng sinh thái….
Nhưng theo tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới của Liên hợp quốc
(FAO) năm 1992 quan niệm rằng “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và
bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày
càng tăng của của con người cả cho hiện tại và mai sau” (Serey Mardy và cs, 2013).
động chiếm phần lớn, nhưng hiện nay còn thiếu việc làm, hoặc có việc làm nhưng
chưa sử dụng hết thời gian lao động. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, giải quyết tốt việc làm cho lao động
nông thôn hiện nay là vấn đề mang tính chiến lược, là đòi hỏi vừa lâu dài, vừa cấp
thiết đối với sự phát triển bền vững của nước ta. Vấn đề này nếu không được giải
quyết tốt sẽ cản trở đến sự phát triển KT-XH của đất nước, tác động trực tiếp đến
việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do kinh tế nông thôn về cơ bản
là thuần nông, lao động theo thời vụ, ngành nghề phát triển chậm, nên sau khi thu
hoạch mùa màng, nhiều người không có việc làm, phần lớn phải đi tìm việc ở các
đô thị và khu vực tập trung công nghiệp.
2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất cà rốt
- Về cơ cấu diện tích: phấn đấu mở rộng diện tích cà rốt trên địa bàn huyện
trong đó tập trung chủ yếu ở các xã có đất bãi như Đức Chính, Cẩm Văn. Chuyển đổi
một phần diện tích đất 2 vụ lúa cho năng suất thấp sang trồng 1 vụ lúa 1 vụ cà rốt .
- Về năng suất: tăng năng suất trung bình trên một đơn vị diện tích bằng
việc đưa những giống năng suất cao vào sản xuất. Áp dụng các biện pháp thâm
canh vào sản xuất, sử dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong canh tác góp
phần tăng năng suất.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm: áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật trong
sản xuất cà rốt nhằm đảm bảo độ đồng đều cho các sản phẩm. Áp dụng quy trình kỹ
thuật an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, EuroGap vào sản xuất nhằm đáp ứng các yêu
cầu của các thị trường trên thế giới, tiến tới đẩy mạnh xuất khẩu cà rốt sang thị
trường Châu Âu..
14
- Phát triển công nghiệp chế biến: xây dựng các cơ sở chế biến các sản phẩm từ
cà rốt trên địa bàn huyện nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của người dân.
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: tăng cường vai trò của Hợp tác xã và đội
kiện khí hậu, sinh thái đa dạng (nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới) của các vùng. Kết hợp
cải tạo vườn tạp, thâm canh vườn cây hiện có với trồng mới theo hướng sản xuất
chuyên canh, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao và phục vụ xuất khẩu” (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2007).
Chủ trương, chính sách đúng sẽ tạo sự tin tưởng cho người sản xuất, kinh
doanh yên tâm đầu tư. Việc nghiên cứu để thực thi một hệ thống thể chế pháp lý và
chính sách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, góp phần phát huy được lợi thế so sánh,
nhằm làm tăng các loại sản phẩm, giá trị sản xuất hàng hóa ngành nông nghiệp, thỏa
mãn ngày càng cao về nhu cầu nông sản phẩm cho sản xuất, đời sống và xuất khẩu,
thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng
công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
2.1.5.2 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên
* Đất đai: có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với sản xuất nông nghiệp,
nó quyết định quy mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp, nhất là đối với ngành trồng
trọt. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thiếu được đối với hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Số lượng, chất lượng của đất đai qui định lợi thế so sánh của mỗi
vùng, cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và cả vùng. Mặc dù hiện nay với
sự phát triển của khoa học công nghệ, có một số loại rau quả sản xuất không dùng
đất, song nhìn chung chúng chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể,
không thể thay thế được đất đai.
Đất đai là một yếu tố phản ánh quy mô của sản xuất, trong điều kiện sản xuất
theo hướng chuyên môn hoá cần phải quy hoạch vùng để sản xuất. Mặt khác đất đai
có đặc điểm là cố định về vị trí, giới hạn về diện tích, chất lượng không đồng đều.
Do vậy, chất lượng sản phẩm và năng suất của các loại rau quả ở các địa điểm là
khác nhau. Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất cần phải liên tục bảo vệ bồi dưỡng
đất, tích cực mở rộng diện tích đất bằng cách khai hoang tăng vụ, đẩy mạnh đầu tư
chiều sâu thâm canh sản xuất, coi thâm canh là con đường phát triển chủ yếu.
* Nguồn nước: sản xuất rau nói chung và sản xuất cà rốt nói riêng cần phải có
nguồn nước ổn định bởi cà rốt có chứa hàm lượng nước cao, chiếm khoảng 75-90%
16
17
phải bố trí, lựa chọn những giống cây trồng thích hợp với điều kiện của từng vùng,
từng địa phương để nâng cao được hiệu quả sản xuất trên một diện tích đất canh tác.
2.1.5.4 Yếu tố về vốn
Được hiểu là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải,
kho tàng. Theo nghĩa chung vốn là giá trị của toàn bộ đầu vào bao gồm những tài sản,
vật phẩm, tiền dùng trong sản xuất kinh doanh (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung,
1998). Vốn đối với quá trình phát triển sản xuất là vô cùng quan trọng. Trong điều kiện
năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản
phẩm hàng hóa. Tuy nhiên trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất lượng lao động, trình độ khoa học kỹ thuật.
2.1.5.5 Yếu tố về lực lượng lao động
Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất. Mọi hoạt động sản xuất
đều do lao động của con người quyết định, nhất là lao động có trình độ kỹ thuật, có
kinh nghiệm và kỹ năng lao động. Là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định tới sự
phát triển của mọi ngành sản xuất. Nguồn lực lao động có vai trò hết sức quan trọng
đối với sản xuất nói chung. Trong nông nghiệp, nguồn lực lao động bao gồm những
người trong độ tuổi từ 16 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, từ 16 tuổi đến 55 tuổi đối
với nữ, những người ngoài độ tuổi trên cũng có thể tham gia vào sản xuất nông
nghiệp. Về chất lượng của nguồn lực lao động bao gồm thể lực và trí lực. Thể lực
được biểu hiện thông qua sức khoẻ, sự dẻo dai của người lao động. Còn trí tuệ thể
hiện thông qua trình độ chuyên môn của người lao động.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, với gần 80% dân số cả nước sống ở
nông thôn và khoảng 70% lực lượng lao động xã hội làm trong lĩnh vực này.
Do vậy, có thể nói lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào; nhân dân ta có
truyền thống lao động cần cù, chịu khó, rất thuận lợi cho việc phát triển sản
xuất nông nghiệp.