phát triển nghề thủ công truyền thống trên địa bàn huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 14

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn
Phạm Thị Ngọc Trâm TS: Hà Thị Hằng
Lớp: K44KTCT.
Niên khóa: 2010-2014
Huế, Tháng 5 năm 2014
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG
3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
KT- XH : Kinh tế - xã hội
UBND : Uỷ ban nhân dân
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
LN : Làng nghề
LNTT : Làng nghề truyền thống
TCTT : Thủ công truyền thống
SX-KD : Sản xuất – kinh doanh
DN : Doanh nghiệp
LĐ : Lao động
KH- CN : Khoa học- công nghệ

Châu, làng nghề kim hoàn Kế Môn,… Với những lợi thế có sẵn cùng truyền thống lịch
sử, văn hóa lâu đời tạo điều kiện cho tỉnh Thừa Thiên Huế những nét độc đáo, riêng
biệt sự phát triển của nghề thủ công truyền thống.
Phong Điền là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, gắn với những đặc
điểm chung về lịch sử, truyền thống văn hóa nên huyện có những nét nổi bật để phát
triển kinh tế xã hội, có những lợi thế riêng để phát triển nghề thủ công truyền thống.
Tuy nhiên trong suốt thời gian dài việc phát triển nghề thủ công truyền thống gặp
nhiều khó khăn, hạn chế do sự biến động của thị trường, cơ chế quản lý, Để khắc
6
phục những khó khăn trên chính quyền địa phương luôn khuyến khích, tạo điều kiện
để phát triển các ngành nghề truyền thống như gốm Phước Tích, chạm khắc Mỹ
Xuyên, đệm bàng Phong Bình,… Bên cạnh việc khôi phục lại các làng nghề còn chú
trọng phát triển nghề gắn với du lịch tạo điều kiện quảng bá thương hiệu của làng
nghề. Trong những năm gần đây, việc phát triển các làng nghề thủ công truyền thống
đã mang lại diện mạo mới cho cuộc sống của người dân, tạo nên bức tranh sinh động
của nông thôn làm tiên đề cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì sự phát triển thủ công truyền thống trong
thời gian qua còn nhiều thách thức, thăng trầm; gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế cần
khắc phục như: khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển còn chậm, các nghề tiểu,
thủ công nghiệp truyền thống có nguy cơ bị mai một, tình trạng ô nhiễm môi trường
còn phổ biến…Nguyên nhân chủ yếu là do phát triển công nghiệp nông thôn tự phát,
kiểu phong trào, chưa làm tốt công tác quy hoạch, sử dụng công nghệ lạc hậu, quy mô
hộ gia đình, với đa số là lao động thủ công, công tác xử lí môi trường còn thô sơ, quy
mô nhỏ, chưa được quan tâm,… Chính sách hỗ trợ chưa đạt hiệ quả cao, chưa tạo
được tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của nghề thủ công truyền thống.
Vấn đề đặt ra lúc này cần phải tổ chức đánh giá cụ thể về thực trạng và những
đòi hỏi đặt ra đối với nghề TCTT trên địa bàn huyện, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất,
bổ sung các chủ trương, chính sách và giải pháp cụ thể của địa phương nhằm tiếp tục
thúc đẩy nghề TCTT phát triển là một việc làm cần thiết. Do đó, em chọn đề tài “Phát
triển nghề thủ công truyền thống trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên

- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển của nghề TCTT ở huyện Phong Điền, từ đó
tìm ra các nhân tố nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển nghề TCTT.
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nghề TCTT ở huyện Phong Điền
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ làm nghề TCTT trong các LN ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
8
- Về thời gian: các số liệu sử dụng trong đề tài được thu nhập trong khoảng thời gian từ
2009- 2012 và số liệu điều tra trực tiếp từ cơ sở năm 2014.
- Về nội dung: nghiên cứu thực trạng phát triển của nghề TCTT ở huyện Phong Điền. Đề
xuất những giải pháp nhằm phát triển nghề TCTT trên địa bàn trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương
pháp chủ yếu sau:
5.1. Phương pháp chung
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để tiếp
cận đối tượng và nội dung nghiên cứu theo quan điểm khách quan, toàn diện, phát
triển và hệ thống.
5.2. Phương pháp cụ thể
- Phương pháp phân tổ thống kê
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu
+ Số liệu thứ cấp:
Lấy từ sách, báo, interne như: tạp chí cộng sản, báo Dân trí.
Từ các văn bản, văn kiện Đại hội Đảng, các báo cáo quy hoạch và phát triển nghề
thủ công truyền thống huyện và các xã, niên giám thống kê huyện Phong Điền năm
2009- 2012.

8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, phần
mục lục, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghề thủ công truyền thống
Chương 2: Thực trạng phát triển nghề thủ công truyền thống ở huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Giải pháp phát triển nghề thủ công truyền thống ở huyện Phong Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ NGHỀ TCTT
1.1. Nghề thủ công truyền thống và vai trò của nghề thủ công truyền thống
đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
10
1.1.1. Nghề thủ công truyền thống và tiêu chí xác định nghề thủ công truyền thống
1.1.1.1. Nghề thủ công truyền thống
Có rất nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề TCTT ở nước ta như: nghề truyền
thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề phụ, nghề tiểu thủ công nghiệp,… Cho đến
nay, cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nghề TCTT:
- Theo các nhà sử học Việt Nam hiện nay thì:
Nghề TCTT bao gồm những ngành nghề phi nông nghiệp có từ trước thời thuộc
Pháp còn tồn tại cho đến nay. Nghề TTCT còn bao hàm cả những ngành nghề đã được
cải tiến hoặc sử dụng cả những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng phải
tuân thủ công nghệ truyền thống, thể hiện được nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt
Nam. [4;12].
- Theo Th.s Bùi Văn Vượng:
Đối với những ngành nghề được xếp vào nghề TCTT, nhất thiết phải có các yếu
tố sau: Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta; sản xuất tập trung, tạo
thành các làng nghề, phố nghề; có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành
nghề; kĩ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; sử dụng nguyên liệu tại
chổ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất; sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt

Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các làng
nghề truyền thống, có nhiều ý kiến khác nhau về LNTT:
- Theo Ths. Bùi Văn Vượng: LNTT là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các
nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có
sự liên kết, hỗ trợ sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh
nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước
chế xã hội và gia tộc. [6; 13-14]
- Có quan niệm cho rằng: LNTT là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ
truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ
thế hệ này sang thế hệ khác theo kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng
chục năm. Trong làng, SX mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa để phát
triển nghề, sản phẩm mang tính độc đáo và tinh xảo, nổi tiếng và mang đậm nét văn
hóa dân tộc.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu rằng LNTT là làng cổ truyền làm nghề thủ
12
công, ở đây không nhất thiết cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công, người làm nghề
thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông. Nhưng yêu cầu
chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng hóa truyền thống
ngay tại quê của mình.
1.1.2. Tiêu chí xác định nghề thủ công truyền thống, làng nghề và làng nghề
truyền thống
Căn cứ thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại nghị định số
66/2006/NĐ- CP ngày 07 tháng 7 năm 2006, thì tiêu chí về nghề TCTT, LN, LNTT
được xác định như sau:
 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt được 3 tiêu chí sau:
- Nghề đã được xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm được công
nhận.
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.

Các ngành nghề TCTT tách dần ra khỏi nông nghiệp nhưng không rời khỏi nông
thôn. Các hoạt động SX nông nghiệp và SX ngành nghề đan xen lẫn nhau.
Thứ hai: LĐ làm nghề TCTT chủ yếu là LĐ thủ công, nhờ vào sự khéo léo, tinh
xảo của đôi bàn tay và đầu óc thẩm mỹ, sáng tạo của người thợ, người nghệ nhân,
phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền nghề.
Trước đây, việc dạy nghề cho người thợ thủ công là theo phương thức truyền
nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác, các nghề được bảo tồn trong phạm vi
gia đình, ít được phổ biến ra bên ngoài. Hiện nay, có 3 hình thức đào tạo nghề là
truyền nghề trong các làng nghề, dạy nghề trong doanh nghiệp và đào tạo trong các
trường dạy nghề. Tuy nhiên, chỉ có 3% được dạy nghề tại trường và truyền nghề tại
doanh nghiệp, 97% số thợ còn lại được học theo hình thức “cha truyền con nối”. [10].
Vì vậy, phương thức đào tạo nghề theo lối truyền trong các LN vẫn là phương thức
mang tính chủ đạo.
Thứ ba: Phần lớn nguồn nguyên vật liệu cung cấp cho các LN là nguồn nguyên
vật liệu tại chỗ.
Đa số các ngành TCTT đều xuất phát từ nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại địa
14
phương. Một số ít ngành phải mua nguyên liệu từ các tỉnh thành khác do ở địa phương
mình ít hoặc không có; cũng có thể phải nhập khẩu từ nước ngoài về, tuy nhiên chí phí
cho việc nhập khẩu không hề nhỏ, nên số lượng nhập không nhiều.
Thứ tư: hình thức tổ chức SX của nghề TCTT chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một
số đã có sự hình thành tổ chức hợp tác và các DN.
Từ trước tới nay, hình thức tổ chức SX chủ yếu của nghề TCTT là các hộ gia
đình. Hình thức tổ chức SX này tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi, lực lượng LĐ dư
thừa trong gia đình và sử dụng một phần đất đai của gia đình để làm nơi SX- KD. Tuy
nhiên, hình thức này còn rất nhiều hạn chế đó là SX nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, chậm
cải tiến sản phẩm, tầm nhìn thông tin hạn hẹp, do đó đã ảnh hưởng tới khả năng phát
triển SX- KD của gia đình.
Một số hộ gia đình có điều kiện SX và quy mô lớn hơn thì đã tiến tới thành lập
các DN tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và đã đạt được hiệu quả rất cao. Tuy

 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường tiêu thụ sản phẩm là vấn đề cốt lõi của nền sản xuất hàng hóa, có vai
trò quyết định đến quá trình sản xuất. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay, nhiều mặt hàng của các làng nghề phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm từ
Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản,… Cho nên, nếu không có biện pháp giải quyết khâu
thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các làng nghề thì sản xuất tại các làng nghề sẽ gặp
nhiều khó khăn.
Vì vậy, đề khôi phục và phát triển các làng nghề thì Nhà nước, chính quyền các
địa phương cần phải có cơ chế, chính sách, nhằm mở rộng thị trường đầu ra cho các
sản phẩm cho làng nghề. Đồng thời, các làng nghề, các cơ sở sản xuất phải nắm vững
các quy luật của thị trường, cập nhật thị hiếu của người tiêu dùng để sản xuất ra các
sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếu của khách hàng.
1.1.4.2. Vốn cho phát triển kinh doanh
Vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế, là yếu tố quan
trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn bao gồm cả bằng tiền và tài sản khác
phục vụ cho sản xuất. Nguồn vốn đầy đủ sẽ giúp cho các hộ làm nghề TCTT có thể
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ như: nhà xưởng, kho hàng, mua sắm máy
16
móc, phương tiện, chủ động dự trữ nguồn nguyên liệu cho sản xuất.
Trước đây, nguồn vốn của các hộ chủ yếu là vốn tự có của các hộ gia đình tích
lũy được hoặc vay mượn. Do đó, lượng vốn trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh
không lớn, phần lớn không đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh, đặc biệt không
thể đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của
sản phẩm. Hiện nay, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ về tài chính, tín
dụng. Vì vậy, các cơ sở đã mở rộng nguồn vốn phục vụ cho sản xuất và khôi phục các
ngành nghề truyền thống có nguy cơ bị mai một.
1.1.4.3. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn
thông, y tế, giáo dục,… có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, tồn tại và phát triển
các làng nghề truyền thống.

kỳ ngành nghề nào, sản phẩm nào. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động,
chất lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa
trên thị trường và cuối cùng là quyết định đến sự tồn tại hay suy vong của một cơ sở,
một ngành nghề nào đó. Hiện nay, phần lớn các hộ SX nghề TCTT vẫn sử dụng thiết
bị thủ công, công nghệ cổ truyền chủ yếu dựa vào kinh nghiệm có tích chất cha truyền
con nối trong từng hộ gia đình là chính. Bởi vậy, sản phẩm sản xuất ra với năng suất,
số lượng và chất lượng sản phẩm thấp kém, không đồng bộ, giá thành cao, hạn chế khả
năng cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề. Để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu, các cơ sở SX-KD không thể không đổi mới trang thiết bị, cải tiến áp dụng môt
số tiến bộ KH- CN vào các lĩnh vực SX.
18
1.1.4.6. Chính sách của Nhà nước
Bất cứ một nhà nước thuộc thể chế chính trị nào đều có chức năng quản lý nhà
nước về kinh tế.
Đối với nghề TCTT, thì các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước sẽ ảnh hưởng
theo hai chiều hướng khác nhau: thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nghề TCTT.
Trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của nước
ta hiện nay, cơ chế, chính sách kinh tế vĩ mô, văn bản pháp luật của Nhà nước, có vai
trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển nghề
TCTT nói riêng. Nếu Nhà nước có những chính sách đúng đắn, phù hợp quy luật vận
động của nền kinh tế, sẽ thúc đẩy nghề TCTT phát triển và ngược lại. Tuy nhiên, khi
các chủ trương, chính sách đúng đắn thì phải được tổ chức thực hiện một cách có hiệu
quả, khi đó mới đem đến kết quả trong thực tiễn.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách
để khuyến khích phát triển các ngành nghề nông thôn. Chính điều này đã tạo ra môi
trường thông thoáng, thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển của nghề TCTT.
1.1.5. Vai trò của nghề thủ công truyền thống đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội
Việc hình thành và phát triển nghề TCTT trong thời gian khá dài, rất đa dạng,

nhàn hoặc ngoài giờ ra đồng lại chính là những người thợ thủ công tài hoa. Bên cạnh
đó, các cơ sở sản xuất thủ công trong làng nghề còn thu hút được một lực lượng
đông đảo người già, trẻ em, người tàn tật tham gia sản xuất ở những công đoạn đơn
giản. Theo ước tính của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, những nhóm đối tượng này
chiếm đến 30 - 35% lao động đang làm việc trong các làng nghề.
Bên cạnh đó, tạo thêm công ăn việc làm sẽ làm tăng thu nhập của người lao
động, góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân. Đây cũng là một
trong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề quốc kế dân sinh. Thực
tế là trong những năm qua, sự phục hồi và phát triển của các làng nghề đã có ý nghĩa
rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Thu nhập của các hộ làm
nghề thủ công ở các làng nghề cao hơn từ 2 - 8 lần thu nhập của hộ thuần nông. Ở các
làng có nghề, tỷ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thường rất thấp và
hầu như không có hộ đói. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu
20
nhập đã đem lại cho người dân ở các làng nghề một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn
cả về vật chất lẫn tinh thần.
Thứ hai: Góp phần tạo vốn, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp
Các làng nghề TCTT tạo ra những điều kiện ban đầu về nhân lực, vốn, thị trường
cho CNH- HĐH. Do tính chất đặc trưng của sản xuất “tiểu, thủ công nghiệp” là quy
mô nhỏ, công cụ lao động thủ công, với mức đầu tư không lớn nên dễ dàng huy động
các khoản vốn nhỏ nhàn rỗi trong dân, của hộ gia đình, trong họ hàng, và đi vay từ các
tổ chức tín dụng.
Xuất khẩu là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển
KT- XH, nó không những thu về cho đất nước một nguồn thu ngoại tệ lớn mà quan
trọng hơn là tạo ra cơ hội để chúng ta phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, mở
rộng các ngành nghề SX, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội.
Thứ ba: Phát triển nghề TCTT góp phần thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân
cư, hình thành thị trường lao động có tổ chức, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ ở
nông thôn.
Phần lớn các cơ sở sản xuất kinh doanh nghề TCTT đều có quy mô nhỏ. Các cơ

TCTT. Khi khối lượng sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng nhanh, thị trường mở rộng
thì kinh tế dịch vụ phát triển. Khi đó, cơ cấu kinh tế ở nông thôn chuyển dịch theo
hướng tích cực.
Thứ năm: Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương.
Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hóa Việt Nam luôn
gắn liền với lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống. Văn hóa các làng nghề
với các thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng, hôn
nhân, nghề nghiệp với các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội mang đậm những
sắc thái riêng, tạo nên bản sắc truyển thống văn hóa phong tục sâu đậm của dân tộc ta.
Vì vậy, đề các LNTT mai một cũng tức là đánh mất đi một phần máu thịt của nhiều thế
hệ, đánh mất vốn quý của dân tộc.
LNTT là cả một môi trường kinh tế, xã hội và văn hóa thu nhỏ. Nó bảo lưu
những tinh hoa nghệ thuật và kĩ thuật từ đời này sang đời khác, hun đúc các thế hệ
nghệ nhân tài ba với những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng. Bởi vậy, các LNTT
với những bàn tay vàng của người thợ thủ công cần được coi trọng, bảo tồn và phát
22
triển, bảo tồn và phát triển các làng nghề là tăng thêm sức mạnh cội nguồn, gieo vào
lòng mỗi người Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quý, trân trọng, giữ gìn di sản và bản
sắc văn hóa Việt Nam. Điều đó không gì khác là giữ gìn và phát huy một bộ phận của
nền văn minh nhân loại, làm tăng những giá trị văn hóa truyền thống trong một thế
giới đa phương tiện thông tin và đầy biến động.
Với vai trò to lớn của làng nghề trong tiến trình CNH- HĐH nông nghiệp, nông
thôn, để khôi phục và phát triển làng nghề đòi hỏi các cấp chính quyền phải nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng của làng nghề, kịp thời có những biện pháp hỗ trợ các làng
nghề phát triển phù hợp với đặc điểm từng địa phương cũng như yêu cầu của thị trường.
1.2. Kinh nghiệm phát triển nghề thủ công truyền thống của các nước và
một số địa phương khác
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển nghề thủ công truyền thống của thế giới
 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là nước đầu tiên thực hiện CNH ở vùng Đông- Bắc Á và Châu Á. Nhật

Inđônêxia là nước có diện tích tương đối lớn ở Đông Nam Á, ở đây nông nghiệp
là trụ cột của nền kinh tế quốc gia, phải đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho
toàn xã hội. Trong quá trình CNH, chính phủ Inđônêxia đã đề ra các chương trình phát
triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn trong các kế hoạch 5 năm:
Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất: xây dựng các xưởng và trung tâm để bán các sản
phẩm TCTT.
Kế hoạch 5 năm lần thứ hai: thực hiện các dự án hướng dẫn và phát triển công
nghiệp nhỏ nhằm giáo dục, đào tạo, mở rộng các hoạt động sản xuất TCTT của các
DN nhỏ.
Kế hoạch 5 năm lần thứ ba: tổ chức ra một cơ quan để quản lý, chỉ đạo, hướng
dẫn nghiệp vụ sản xuất kinh doanh và làm các dịch vụ cung cấp thiết bị vật tư, tiêu thụ
sản phẩm.
Chính phủ còn tổ chức ra trung tâm trợ giúp công nghiệp nhỏ, đặt mối quan hệ
với công nghiệp lớn và có chương trình nghiên cứu tiềm năng sản xuất và nhu cầu thị
trường làm cơ sở cho việc phát triển công nghiệp nhỏ.
24
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển nghề thủ công truyển thống của các địa phương
 Kinh nghiệm của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Huyện Quảng Trạch là một trong những điển hình về phát triển TCTT của tỉnh
Quảng Bình. Cùng với những tiềm năng thế mạnh về nguồn lực lao động, tài nguyên
khoáng sản, thủy hải sản, lâm sản, ngành nghề TCTT được hình thành từ lâu đời và
phát triển phong phú như: đan lát, cơ khí, đóng tàu, chế biến lương thực thực phẩm.
Thấy được vai trò của TCTT trong đời sống kinh tế của địa phương huyện luôn có
chính sách quan tâm phát triển TCTT trong các kì đại hội.
Để thúc đẩy TCTT của huyện không ngừng phát triển huyện đã thực hiện đồng bộ
các giải pháp như làm tốt công tác quy hoạch, tạo mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng
phát triển CN-TCTT, khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất liên kết, liên
doanh với các tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh để tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm; không ngừng đổi mới công nghệ và các hoạt động khuyến công; chính sách hỗ
trợ phát triển TCTT; chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho các làng nghề.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status