ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG GIAO THÔNG
NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2011 - 2014
ĐINH THỊ LUẬN
Huế, tháng 5 năm 2016
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG GIAO THÔNG
NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2011 - 2014
Xin gửi lời cảm ơn đầy yêu thương đến cha mẹ của con và cả em gái nữa vì đã hi sinh
những tháng năm thanh xuân để dành cho tôi những điều tốt đẹp và chân thực nhất là đồng
hành cùng tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
3
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
4
CSHT:
Cơ sở hạ tầng
DA:
Dự án
GTNT:
Giao thông nông thôn
GTVT:
Giao thông vận tải
KH:
Kế hoạch
Xây dựng
XDCB:
Xây dựng cơ bản
MỤC LỤC
5
DANH MỤC BẢNG
6
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
7
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách quốc gia là một khoản tiền rất lớn, là nguồn lực quan trọng
trong quá trình phát triển của đất nước. Hơn nữa, Ngân sách Nhà nước trở
thành công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện các chương trình, dự án phát
triển. Hàng năm, nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển ngày càng tăng và chiếm
tỉ trọng lớn trong nguồn vốn Ngân sách Nhà nước. Và nguồn lực dành cho đầu
xây dựng đường GTNT trên địa bàn huyện Phong Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả của dự án đầu tư bằng
nguồn vốn NSNN.
Phân tích, đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư đường giao GTNT bằng
nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Định hướng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
vốn NSNN trong đầu tư xây dựng CSHT đường GTNT trên địa bàn huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là các hoạt động đầu tư và hiệu quả
của các dự án đầu tư đường GTNT bằng nguồn vốn NSNN.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi không
gian của huyện Phong Điền – Tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phạm vi về thời gian: Số liệu dùng để phân tích trong chuyên đề được
tổng hợp từ năm 2011 đến 2014.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu tại phòng tài chính - kế
hoạch, phòng kết cấu hạ tầng, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và
một số phòng khác.
Phương pháp phân tích số liệu: thông qua các tài liệu thu thập được sử
dụng các công cụ thống kê toán học nhằm đưa ra các số liệu phản ánh các chỉ
tiêu liên quan, xác định những nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng
quản lý vốn NSNN về đầu tư CSHT đường GTNT.
Phương pháp thống kê và đánh giá thực trạng đầu tư.
9
quả như vừa tăng thu NSNN, vừa tiết kiệm các khoản chi tiêu dùng của
ii.
NSNN.
Nguồn vốn tín dụng của nhà nước: Được huy động thông qua phát hành trái
phiếu chính phủ và các hình thức vay nợ qua kho bạc nhà nước.
Vốn nước ngoài là các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài, thông
10
qua vay nợ và viện trợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Đây là nguồn
vốn quan trọng để bù đắp thiếu hụt ngân sách và được ưu tiên để phát triển
kinh tế xã hội.Hiện nay việc đưa ODA vào ngân sách để quản lý đạt 15%
đến 20%.
11
1.1.1.2. Đặc điểm vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển đường giao
thông nông thôn
Cơ sở hạ tầng đường GTNT bao giờ cũng phát triển và đi trước một bước
so với các hoạt động khác.Sự phát triển của cơ sở hạ tầng đường GTNT sẽ tạo
điều kiện và là yếu tố tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Đảm bảo sự phát
triển hài hoà của hệ thống tự nhiên - kinh tế - xã hội. Do đó, vốn đầu tư phát
triển đường GTNT cũng có những đặc điểm riêng so với vốn đầu tư phát triển
các ngành khác.
Vốn đầu tư phát triển đường GTNT phải đảm bảo về mặt vật chất sao cho
tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác, đẩy nhanh quá trình tái sản
(6) Chủ đầu tư mở tài khoản để giao dịch thanh toán vốn đầu tư với Kho
13
bạc Nhà nước ở địa phương
(7) Kho bạc Nhà nước tại địa phương lập kế hoạch cho vốn đầu tư gửi
phòng tài chính (huyện, xã)
(8) Phòng Tài chính chuyên tiền theo mức đã duyệt
(9) Chủ đầu tư thanh toán vốn đầu tư với Kho bạc Nhà nước
14
1.1.2. Đầu tư phát triển
1.1.2.1. Khái niệm
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chỉ dùng vốn trong
hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra các tài sản
mới cho nền kinh tế (tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ), gia tăng
sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
1.1.2.2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
Thường đòi hỏi vốn lớn, vốn nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư.
Vốn lớn: Vì yêu cầu vốn lớn nên phải có quyết định bỏ vốn đầu tư vào
lĩnh vực nào là có lợi nhất, huy động vốn từ các nguồn nào, tiến độ sử dụng
vốn trong quá trình thi công xây dựng công trình ra sao.
Vốn nằm khê đọng: Trong quá trình tiến hành đầu tư, vốn không sinh lời,
không tạo ra sản phẩm và lợi nhuận, thêm vào đó là các tác động của môi
trường đầu tư, vì vậy cần phải dự báo, tính toán cụ thể trong khi lập dự án.
Hoạt động đầu tư mang tính chất lâu dài.
đường đô thị, đường huyện, đường xã), nhằm phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp và phục vụ giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội của các làng, xóm, thôn,
bản, ấp, buôn, sóc và các điểm dân cư tương đương.
Đường giao thông nông thôn được phân loại như sau:
Đường liên xã: là đường nối trung tâm hành chính xã với quốc lộ, tỉnh lộ,
hoặc đường liên xã khác (gọi chung là đường đến trung tâm xã).
Đường liên thôn: là đường trục chính nối các thôn, các điểm dân cư phục
vụ cho nhân dân ở thôn, các thônlân cận đi lại thường xuyên.
Đường liên xóm: (đường nhánh rẽ) là đường nối giữa các hộ gia đình
(đường chung của liên gia) trong cùng điểm dân cư nối với mạng lưới giao
thông chung (đường thôn, đường xã, đường huyện, tỉnh lộ, quốc lộ).
Đường trục chính nội đồng: là đường chính nối từ đồng ruộng đến khu
dân cư. Đối với các xã có quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, đường xã, đường thôn
(gọi chung là hệ thống giao thông) đáp ứng được yêu cầu đi lại của xe cơ giới
phục vụ sản xuất nông nghiệp thì xem hệ thống giao thông là đường nối khu
dân cư với đồng ruộng; đối với các xã có hệ thống giao thông chưa đáp ứng
được nhu cầu đi lại của xe cơ giới phục vụ sản xuất nông nghiệp thì trong quy
hoạch (tiêu chí 1) phải tính đến việc xây dựng đường trục chính nội đồng phục
vụ việc đi lại của xe cơ giới.
1.1.3.2. Đặc điểm của cơ sở hạ tầng đường giao thông nông thôn
Cơ sở hạ tầng đường GTNT gắn liền với mọi hệ thống kinh tế, xã hội.Cơ
16
sở hạ tầng đường GTNT là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội của nông thôn.
So với hệ thống kinh tế, xã hộ khác, cơ sở hạ tầng đường GTNT có những
đặc điểm sau:
Tính hệ thống, đồng bộ
triển kinh tế, xã hội và tạo tiền đề vật chất cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện tốt chiến lược ưu tiên trong phát triển cơ sở hạ tầng đường GTNT
của toàn bộ nông thôn, toàn bộ vùng, từng đại phương trong mỗi giai đoạn phát
triển sẽ vừa quán triệt tốt đặc điểm về tính tiên phong định hướng, vừa giảm nhẹ
nhu cầu huy động vốn đầu tư tự do chỉ tập trung những công trình ưu tiên.
Tính địa phương, tính vùng và khu vực
Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đường GTNT ở nông thôn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như địa lý, địa hình, trình đọ phát triển... Do địa bàn
nông thôn rộng, dân cư phân bố không đồng đều và điều kiện sản xuất nông
nghiệp vừa đa dạng, phức tạp lại vừa khác biệt lớn giữa các địa phương, các
vùng sinh thái. Vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng đường GTNT mang tính vùng và
địa phương rõ nét.Điều này thể hiện cả trong quá trình tạo lập, xây dựng cũng
như trong tổ chức quản lý, sử dụng. Yêu cầu này đặt ra trong việc xác định
phán bố hệ thống chung của quốc gia, vừa phải phù hợp với đặc điểm, điều
kiện từng địa hương, từng vùng lãnh thổ.
Tính xã hội và công cộng cao
Tính xã hội và công cộng cao của các công trình giao thông pử nông thôn
thể hiện trong xây dựng và trong sử dụng.Trong sử dụng, hầu hết ccacs công
trình đều được sử dụng nhằm phục vụ việc đi lại, buôn bán giao lưu của tất cả
người dân, tất cả cơ sở kinh tế, dịch vụ.
Trong xây dựng, mỗi loại công trình khác nhau có những nguồn vốn khác
nhau từ tất cả các thành phần, các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân. Để việc
xây dựng, quản lý, sử dụng hệ thống đường nông thôn có kết quả cần lưu ý:
Đảm bảo hài hoà giữa nghĩa vụ xây dựng và quyền lợi trong sử dụng đối
với các tuyến đường cụ thể. Nguyên tắc cơ bản là gắn quyền lợi và nghĩa vụ.
Thực hiện tốt việc phân cấp trong xây dựng và quả lý sử dụng công trình
cho từng cấp chính quyền, từng đối tượng cụ thẻ để khuyến khích việc phát
triển và sử dụng có hiệu quả.
với năm 2006); trong đó xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa,
bê tông hóa là 7917 xã chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm 2006). Một điều
đáng chú ý là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã được chú trọng mà
đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính quyền hết sức quan
tâm đầu tư với số liệu rất ấn tượng đó là có tới 89,5% số thôn, bản có đường ô
tô đến được. Điều đó góp phần thay đổi cuộc sống của người dân nơi vùng cao
vốn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng cũng như văn hóa
xã hội. So với năm 2005, tổng số chiều dài km đường giao thông nông thôn
19
tăng thêm 34.811 km; trong đó số km đường huyện tăng thêm 1.563 km, đường
xã tăng 17.414 km và đường thôn xóm tăng 15.835 km từ những nguồn vốn
đầu tư cho giao thông nông thôn rất đa dạng được huy động từ nhiều nguồn:
Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương (chiếm khoảng 50% phần dành
cho cơ sở hạ tầng giao thông của các tỉnh); vốn ODA (các chương trình hạ tầng
nông thôn dựa vào cộng đồng của WB, Chương trình giảm nghèo Miền trung
của ADB hay Giao thông nông thôn của Ngân hàng thế giới WB); vốn huy
động của doanh nghiệp, tín dụng và của cộng đồng nhân dân. Theo số liệu của
Bộ Kế hoạch và đầu tư, các ngồn vốn đầu tư cho giao thông nông thôn trong 10
năm qua ước tính khoảng 170.000-180.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà
nước chiếm khoảng 70% tổng nguồn vốn được huy động; vốn huy động từ
cộng đồng, doanh nghiệp chiếm khoảng 10-15% tổng nguồn vốn, kể cả việc
huy động từ đóng góp của cộng đồng dân cư để đầu tư; ngoài ra các địa
phương còn huy động từ các nguồn khác như thu phí sử dụng đất, thu sổ số
kiến thiết… Chỉ tính riêng giai đoạn 2003 đến năm 2010, cả nước đã đầu tư
749 dự án đường giao thông đến trung tâm xã trên địa bàn các xã nông thôn,
miền núi thuộc các vùng: Trung du và miền núi Bắc bộ; đồng bằng sông Hồng;
duyên hải miền Trung; Tây nguyên; Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu
long với tổng mức đầu tư các dự án đầu tư đường ô tô đến trung tâm xã cả giai
sản tập trung đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất vận chuyển vật
tư, phân bón, nông sản của người dân.
Hiện nay, Nhà nước đang có một số chương trình dự án, chính sách hỗ trợ
đầu tư xây dựng CSHT, hỗ trợ người sản xuất…như Chương trình xây dựng
NTM, chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa… UBND tỉnh đã
chỉ đạo các địa phương nắm bắt các chủ trương chính sách, DA nói trên và chủ
động xây dựng kế họach đầu tư cụ thể các tuyến đường vào vùng sản xuất nông
sản tập trung ở địa phương mình, đề xuất huyện, tỉnh xem xét.
Tổng vốn đầu tư ước đạt 16.320 tỷ đồng, vượt KH 0,7%, tăng 11% so với
năm trước. Trong đó vốn Trung ương quản lý 4.740 tỷ đồng, đạt 97%
KH, tăng 22,8%, chiếm 29% tổng vốn; vốn địa phương quản lý 11.580 tỷ
đồng, vượt 2,3% KH, tăng 6,8%, chiếm 70,9%.
Trong tổng vốn đầu tư, vốn thuộc ngân sách Nhà nước đạt 2.420 tỷ
đồng, vượt 2,9% KH, giảm 1,5%, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý
560 tỷ đồng, vượt 1,8% KH, tăng 46,9%; vốn ngân sách địa phương quản lý
1.860 tỷ đồng, vượt 3,3% KH, giảm 10,4%. Nguồn vốn tín dụng đạt 6.570 tỷ
21
đồng, bằng 98,4% KH, tăng 17,9% so cùng kỳ; vốn đầu tư của doanh
nghiệp 2.030 tỷ đồng, đạt 99%KH, tăng 18,6%; vốn viện trợ 780 tỷ đồng,
bằng 59,2% KH, giảm 0,6%; vốn đầu tư nước ngoài 1.200 tỷ đồng, vượt
81% KH, xấp xỉ bằng năm ngoái.
Nguồn vốn trái phiếu chính phủ tăng khá, tập trung đầu tư vào những
công trình trọng điểm trên địa bàn với số vốn lớn: Đường La Sơn - Nam
Đông và Mở rộng quốc lộ 1A đoạn La Sơn - Lăng Cô.
Tỉnh đã cơ bản đầu tư xây dựng CSHT đường GTNT tại các xã bãi ngang
ven biển, hoàn thành một số tuyến giao thông quan trọng phá thế chia cắt ở
vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, tạo thuận lợi giao thông và sản xuất, kinh
doanh, đẩy nhanh sự giao thương giữa các vùng trong tỉnh. Tổng chiều dài
Rào La về An Lỗ, với Quảng Điền là đường từ An Lỗ vòng sang phía Đông và Đông
Bắc xã Phong Hiền rồi từ đó rẽ ngoặt lên Tây Bắc, cắt qua vùng cát nội đồng Phong Quảng. Đi quá về phía Tây cửa sông Ô Lâu một ít lại đổi sang hướng Đông Nam cắt
dọc mặt nước phá Tam Giang. Đến hết địa phận xã Điền Hải lại chạy theo hướng
Đông Bắc, cắt qua dải cát ven biển và chấm dứt ở bờ biển xã này.
Phong Điền phía Đông Bắc giáp biển Đông với đường bờ thẳng tắp theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam trên chiều dài gần 16 km.
2.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Huyện Phong Điền có địa hình đa dạng gồm đồi núi, đồng bằng và đầm phá ven
biển. Đồng bằng xâm thực tích tụ cao 14 - 20m xen kẽ với các đồi bóc mòn. Phía
Đông có các cồn cát, đầm phá. Hai sông Bồ và Ô Lâu chảy qua huyện tạo thành nhiều
hồ, đập, khe suối. Sông Ô Lâu với hai phụ lưu là sông Ô Lâu và sông Mỹ Chánh, bắt
nguồn từ vùng núi huyện Phong Điền ở độ cao khoảng 900m. Riêng sông Mỹ Chánh
23
có một đoạn chảy vào lãnh thổ của tỉnh Quảng Trị trước khi hợp lưu với sông Ô Lâu ở
ngã ba Phước Tích. Sông chảy vào phá Tam Giang qua cửa Lác với chiều dài dòng
chính là 69 km.
Lãnh thổ Phong Điền trải rộng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc từ Trường Sơn
ra tận biển với chiều dài gần 46 km. Đi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam lãnh thổ thu
hẹp. Nơi hẹp nhất chỉ chừng 10 km (cửa sông Ô Lâu đến Hải Lăng). Sự phân bố lãnh
thổ huyện như trên khiến sự phân hóa thiên nhiên theo chiều Tây - Đông đa dạng hơn
chiều Nam - Bắc.
2.1.1.3. Khí hậu
Phong Điền mang đặc điểm khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế, có nền tảng chung với khí
hậu cả nước. Đó là tính chất khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phân hoá mạnh mẽ, diễn biến
thất thường. Nhưng khác với khí hậu phía Bắc và phía Nam, do thuộc khí hậu vùng duyên
hải Trung Bộ hay khí hậu Đông Trường Sơn nên có những nét độc đáo, phản ánh tác dụng
phá hủy tại chỗ hoặc bị di chuyển đi của chúng. Đó là loại đá có tuổi cổ được hình
thành cách đây hàng trăm triệu năm. Ở đồng bằng và bờ biển là các loại đá trầm tích
trẻ có nguồn gốc sông biển. Đó là cát biển chiếm diện tích rộng lớn ở các xã Phong
Hiền, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương và vùng ngũ Điền, Phong Hải. Còn lại
là phù sa sông còn gọi là bồi tích lũ tích. Các vật liệu cát, phù sa chỉ mới hình thành
gần đây, tuổi chỉ tính được hàng vạn đến hàng triệu năm là tối đa. Sự phân bố các đá
hình thành đất như vậy, kết hợp với độ cao địa hình trên mực biển, hình dạng lồi lõm
cao thấp của địa hình dẫn đến sự tác động kết hợp khác nhau của các yếu tố thời tiết
khí hậu như nhiệt, ẩm, gió, mưa, nước trên mặt đất, nước ngầm trong đất liền, ven đầm
phá, ven biển với đất đá, xác cây cỏ... dẫn đến sự hình thành các đất khác nhau. Bên
cạnh đó, trong quá trình sinh sống, sản xuất, con người cũng góp phần làm biến đổi
các loại đất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tương tự như vậy, các lớp phủ thực vật
và động vật cũng tham gia một cách tích cực vào các quá trình nói trên.
2.1.1.5. Tài nguyên khoáng sản
Phong Điền có các khoáng sản hình thành trong các thành tạo địa chất khác nhau
từ Trung cổ đến Tân sinh và phân bố cả ở vùng đồi núi và đồng bằng. Tuy chưa có thời
gian và điều kiện để nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, nhưng những gì đã biết được cho
thấy tiềm năng khoáng sản trong huyện khá phong phú với trữ lượng dồi dào, đặc biệt
là khoáng sản phi kim loại như đá vôi ở Phong Xuân, than bùn ở Phong Chương, cát
trắng, các loại đá, sét, cao lanh, sạn, sỏi, nước khoáng nóng Thanh Tân... Một số
khoáng sản có trữ lượng lớn cho phép khai thác công nghiệp với sản lượng lớn như đá
vôi, cát trắng, sét, than bùn...
25