Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, an ninh năng lượng đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết của
thời đại. Nguồn năng lượng mới đã được nghiên cứu và sử dụng đó là: năng
lượng gió, năng lượng mặt trời (NLMT), năng lượng địa nhiệt, năng lượng từ
sinh khối Trong đó vấn đề quan tâm nhất là nguồn năng lượng nhiệt hạch từ
mặt trời.
Năng lượng mặt trời đã được ứng dụng trong một số ngành khoa học, kỹ
thuật và đời sống. Vì đây là nguồn năng lượng có tiềm năng lớn và là nguồn
năng lượng sạch. Nên việc sử dụng năng lượng mặt trời sẽ là một trong các giải
pháp thay thế cho nguồn nhiên liệu hoá thạch đang ngày càng cạn kiệt.
Nước ta là một nước nông nghiệp. Nông sản sau khi thu hoạch nếu chưa
được làm khô đúng mức thuận tiện cho việc bảo quản lâu dài thì sự tổn thất tương
đối lớn. Ta có thể giảm độ ẩm cho nông sản bằng nhiều cách: có thể phơi trực tiếp
dưới nắng mặt trời. Đây là phương pháp đơn giản và chi phí thấp nhất nhưng lại có
nhiều nhược điểm: phụ thuộc vào thời tiết, chất lượng nông sản kém, làm khô
không đều, nhiều khi khô quá mức do trong những ngày nắng nóng, chậm khô khi
gặp thời tiết xấu, dễ bị côn trùng, sâu mọt phá hoại, dễ bị nhiễm bẩn. Chính vì vậy
mà nông sản khó đạt được độ ẩm giới hạn khi bảo quản.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới với tiềm năng bức xạ mặt trời vào
loại cao trên thế giới. Trong đó tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và khu vực miền
Trung nói chung, cường độ bức xạ tương đối lớn. Tuy nhiên, người dân chỉ mới
biết tận dụng NLMT một cách thủ công và họ chưa hiểu rỏ về việc dùng NLMT
để thay thế các nguồn năng lượng khác.
Do đó việc nghiên cứu, thiết kế các thiết bị sấy sử dụng NLMT có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn đối với đời sống của người dân.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế
mẫu thiết bị sấy hạt nông sản sử dụng hiệu ứng quang nhiệt từ năng lượng
mặt trời ở khu vực miền Trung”
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Một số khái niệm và định nghĩa về bức xạ mặt trời
2.1.1. Một số khái niệm
mây và độ trong suốt của khí quyển. Các đại lượng này thay đổi khá nhiều.
Có thể xem bức xạ tán xạ là tổng hợp của ba thành phần:
+ Thành phần tán xạ đẳng hướng: Phần tán xạ nhận được đồng đều từ toàn bộ
vòm trời.
+ Phần tán xạ quanh tia: Phần tán xạ bị phát tán của BXMT xung quanh
tia mặt trời.
+ Phần tán xạ chân trời là : Phần tán xạ tập trung gần đường chân trời.
*Hằng số mặt trời(HSMT): HSMT được định nghĩa là CĐBX đo được
trong không gian nằm ngoài lớp khí quyển bao quanh trái đất trong một đơn vị
thời gian, trên một đơn vị diện tích bề mặt đặt vuông góc với tia bức xạ. Người
ta đã xác định dược HSMT có giá trị bằng E
sn
=1.353W/m
2
,tương đương với
1940Cal/cm
2
/phút, hay 4.871kJ/m
2
/h. Tuy nhiên khi đến mặt đất, do bị hấp thụ
và tán xạ nên CĐBX giảm đi đáng kể. Theo [6] cụ thể E
n
=500 ÷1000W/m
2.
2.1.2. Định nghĩa về bức xạ mặt trời:
Bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng nguyên thủy của hầu hết các
quá trình vận động vô sinh và hữu sinh trên trái đất. Các quá trình vo sinh
như hoạt động của máy móc, các quá trình vật lý khí quyển ,
Hình 2.2. Cấu trúc của mặt trời
2.
, các hạt bụi bay lơ lửng trong
không khí hay các phân tử khác, hoặc khi xuyên qua các đám mây
2.2.3. Ảnh hưởng bởi khoảng cách giữa mặt trời và trái đất
+ Khoảng cách giữa mặt trời và trái đất có ảnh hưởng đến CĐBXMT. Để
xem ảnh hưởng của quả đất và mặt trời đến cường độ BXMT trên mặt đất, khi
quả đất chuyển động trên quỹ đạo của nó trong chu kì một năm. Sự định hướng
của trục quả đất cùng với sự chuyển động của nó xung quanh mặt trời và xung
quanh trục riêng của nó, dẫn tới sự thay đổi khoảng cách giữa quả đất và mặt
trời, và tức là thay đổi CĐBXMT trên bề mặt quả đất hằng ngày, hàng tháng,
hàng mùa trong năm.
+ CĐBXMT phụ thuộc vào khoảng cách tương đối giữa mặt trời và điểm
quan sát trên trái đất. Trong một ngày khoảng cách này sẽ giảm dần cho đến khi
mặt trời lặn. Như vậy, CĐBX tương ứng sẽ tăng dần trong buổi sáng cho đến khi
đạt giá trị lớn nhất E
max
vào giữa trưa sau đó giảm dần vào buôi chiều.
2.3. Các nguyên lý sử dụng năng lượng mặt trời
2.3.1. Nguyên lý chuyển hoá quang nhiệt: Là phương pháp chuyển bức
xạ mặt trời sang nhiệt năng. Quá trình này dựa vào 2 nguyên lý sau:
* Nguyên lý hội tụ bức xạ tiêu điểm:
- Hội tụ theo điểm: Là các thiết bị trong gương cầu lõm có dạng paraboloit
tròn xoay, mặt trong có độ phản xạ cao nhờ tập trung vào tiêu điểm, Nhiệt độ từ vài
trăm đến 3000
0
C.
- Hội tụ theo đường: Là các thiết bị dùng gương hình lòng máng dài, mặt cắt
ngang có dạng parabol, mặt phản xạ phía trong làm hội tụ bức xạ mặt trời theo
đường tiêu cự.
Ví dụ:
ra khỏi bề mặt của tấm kim loại, ta có hiệu ứng quang điện ngoài (external
photoelectric effect). Các điện tử không thể phát ra nếu tần số của bức xạ nhỏ
hơn tần số ngưỡng bởi điện tử không được cung cấp đủ năng lượng cần thiết để
vượt ra khỏi rào thế (gọi là công thoát). Điện tử phát xạ ra dưới tác dụng của
bức xạ điện từ được gọi là quang điện tử. Ở một số chất khác, khi được chiếu
sáng với tần số vượt trên tần số ngưỡng, các điện tử không bật ra khỏi bề mặt,
mà thoát ra khỏi liên kết với nguyên tử, trở thành điện tử tự do (điện tử dẫn)
chuyển động trong lòng của khối vật dẫn, và ta có hiêu ứng quang điện trong
(external photoelectric effect). Hiệu ứng này dẫn đến sự thay đổi về tính chất dẫn
điện của vật dẫn, do đó, người ta còn gọi hiệu ứng này là hiệu ứng quang dẫn.
Ví dụ:
Hình 2.6. Một bộ pin mặt trời(áp dụng nguyên lý chuyển hóa quang điện)
2.4. Tình hình sử dụng năng lượng mặt trời trên thế giới, trong nước và
tỉnh Thừa Thiên Huế
2.4.1. Tình hình sử dụng năng lượng mặt trời trên thế giới và trong nước
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng mà con người biết sử dụng từ rất
sớm, nhưng ứng dụng NLMT vào các công nghệ sản xuất và trên quy mô rộng thì
mới chỉ thực sự vào cuối thế kỷ 18 và cũng chủ yếu ở những nước nhiều năng
lượng mặt trời, những vùng sa mạc. Từ sau các cuộc khủng hoảng năng lượng thế
giới năm 1968 và 1973, NLMT càng được đặc biệt quan tâm. Các nước công
nghiệp phát triển đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu ứng dụng NLMT. Các ứng
dụng NLMT phổ biến hiện nay bao gồm các lĩnh vực chủ yếu sau:
Hình 2.7. Hệ thống pin mặt trời tại một nhà máy ở Montesquieu (Pháp)
Pin mặt trời là phương pháp sản xuất điện trực tiếp từ NLMT qua thiết bị
biến đổi quang điện. Pin mặt trời có ưu điểm là gọn nhẹ có thể lắp bất kỳ ở đâu
có ánh sáng mặt trời, đặc biệt là trong lĩnh vực tàu vũ trụ. Ứng dụng NLMT dưới
dạng này được phát triển với tốc độ rất nhanh, nhất là ở các nước phát triển.
Ngày nay con người đã ứng dụng pin NLMT để chạy xe thay thế dần nguồn
năng lượng truyền thống.
C.
Hiện nay người ta còn dùng năng lượng mặt trời để phát điện theo kiểu “
tháp năng lượng mặt trời - Solar power tower “. Australia đang tiến hành dự án
xây dựng một tháp năng lượng mặt trời cao 1km với 32 tuốc bin khí có tổng
công suất 200 MW. Dự tính rằng đến năm 2006 tháp năng lượng mặt trời này sẽ
cung cấp điện mỗi năm 650GWh cho 200.000 hộ gia đình ở miền tây nam New
South Wales - Australia, và sẽ giảm được 700.000 tấn khí gây hiệu ứng nhà kính
trong mỗi năm.
* Thiết bị sấy NLMT:
Thiết bị sấy khô dùng năng lượng mặt trời:
Hình 2.10. Sấy ca cao
Hiện nay NLMT được ứng dụng khá phổ biến trong lĩnh nông nghiệp để
sấy các sản phẩm như ngũ cốc, thực phẩm nhằm giảm tỷ lệ hao hụt và tăng
chất lượng sản phẩm. Ngoài mục đích để sấy các loại nông sản, NLMT còn được
dùng để sấy các loại vật liệu như gỗ.
* Bếp nấu dùng năng lượng mặt trời:
Bếp năng lượng mặt trời được ứng dụng rất rộng rãi ở các nước nhiều NLMT
như các nước ở Châu Phi.
Hình 2.11. Triển khai bếp nấu cơm bằng NLMT.
Ở Việt Nam việc bếp năng lượng mặt trời cũng đã được sử dụng nhưng
chưa phổ biến. Năm 2000, Trung tâm Nghiên cứu thiết bị áp lực và năng lượng
mới - Đại học Đà Nẵng đã phối hợp với các tổ chức từ thiện Hà Lan triển khai
dự án (30.000 USD) đưa bếp năng lượng mặt trời - bếp tiện lợi (BTL) vào sử
dụng ở các vùng nông thôn của tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, dự án đã phát
triển rất tốt và ngày càng đựơc đông đảo nhân dân ủng hộ. Trong năm 2002,
Trung tâm dự kiến sẽ đưa 750 BTL vào sử dụng ở các xã huyện Núi Thành và
triển khai ứng dụng ở các khu ngư dân ven biển để họ có thể nấu nước, cơm và
thức ăn khi ra khơi bằng NLMT .
*Thiết bị chưng cất nước dùng NLMT:
Hình 2.12. Thiết bị chưng cất nước dùng NLMT
nóng được thổi đến tiếp xúc với hạt và mang ẩm đi. Máy sấy tĩnh vĩ ngang, máy
sấy tĩnh vĩ nghiêng, và máy sấy nhiệt độ thấp
* Nguyên lý sấy động: Tức là vật liệu sấy chuyển động trong thiết bị sấy. Máy
sấy băng tải, máy sấy tầng sôi, máy sấy tháp, máy sấy thùng quay
• Máy sấy tầng sôi:
Đặc điểm chung
o Các bộ phận tiếp xúc với liệu được làm bằng thép không rỉ (inox 304 hoặc
316-tùy chọn).
o Vật liệu sấy khô đều và không biến đổi đặc tính.
o Hệ thống lọc gió vào đạt 99,99%DAP
o Áp suất khí nén cần dùng 4-6 Kg/cm
2
o Hệ thống lọc khí thải.
o Thiết bị điều khiển tự động/bán tự động.
o Máy đạt tiêu chuẩn GMP (GMP là một phần của hệ thống quản lý chất
lượng nhằm đảm bảo kiểm soát các điều kiện về nhà xưởng (cơ sở hạ tầng), điều
kiện con người và kiểm soát các quá trình sản xuất để đạt những tiêu chuẩn về an
toàn vệ sinh cung cấp cho người tiêu dùng loại bỏ những nguy cơ nhiễm chéo và
lẫn lộn).
Hình 2.16. Máy sấy tầng sôi
• Máy sấy tháp:
Máy sấy này có 4 buồng độc lập hoạt động đồng thời. Hai quạt hướng
trục cung cấp gió cho cả hệ thống. Trấu được cung cấp qua máng cấp liệu để đốt
nóng tất cả các buồng. Trấu được lấy từ nhà máy xát kế bên thông qua băng tải
chuyền vào máng cấp trấu, từ đó gàu tải đổ trấu vào buồng đốt. Hạt được đưa
vào 4 gàu tải khác nhau, nhân công vẫn còn phải bốc dỡ hạt từ xe tải vào gàu tải.
Lúc khô sau đó đến bộ phận làm sạch sơ bộ và băng chuyền đưa hạt đến gàu tải
đổ vào buồng bảo quản (hình trên). Bảng điện điều khiển cho tất cả hệ thống
giúp hoạt động của máy dễ dàng hơn.
Hình 2.17. Máy sấy tháp tại Long An
* Sấy trực tiếp: Sản phẩm nông nghiệp được trải thành một lớp mỏng trong
một phòng kín hấp thụ với phía trên được đậy phủ tấm trong suốt (bộ thu nhiệt).
Sản phẩm nông nghiệp được gia tăng nhiệt và nóng lên, ẩm được bốc hơi và thoát
ra ngoài.
* Sấy gián tiếp: Sản phẩm nông nghiệp đặt tại các sàng sấy, khí nóng được lấy
từ bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời thổi xuyên qua các sàng sấy và sản phẩm sấy.
Loại sấy gián tiếp có thể điều khiển được nhiệt độ và tốc độ sấy, có thể sấy được
nhiều sản phẩm, hiệu suất hấp thụ của bộ thu cao hơn sấy trực tiếp.
Căn cứ vào hai nguyên tắc sấy trực tiếp và sấy gián tiếp, có các nguyên lý
sấy cụ thể sau:
- Nguyên lý sấy kiểu bẫy nhiệt đối lưu tự nhiên: Hệ thống lợi dụng sự
chuyển động lên phía trên một cách tự nhiên của không khí nóng nhờ sự chênh lệch
khối lượng riêng giữa không khí nóng và không khí lạnh.
a)
Sấy trực tiếp
b) Sấy gián tiếp
Hình 2.20. Sơ đồ hệ thống sấy NLMT đối lưu tự nhiên.
1. Tấm trong suốt, 2. Vật liệu sấy,
3. Sàng sấy;
- Nguyên lý sấy kiểu bẫy nhiệt đối lưu cưỡng bức: Ở thiết bị này, sự lưu
thông không khí nhờ có quạt cưỡng bức nên có thể rút ngắn thời gian sấy.
a) Bộ thu nhiệt gồm mái và tường b) Bộ thu nhiệt là mái nhà
Hình 2.21. Sơ đồ hệ thống sấy bằng NLMT dùng quạt cưỡng bức.
1. Vật liệu sấy, 2. Tấm trong suốt, 3. Tường vách, 4. Quạt, 5. Không khí nóng
2.6. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.6.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sấy nông sản là một nhu cầu cấp thiết từ thực tiễn sản xuất trong nông
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
3.3.2. Phương pháp thiết kế và phân tích kết cấu:
- Trình bày mẫu thiết kế thiết bị.
- Phân tích các phần của thiết bị.
- Xác định các nguyên liệu để chế tạo.
3.3.3. Phương pháp xây dựng mô hình tính toán giải tích
Áp dụng các công thức, lý thuyết về sấy hạt. Biểu diễn quá trình trao đổi
nhiệt ẩm của khối hạt trong thiết bị dưới dạng mô hình toán học. Xác định kích
thước cụ thể của mô hình thiết bị sấy.
3.3.4. Phương pháp thiết kế kết cấu và cấu tạo của nhà sấy
Lựa chọn kết cấu.
3.3.5. Phương pháp phân tích đồ thị, biểu đồ:
- Vẽ đồ thị.
- Lựa chọn biểu đồ thích hợp.
Phần 4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA QUÁ TRÌNH SẤY HẠT NÔNG
SẢN SỬ DỤNG NLMT
4.1. Một số khái niệm cơ bản
* Vật liệu ẩm: Trong vật liệu ẩm (vật liệu sấy) gồm vật rắn, chất lỏng và
khí vì khối lượng chất khí rất nhỏ nên có thể bỏ qua. Do đó vật ẩm có thể xem
như gồm 2 thành phần chất rắn và chất lỏng thấm ướt (gọi là ẩm), chất rắn xem
như chất khô tuyệt đối.
* Không khí ẩm: là một hỗn hợp của không khí khô ( chủ yếu chứa
oxygen và nitrogen) và hơi nước trong không khí sấy tuy không nhiều những ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình sấy.
* Tốc độ sấy: Tốc độ sấy của hệ thống sấy phụ thuộc vào tốc độ giảm ẩm
của từng hạt riêng lẽ, còn gọi là tốc độ sấy lớp mỏng.
* Đặc tính cấu trúc của đối tượng sấy:
Phần lớn các vật liệu ẩm thường có cấu trúc xốp. Khoảng cách giữa các
phần tử cấu tạo nên khung vật chất khô lớn hơn kích thước của phân tử. Không
gian giữa các phần tử gọi là các mao dẫn hay các lỗ xốp. Đối với vật liệu ẩm thì
:
Nhiệt độ sấy tăng dần, nếu sấy đến độ ẩm (W)
cao hơn yêu cầu 1 ÷ 2% thì dừng lại và ử ít nhất 24 giờ.
•
Sấy 2 giai đoạn có ủ trung gian
:
Sấy đến 17 ÷ 18% (15% với hạt có
dầu), sau đó ủ (ít nhất 4 giờ), sấy tiếp ở nhiệt độ thấp hơn gần nhiệt độ môi
trường.
Sấy hai giai đoạn có công nghệ không phức tạp lắm, đã được các nhà
nghiên cứu thực hiện thành công và đã ứng dụng tốt với lúa, ngô, lạc và đỗ
tương thương phẩm. Giai đoạn đầu, hạt được sấy tới độ ẩm 18%(đối với lúa
và ngô), vì lượng ẩm của giai đoạn này tập trung ở gần bề mặt hạt nên dễ
tách. Sau đó hạt được chuyển sang giai đoạn ủ để việc chuyển ẩm từ tâm hạt
ra được từ từ, làm cân bằng ứng suất (nhiệt và ẩm) trong hạt tránh được nứt
do ứng suất và tạo cho quá trình thoát ẩm ở giai đoạn sấy sau được dễ dàng.
Tiếp đó, hạt được sấy tiếp đến W yêu cầu, giai đoạn này ẩm không hcir được
tách từ phần ngoài mà còn từ tâm hạt ra nhờ quá trình khuêch tán ẩm. Sấy hai
giai đoạn sẽ có lợi là giảm năng suất lượng yêu cầu, tăng khả năng sấy và cải
thiện chất lượng hạt do giảm tỉ lệ nứt vở.
•
Sấy nhiều giai đoạn
O hoặc ở
dạng liên kết ion như Ca(OH)
2
.
Trong quá trình sấy không đặt vấn đề tách ẩm ở dạng liên kết hoá học.
*Liên kết hoá lý :
Liên kết hoá lý không đòi hỏi nghiêm ngặt về tỷ lệ thành phần liên kết. Có
hai loại: liên kết hấp phụ (hấp thụ) và liên kết thẩm thấu.
Liên kết hấp phụ của nước có gắn liền với các hiện tượng xảy ra trên bề
mặt giới hạn của các pha (rắn hoặc lỏng). Các vật ẩm thường là những vật keo,
có cất tạo hạt. Bán kính tương đương của hạt từ 10
-9
– 10
-7
m. Do cấu tạo hạt nên
vật keo có bề mặt bên trong rất lớn. Vì vậy nó có năng lượng bề mặt tự do đáng
kể. Khi tiếp xúc với không khí ẩm hay trực tiếp với ẩm, ẩm sẽ xâm nhập vào các
bề mặt tự do này tạo thành liên kết hấp phụ giữa ẩm và bề mặt.
Liên kết thẩm thấu là sự liên kết hoá lý giữa nước và vật rắn khi có sự
chênh lệch nồng độ các chất hoà tan ở trong và ngoài tế bào. Khi nước ở bề mặt
vật thể bay hơi thì nồng độ của dung dịch ở đó tăng lên và nước ở sâu bên trong
sẽ thấm ra ngoài. Ngược lại, khi ta đặt vật thể vào trong nước thì nước sẽ thấm
vào trong.
* Liên kết cơ lý :
Đây là dạng liên kết giữa ẩm và vật liệu được tạo thành do sức căng bề
mặt của ẩm trong các mao dẫn hay trên bề mặt ngoài của vật. Liên kết cơ học
bao gồm liên kết cấu trúc, liên kết mao dẫn và liên kết dính ướt.
- Liên kết cấu trúc: là liên kết giữa ẩm và vật liệu hình thành trong quá
trình hình thành vật. Ví dụ: nước ở trong các tế bào động vật, do vật đông đặc
khi nó có chứa sẵn nước. Để tách ẩm trong trường hợp liên kết cấu trúc ta có
o
C: lúa mạch là 36,5 %; lúa mì: 22,5 % và thóc là 38 %.
- Hạt được sấy khô chỉ đến độ ẩm cân bằng hoặc độ ẩm cuối tương ứng
với độ ẩm tương đối và nhiệt độ của tác nhân sấy.
- Ẩm trương nở.
- Độ ẩm của hạt có thể vượt quá độ ẩm tới hạn chỉ trong trường hợp nếu
hạt được thu hoạch hoặc vận chuyển khi trời mưa.
4.4.4. Quan hệ giữa vật liệu ẩm và không khí :
* Độ ẩm cân bằng :
Nếu ta có một vật ẩm đặt trong môi trường không khí ẩm sẽ xảy ra sự
trao đổi nhiệt, ẩm giữa vật ẩm và môi trường không khí. Quá trình trao đổi nhiệt
phụ thuộc vào sự chênh lệch nhiệt độ giữa không khí và vật, còn quá trình trình
trao đổi ẩm phụ thuộc vào chênh lệch áp suất riêng phần của hơi nước trên bề
mặt vật và của hơi nước trong không khí ẩm. Nếu áp suất riêng phần trên bề mặt
vật ẩm lớn hơn áp suất riêng phần trong không khí sẽ xảy ra quá trình bay hơi từ
vật ẩm, độ ẩm của vật giảm đi (vật liệu khô hơn).
Nếu ngược lại, áp suất riêng phần trên bề mặt vật ẩm nhỏ hơn ấp suất
riêng phần trong không khí thì vật liệu ẩm sẽ hấp thụ ẩm, độ ẩm tăng lên.Trong
cả hai trường hợp áp suất riêng phần của hơi nước trên bề mặt vật ẩm sẽ tiến dần
tới trị số áp của riêng phần của hơi nước trong không khí ẩm. Khi hai trị số áp
suất riêng phần này bằng nhau thì vật và môi trường ở trạng thái cân bằng ẩm.
Lúc này vật không hút ẩm cũng không thải ẩm. Độ ẩm của vật lúc này gọi là độ
ẩm cân bằng Wcb. Độ ẩm cân bằng phụ thuộc vào áp suất riêng phần của hơi
nước trong không khí, tức là phụ thuộc vào độ ẩm tương đối của không khí ϕ.
Quan hệ hàm số: Wcb=f(ϕ) có thể được xác định bằng thực nghiệm và được gọi
là đường đẳng nhiệt. Đối với quá trình hút ẩm từ môi trường, đường cong
Wcb=f(ϕ) gọi là đường hấp thụ đẳng nhiệt. Đối với quá trình bay hơi ẩm từ vật,
đường cong xây dựng được là đường thải ẩm đẳng nhiệt (hình vẽ 1.1).
Độ ẩm cân bằng có ý nghĩa lớn trong việc chọn chế độ sấy thích hợp cho
từng loạisản phẩm thực phẩm. Người ta thường chọn độ ẩm cuối cùng của sản