LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu
của tôi .Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và đều được các cơ quan, tổ chức cho phép công bố./. Tác giả
Phan Song Toàn
truyền đạt những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường Đại học Nha Trang.
Chân thành cảm ơn Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Tùng và một số đồng nghiệp
trong Phân viện Qui hoạch Thủy sản đã dành thời gian để hỗ trợ cho tôi trong
quá trình thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp và trao đổi, giúp đỡ thêm một số
phương pháp phân tích và xử lý số liệu của đề tài.
Cảm ơn các Anh/Chị lớp Cao học Nuôi Trồng Thủy Sản 2006 đã đoàn
kết, gắn bó cùng tôi vượt qua chặng đường dài học tập ở bậc cao học.
Trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại; Phòng Nông nghiệp
huyện Bình Đại; Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận, Thừa Đức; Hợp tác xã thủy
sản Rạng Đông, Đồng Tâm; các hộ dân thuộc 2 xã Thới Thuận, Thừa Đức và
một số đồng nghiệp trong Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre đã
nhiệt tình cung cấp số liệu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài./.
Bến Tre, tháng 5 năm 2010 Phan Song Toàn
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ……………………………………………………………………. i
Lời cám ơn……………………………………………………………………… ii
Mục lục…………………………………………………………………………… iii
Danh mục các bảng………………………………………………………………. vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị…………………………………………………… viii
2.3-Phương pháp nghiên cứu cụ thể 15
Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
3.1-Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1-Vị trí địa lý Bình Đại 17
3.1.2-Đặc điểm khí hậu 18
3.1.2.1 -Nhiệt độ không khí 18
3.1.2.2- Số giờ nắng 19
3.1.2.3- Độ ẩm tương đối 19
3.1.2.4- Bốc hơi………… ……………………………………………………… 19
3.1.2.5- Chế độ gió……………………………………………………….……… 19
3.1.2.6- Lượng mưa……….……………………………………………………… 20
3.1.2.7- Chế độ thủy văn 20
3.1.3- Chất lượng nước 21
3.1.3.1- Nhiệt độ nước……………… …………………………………………. 21
3.1.3.2- Độ mặn 21
3.1.3.3- COD………….…………………………………………………………. 22
3.1.3.4- BOD…………………………………………………………………… 22
3.1.3.5- pH……………………………………………………………………… 22
3.1.4- Chất đất 23
3.1.4.1- Thành phần cơ giới của đất 23
3.1.4.2-Thành phần hữu cơ của đất 23
3.2- Tình hình kinh tế- xã hội của cộng đồng 23
3.2.1- Tình hình nhân khẩu 24
3.2.2- Tình hình lao động 24
3.2.3- Nghề sản xuất chính 25
3.2.4- Thu nhập bình quân hộ 27
3.2.5- Tình hình văn hóa trong hộ 27
3.2.6- Cộng đồng đối với việc tham gia HTX 28
3.2.7- Các vấn đề ngoại cảnh tác động 29
3.2.7.1- Môi trường 29
3.4-Tiềm năng phát triển 65
3.4.1- Điều kiện tự nhiên, xã hội 65
3.4.2- Lực lượng lao động………………………………………………………… 65
3.4.3- Dự báo tình hình tiêu thụ sản phẩm nghêu ….66
3.5- Phân tích cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu (SWOT) 67
3.5.1- Điểm mạnh (S-Strength) 67
vi
3.5.2- Cơ hội( O-Opportunity) 67
3.5.3- Điểm yếu (W-Weakness) 68
3.5.4- Đe dọa, thách thức (T-Threat) 69
3.6-Giải pháp 70
3.6.1-Nhóm giải pháp về kỹ thuật…….……….……………………………………. 70
3.6.1.1- Qui hoạch vùng nuôi…………………………………………………… 70
3.6.1.2- Quan trắc, cảnh báo môi trường, bảo vệ chất lượng môi trường nước 70
3.6.1.3- Con giống……….…………………………………………………… 71
3.6.1.4- Phát triển nuôi đi đôi với bảo vệ môi trường và kiểm soát VSATCLSP… 71
3.6.1.5- Duy trì thương hiệu MSC nghêu Bến Tre……………… …………… 72
3.6.1.6- Duy trì phát triển thêm hệ thống rừng ngập mặn………… ………… 72
3.6.1.7- Các giải pháp kỹ thuật khác………………………………………… 72
3.6.2-Nhóm giải pháp về quản lý…… ………….………………………………. 73
3.6.2.1- Giải pháp củng cố tổ chức, bộ máy và công tác quản lý……………… 73
3.6.2.2- Giải pháp về đào tạo…………………………………………………… 74
3.6.2.3- Giải pháp tuyên truyền giáo dục………………………………………… 74
3.6.2.4- Giải pháp xây dựng chính sách, thể chế……………………………… 75
3.6.2.5- Giải pháp về vốn…………… ………………………………………… 76
3.6.2.6- Giải pháp về thị trường, xúc tiến thương mại …………………… 76
CHƯƠNG 4- KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT 77
4.1- Kết luận 77
Bảng 3.13: Kích cỡ, mật độ giống thả nuôi ở HTX Rạng Đông, Đồng Tâm 39
Bảng 3.14: Tốc độ sinh trưởng nghêu nuôi vùng nghiên cứu 39
Bảng 3.15: Diễn biến diện tích, sản lượng nghêu toàn tỉnh 41
Bảng 3.16: Diễn biến diện tích, sản lượng nghêu Bình Đại 43
Bảng 3.17: Giá nghêu các loại qua 5 năm (2005-2009)………………………… . 46
Bảng 3.18: Thông tin về 2 Hợp tác xã Bình Đại (nguồn HTX) 53
Bảng 3.19: Các khó khăn của từng Hợp tác xã theo ý kiến xã viên 56
Bảng 3.20: Hoạt động tài chính của HTX đối với nguồn lợi tự nhiên 57
Bảng 3.21: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận qua các năm tại HTX Rạng Đông 59
Bảng 3.22: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận qua các năm tại HTX Đồng Tâm 60
viii
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Vị trí phân bố nguồn lợi nghêu (Meretrix lyrata -Sowerby, 1851) ở ĐBSCL 5
Hình 1.2: Biểu đồ tỷ lệ (%) giữa các nhóm tảo trong ống tiêu hóa 6
Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 17
Hình 3.2: Bản đồ hành chính huyện Bình Đại 18
Hình 3.3: Cơ cấu nghề sản xuất chính của hộ 25
Hình 3.4: Nghêu chết trắng tại Thới Thuận- Bình Đại năm 2008 32
Hình 3.5: Vị trí phân bố nghêu giống và nghêu bố mẹ ở HTX Đồng Tâm 35
Hình 3.6: Vị trí phân bố nghêu giống và nghêu bố mẹ ở HTX Rạng Đông 36
Hình 3.7: Ngư cụ dùng để thu hoạch nghêu thịt 40
Hình 3.8: Thu hoạch nghêu thương phẩm (nghêu thịt) 40
HTX: Hợp tác xã
MSC: Hội đồng biển Quốc tế (Marine Stewarship Council)
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
EU: Liên minh Châu Âu
XK: Xuất khẩu
GAP: Thực hành nuôi tốt (Good Aquacuture Practic)
CoC: Qui tắc nuôi có trách nhiệm
(Code of Conduct for Responsible Aquaculture)
CTV Cộng tác viên 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1- Giới thiệu:
Nghêu là loài động vật thân mềm hai vỏ (Bivalvia), phân bố tập trung ở ven
biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Nghêu hiện là đối tượng khai thác quan
trọng nhất trong số các loài động vật thân mềm (Mollusca), chiếm khoảng 60%
sản lượng khai thác hải sản trong khu vực.
Hàng chục năm qua nghề nuôi nghêu đã góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho hàng ngàn người dân nghèo ven biển huyện Bình Đại; đặc biệt, từ khi con nghêu
được thị trường châu Âu công nhận là sản phẩm “sạch”, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ
sinh thì nhu cầu chế biến xuất khẩu tăng vọt, sản lượng nghêu không đủ cung cấp;
giá nghêu thương phẩm tăng lên và nhu cầu nuôi nghêu được mở rộng; Con nghêu
từ chỗ giá trị thấp trở thành mặt hàng “đặc sản” xuất khẩu.
Trước đây, việc quản lý nguồn lợi giống tự nhiên của đối tượng này trên địa bàn
Bến Tre nói chung, Bình Đại nói riêng hết sức phức tạp, do nhiều nguyên nhân
khách quan, chủ quan như: thất nghiệp, nhàn rỗi và trình độ nhận thức về tầm quan
trọng của sự phát triển bền vững trong đại bộ phận người dân chưa cao; đặc biệt là
trình độ quản lý của các tổ chức, cá nhân nuôi nghêu còn yếu, cộng với tình hình giá
3. 2. Mục tiêu cụ thể:
- Cung cấp được một số luận cứ khoa học để đề xuất giải pháp cụ thể vận
dụng vào quá trình bảo vệ, quản lý và khai thác hiệu quả, nhằm phát triển bền
vững nguồn lợi nghêu huyện Bình Đại.
- Có đầy đủ thông tin để đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển
bền vững nguồn lợi nghêu ở vùng cửa sông ven biển huyện Bình Đại.
- Đề xuất được mô hình quản lý hiệu quả nguồn lợi nghêu huyện Bình Đại
và nhân rộng cho các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
- Tìm ra những khó khăn thực sự của mô hình quản lý, bảo vệ và khai
thác nghêu để đề xuất giải pháp điều chỉnh, củng cố và phát triển.
3
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU:
1.1- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NGHÊU BẾN TRE (Meretrix lyrata
Sowerby, 1851):
1.1.1- Hệ thống phân loại:
Ngành thân mềm: Mollusca
Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia
Bộ mang thật: Eulamellibranchia
Bộ phụ: Schizodonta
Phân bộ: Heterodonta
Tổng họ: Veneracea
Họ Ngao: Veneridae
Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam, trong đó vùng có sản lượng cao
nhất là ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang và tỉnh Bến Tre.
Cũng theo Nguyễn Chính (1996), ở Việt Nam hiện nay có khoảng 6 loài thuộc
họ Veneridae trong đó có hai loài thuộc giống Meretrix, 1 loài thuộc giống Cyclina, 2
loài thuộc giống Anomalocardia và 1 loài thuộc giống Ktelisia. Ở đồng bằng sông Cửu
Long, chỉ có loài Meretrix lyrata Sowerby, 1851 là phân bố với mật độ cao, các loài
khác như Meretrix meretrix phân bố với mật độ rất thấp.
Cụ thể hơn, theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), ở ĐBSCL, loài nghêu Meretrix
lyrata Sowerby, 1851 phân bố ở Cần Giờ (T/p.HCM), Gò Công Đông (Tiền Giang),
Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh
Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau). Kết quả khảo sát vùng
có nghêu con phân bố vào năm 1998 ở Gò Công Đông của Võ Sĩ Tuấn (1999) cho
thấy chúng tập trung ở độ cao từ khoảng 0,8- 1,5m so với cao độ hải đồ.
Các đặc trưng phân bố của Nghêu cũng đã được một số tác giả nghiên cứu cho
thấy Nghêu phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày. Theo
Nguyễn Tác An, Nguyễn Văn Lục (1994), độ sâu cực đại tìm thấy Nghêu lúc nước
ròng là 1,5 - 2,5 m. Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát trung có pha lẫn
bùn lỏng (10-18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi Nghêu (1,5 - 2,5 cm).
Độ mặn từ 7 - 25‰, nhiệt độ là 26 - 32
o
C, các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi
nghêu biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng đều phụ thuộc vào lượng mưa lũ tràn qua vùng
rừng ngập mặn đổ ra các bãi nghêu.Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), nghêu thích hợp
sinh sống ở những vùng có nền đáy cát bùn với tỉ lệ cát từ 60-90%, cát bùn có cấp hạt
từ 0,062 - 0,25mm; phân bố chủ yếu ở vùng trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc
tương đối bằng phẳng, ít dốc, cấu trúc nền đáy hơi xốp để thuận lợi cho việc vùi mình
của nghêu; trong tự nhiên, thực tế tại tỉnh Bến Tre chưa thấy nghêu phân bố ở vùng
đáy bùn hay các khu vực đất sét.
5
Kiên
An Giang
Đ
ồng
V
ĩnh Long
Ti
ền Giang
Long An
B
ến Tre
T
P. H
ồ Chí
10
o
106
o
Bãi
Tân Thành
Bãi
Thừa Đức
thành các bãi nghêu giống ở cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu.
1.1.4-Tính ăn và thức ăn của nghêu:
Theo Thái Trần Bái (1978), hoạt động bắt mồi của Bivalvia là theo cách ăn lọc nhờ
vào hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp hút nước vào mang. Quá trình bắt
mồi xảy ra liên tục nhưng với cách bắt mồi này nghêu chỉ bắt mồi thụ động, chúng chỉ có
thể chọn lọc kích thước hạt thức ăn chứ không chọn lọc theo tính chất thức ăn.
Khảo sát điều kiện môi trường, sinh thái và khả năng phát triển Nghêu Meretrix
lyrata Sowerby,1851 ở vùng Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, qua kết quả phân tích
112 mẫu nghêu, Võ Sĩ Tuấn (1999) nhận xét rằng thành phần thức ăn chủ yếu của
nghêu là mùn bã hữu cơ, chiếm đến 90% lượng thức ăn. Các thành phần sinh vật phù
du bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu khoảng 10% và đã ghi nhận được 61 loài sinh
vật phù du trong đó lớp tảo Silic chiếm đa số.
Một số giống có nhiều loài thường bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu phải kể
đến: Coscinodiscus (9 loài), Pleurosigma (3 loài), Cyclotella (3 loài), Rhizosolenia (3 loài).
6.56%
1.64%
1.64%
90.16%
tảo Lục tảo Silic tảo Giáp tảo Kim
Hình 1. 2: Biểu đồ tỷ lệ (%) giữa các nhóm tảo trong ống tiêu hóa
của nghêu Meretrix lyrata Sowerby, 1851 tại Tiền Giang
Nghiên cứu này cũng cho thấy mật độ tế bào thực vật phù du tại vùng biển Gò
Công tương đối cao; tuy nhiên mật độ phân bố không đồng đều và biến động rất lớn
theo mùa, thể hiện qua hình 1, điều này có ảnh hưởng khả năng bắt mồi và sự tăng
7
trưởng của nghêu. Mùa khô mật độ thực vật phù du tăng vọt so với mùa mưa, lượng
thức ăn dồi dào, điều này góp phần củng cố nhận định của nhiều tác giả rằng nghêu
8
định mùa sinh sản của chúng, nghĩa là mùa sinh sản chính từ tháng 5 đến tháng 7, ở
giai đoạn thời tiết chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa, và mùa sinh sản phụ là từ
tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy mùa phụ) với mật độ nghêu giống
xuất hiện thấp hơn. Việc nghêu giống xuất hiện ồ ạt vào tháng 6- tháng 8/1998 cho
thấy yếu tố môi trường giữ vai trò quyết định so với các yếu tố khác như nguồn nghêu
bố mẹ, vị trí và cấu tạo nền bãi.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy, mùa vụ sinh sản của
nghêu thường bắt đầu vào thời điểm giao mùa từ mùa khô chuyển sang mùa mưa, tức
khoảng thời gian từ tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm. Đây là thời điểm mà các yếu tố môi
trường nước cũng như khí hậu thay đổi rất lớn, chính sự biến động này đã kích thích nghêu
bố mẹ sinh sản, nguồn nghêu giống xuất hiện chủ yếu tại 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang.
1.1.6.3-Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản của nghêu bố mẹ:
Theo D.B. Quayle và G.F. Newkirk (1989), mùa vụ sinh sản của các loài ĐVTM
hai vỏ có liên quan đến yếu tố môi trường, thời tiết như độ mặn, thủy triều, dòng
chảy… đặc biệt là nhiệt độ và độ mặn. Ở vùng ôn đới, Bilvavia thường sinh sản vào
mùa xuân (quá trình thành thục sinh dục liên quan đến sự tăng dần nhiệt độ vào mùa
xuân) và sự sinh sản phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ vì độ mặn vùng ôn đới thường
tương đối ổn định và không có ảnh hưởng nhiều đến sinh sản. Ngược lại, vùng nhiệt
đới nhiệt độ cao và tương đối ổn định, còn độ mặn có sự biến động, chính sự biến
động này là một nhân tố kích thích quá trình sinh sản của Bivalvia, dẫn đến hiện tượng
là Bivalvia vùng nhiệt đới sinh sản kéo dài và kém tập trung hơn Bivalvia vùng ôn đới.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy, sự biến động
độ mặn tại các vùng khảo sát có liên quan chặt chẽ với nhiệt độ và chế độ mưa lũ hàng
năm. Biến động độ mặn vào mùa mưa năm 1997 và mùa khô năm 1998 cao hơn nhiều
so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999. Cùng với kết quả điều tra sự xuất
hiện của nghêu giống, tác giả nhận định rằng sự biến động lớn về độ mặn (giảm mạnh
độ muối) và nhiệt độ (giảm nhiệt độ) vào thời điểm đầu mùa mưa là nguyên nhân
(Trochophore) sống trôi nổi trong nước, sau đó là giai đoạn sống bám trên nền đáy và
cuối cùng là giai đoạn trưởng thành - lúc này nghêu đã phát triển chân đầy đủ nên có
thể chui rút xuống nền đáy dễ dàng. Do đó tác động của các yếu tố môi trường đến sự
xuất hiện nghêu giống thể hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và giai
đoạn chuyển sang sống đáy.
a/ Các yếu tố môi trường:
Theo D.B. Quayle và G.F. Newkirk (1989), trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi
thì dòng nước ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của chúng, dù có khả năng bơi lội thì ấu
trùng cũng không đủ sức cưỡng lại dòng nước, điều này có ảnh hưởng đến sự phân bố
của ấu trùng và giải thích tại sao các bãi nghêu giống không cố định ở một vị trí.
10
Cũng theo D.B. Quayle (1989) quan sát thấy rằng ấu trùng Bivalvia có hiện
tượng di chuyển lên xuống trong tầng nước theo chiều thẳng đứng và phụ thuộc vào
chu kỳ thủy triều (khi triều lên ấu trùng di chuyển lên tầng mặt và khi triều xuống ấu
trùng lại di chuyển xuống đáy), đây là căn cứ giải thích cho việc ấu trùng có thể tồn tại
ở khu vực gần cửa sông mà không bị cuốn trôi ra biển.
b/ Chất đáy:
Chất đáy là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của
sinh vật thông qua sự phụ thuộc của sinh vật đó với đặc trưng của nền đáy mà nó thích
ứng. Theo Odum (1963), động vật thân mềm thường chọn nền đáy cát bùn làm nơi sinh
sống, nhóm sống trong cát và trên bề mặt cát là nhóm ăn lọc các chất lơ lửng trong nước,
trong khi các loài sống trong bùn thường ăn các mùn bã hữu cơ trong bùn. Từ đó đưa ra
nhận định rằng mỗi loài sinh vật sống đáy phân bố theo một loại chất đáy riêng.
Chất đáy có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sống của nghêu, nhất là trong giai
đoạn ấu trùng. Sau giai đoạn sống phù du, ấu trùng nghêu chuyển sang sống đáy và
bám lên các vật bám trên nền đáy, lúc này ấu trùng rất cần điều kiện nền đáy bằng
phẳng và những vật bám như cát to, sỏi…
1.1.7- Khả năng thích nghi điều kiện môi trường:
ứng của trạm quan trắc lũ sông Tiền thì thấy rằng mức lũ ở những năm này là thấp
nhất. Điều này cho thấy có sự liên quan giữa chế độ lũ và sự xuất hiện nghêu giống.
Tác giả đặt ra câu hỏi: phải chăng nghêu vẫn sinh sản hàng năm nhưng vào những năm
lũ lớn, một mặt do dòng chảy xiết, một mặt do độ mặn giảm xuống rõ rệt làm ấu trùng
nghêu trôi dạt ra xa bờ hoặc đến những nơi có nền đáy không thích hợp cho sự phát
triển của chúng trong giai đoạn chuyển sang sống đáy. Chính vì thế, trong năm 1997
và 1999, chúng ta vẫn bắt gặp sự xuất hiện của nghêu giống nhưng với mật độ và sinh
khối thấp hơn nhiều so với năm 1998.
1.2.2- Nguyên nhân của sự biến động nguồn lợi nghêu:
Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi nghêu
Meretrix lyrata Sowerby,1851 ở ĐBSCL của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho
thấy: căn cứ vào số liệu thống kê trong 10 năm từ (1989-1999), chỉ có 3 năm 1992,
1993 và 1998 là nghêu giống xuất hiện với mật độ cao trùng vào những năm mùa lũ
rất thấp, điều này thể hiện mối quan hệ giữa sự tồn tại và phát triển của ấu trùng nghêu
với các yếu tố thủy văn và chế độ mưa lũ. Năm 1998 có mức lũ thấp nhất, có thể đây
là nhân tố khá quan trọng cho sự phát triển của nghêu ở giai đoạn phù du, chúng không
bị tác động mạnh mẽ của khối nước ngọt từ nội đồng đẩy đi xa khỏi những bãi đáp của
chúng khi chuyển sang giai đoạn sống đáy.
Từ đó, tác giả lý giải rằng có thể những năm lũ lớn nghêu vẫn sinh sản nhưng ấu trùng
của chúng tồn tại và phát triển kém do độ mặn giảm, do tốc độ dòng chảy vùng cửa sông
vào những năm có lũ lớn tương đối cao làm cho ấu trùng nghêu trôi dạt ra xa bờ, sau đó khi
chuyển sang giai đoạn sống đáy thì chúng không có nền đáy thích hợp để phát triển.
12
Cũng trong nghiên cứu này, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy biến động các yếu
tố như nhiệt độ và độ mặn trong năm 1998 có nhiều ưu thế tạo nên sự bội thu giống
hơn so với năm 1997 và năm 1999. Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho rằng, sự
khác biệt về biến động chế độ nhiệt và độ mặn theo chu kỳ mùa mưa năm 1997 và
mùa khô năm 1998 so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999 là một trong
13
Bến Tre là tỉnh ven biển hình thành bởi 3 cù lao lớn (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù
lao An Hóa) nằm về cuối nguồn sông Cửu Long với 4 cửa sông lớn nằm trên địa bàn
tỉnh đổ ra biển là Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên. Vì thế, hàng năm vùng ven
biển Bến Tre tiếp nhận một lượng phù sa rất lớn bồi lắng, tạo ra một vùng bãi bồi ven
biển có diện tích đáng kể. Với 65 km bờ biển, Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu
lớn nhất nước. Hiện nay, tổng diện tích mặt nước nuôi nghêu trong toàn tỉnh đạt 4.200
ha trên diện tích tiềm năng có thể sử dụng để nuôi nghêu là 6.300 ha. Đặc biệt, bên cạnh
điều kiện tự nhiên thuận lợi thì việc quản lý nghề nuôi nghêu và nâng cao ý thức bảo vệ
nguồn lợi nghêu cho người dân ở Bến Tre được các cơ quan chức năng tại địa phương
thực hiện khá tốt. Do đó những năm gần đây nguồn nghêu giống ở Bến Tre xuất hiện
nhiều hơn hẳn so với các địa phương khác. Có thể nói, hiện nay nguồn cung cấp nghêu
giống chủ yếu cho cả vùng ĐBSCL là tỉnh Bến Tre.
Ngoài tác động của các nhân tố khách quan là những yếu tố môi trường như đã
nêu trên, hoạt động kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến biến động nguồn
lợi nghêu. Mặc dù nghề nuôi nghêu ở ĐBSCL hiện nay hầu như lệ thuộc hoàn toàn
vào nguồn giống tự nhiên nhưng việc quản lý nguồn lợi ở các địa phương lại chưa
được chặt chẽ và ý thức bảo vệ nguồn lợi tự nhiên của người dân chưa cao. Chính vì
thế nên nguồn nghêu giống cũng như sản lượng nghêu thu hoạch biến động rất thất
thường, chưa khai thác hết tiềm năng hiện có của vùng cửa sông ven biển mà ngược lại
còn làm ảnh hưởng xấu đến môi trường và nguồn lợi nghêu tự nhiên.
Để nghề nuôi nghêu đạt hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu,
góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân sống vùng ven biển, việc
nghiên cứu đánh giá về hiện trạng, tiềm năng và kinh tế xã hội nghề nuôi nghêu tập trung ở
các tỉnh ĐBSCL là hết sức cần thiết. Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước như
Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999), Trương Quốc Phú (1999), Võ Sĩ Tuấn (1999), Nguyễn
Hữu Phụng (1996)… đã cho thấy hiện trạng nghề nuôi nghêu ở các tỉnh ĐBSCL nói chung
và tỉnh Bến Tre nói riêng có nhiều tiềm năng phát triển nhưng cũng gặp không ít thách thức
trong khâu quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi nghêu vùng cửa sông
Hiện trạng, tiềm năng và giải pháp bảo
vệ, phát triển bền vững nguồn lợi
nghêu huyện Bình Đại- Bến Tre.
Điều tra, đánh giá tình hình kinh
tế- xã hội của cộng đồng dân cư
địa phương
Điều tra, đánh giá thực trạng quản
lý, nuôi và khai thác nguồn lợi
nghêu
-Điều kiện tự nhiên, xã hội.
-Hoạt động kinh tế của cộng đồng
dân cư (thu nhập, nghề nghiệp, cơ
cấu lao động…).
-Tình hình văn hóa (học vấn, văn
hóa địa phương).
-Vai trò cộng đồng trong việc bảo
vệ phát triển nguồn lợi.
-Các vấn đề ngoại cảnh tác động
đến khu vực nghiên cứu.
-Tình hình nghêu bố mẹ.
-Bãi nghêu giống (Vị trí, đặc điểm,
2. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (RRA-
Rapid Rural Appraisal)
-Đánh giá hiện trạng kinh tế- xã hội vùng nghiên cứu bằng phương pháp đánh
giá nhanh nông thôn, thông qua bộ câu hỏi chuẩn đã soạn thảo chi tiết. Mẫu câu hỏi
này mang tính chất định tính cho nhóm nông dân và cho cán bộ quản lý nhằm kiểm tra
lại kết quả từ điều tra cơ bản, cũng như đây là những thông tin chung của vùng nghiên
cứu để hỗ trợ cho việc tìm hiểu sự tương quan, tương phản giữa các đối tượng giúp
cho đánh giá khách quan hơn.
Trên cơ sở đối tượng điều tra là tất cả các hộ xã viên thuộc 2 HTX Rạng Đông
(xã Thới Thuận) và Đồng Tâm (xã Thừa Đức), nhằm đạt mức ý nghĩa thống kê với số
lượng mẫu điều tra tối thiểu bắt buộc phải từ 30 mẫu trở lên và qua điều tra cho thấy
số hộ ở 2 xã tương đương nhau (Thới Thuận 1987 hộ, Thừa Đức 2014 hộ), vì thế
thống nhất chọn số mẫu là 66 hộ; bao gồm: xã Thới Thuận (HTX Rạng Đông) 33 hộ,
xã Thừa Đức (HTX Đồng Tâm) 33 hộ. Sau khi đã thống nhất số lượng mẫu, sẽ tiến
hành điều tra ngẫu nhiên ở các ấp.
- Số liệu về diễn biến diện tích, sản lượng được lấy từ báo cáo tổng kết hàng
năm của Sở Thủy sản, các hợp tác xã và có đối chiếu với số liệu của Cục thống kê
tỉnh. Sử dụng phần mềm MS.Excel để xử lý số liệu và vẽ biểu đồ, đồ thị. Các chỉ số
thống kê đơn giản được áp dụng để phân tích và so sánh, sử dụng chỉ số tương quan và
hồi qui để phân tích xu hướng biến động nguồn lợi nghêu theo các chỉ tiêu.
-Tìm hiểu các văn bản đã được ban hành của Nhà nước, của Bộ Thủy Sản/Nông
nghiệp và PTNT, các quy định từ các cấp thuộc chính quyền địa phương cũng như các biện
16
pháp đang được thực thi trong việc quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu trên từng địa
bàn. Nội dung này sẽ được thực hiện bằng phương pháp thu thập và sàng lọc thông tin từ các
tư liệu thứ cấp. Đó là những tư liệu liên quan đến các điều luật, các quy chế của Nhà Nước,
của Bộ đã được phổ biến, áp dụng trong ngành và trên từng khu vực. Các tư liệu này sẽ được
thu thập từ các bộ phận lưu trữ của Sở đặc biệt tập trung tìm hiểu các văn bản và những