phân tích nhân sinh quan triết học phật giáo và liên hệ với bản thân - Pdf 22



Tiểu luận
Phân tích nhân sinh quan Triết học
phật giáo và liên hệ với bản thân

Để phân tích nhân sinh quan triết học phật giáo, chúng ta cần phải biết lịch sử hình
thành và phát triển của triết học Phật giáo. Trường phái Phật giáo xuất hiện vào khoảng
thế kỷ V trước Công nguyên do Xítđácta Gôtama (563-483 Trước Công nguyên) sáng lập
và nhanh chóng được truyền bá ở miền Bắc Ấn Độ. Năm 29 tuổi Xítđácta Gôtama xuất
gia đi tu để tìm kiếm con đường cứu vớt những nỗi khổ của loài người. Nhưng qua 7 năm
theo các bậc chân tu khổ hạnh của truyền thống tu luyện Ấn Độ mà người vẫn chưa tìm
ra chân lý. Cuối cùng người lang thang đến khu rừng thiêng Uravela miền Bắc Ấn Độ và
ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề. Sau 3 ngày đêm suy ngẫm người phát hiện ra bản tính vô
ngã vô thường của thế giới, tiếp tục ngồi gốc cây bồ đề them 49 ngày nữa để chiêm
nghiệm tâm linh và giải thích thấu đáo bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau.
Người cho rằng mình đã tìm được con đường cứu vớt chúng sinh. Từ đó người ta gọi ông
là Phật, nghĩa là người đã giác ngộ, thấu hiểu chân lý. Giáo đoàn phật giáo được ông xây
dựng và đi rao giảng giáo lý của mình.
Những nội dung cơ bản của Phật giáo được thể hiện trong giáo lý. Hệ thống giáo lý
của Phật giáo là một hệ thống rất đồ sộ nằm chủ yếu trong Tam tạng kinh điển, gồm Kinh
tạng (ghi lời Phật dạy), Luật tạng (các giới luật), và Luận tạng, nói vế thế giới quan và
nhân sinh quan của Phật Thích Ca.
Vậy nhân sinh quan là gì? Nhân sinh quan là cách nhìn nhận đời sống, công tác, xã
hội, lịch sử, dựa t heo lợi ích của giai cấp mình. Nhân sinh quan cách mạng. Nhân sinh

không ru người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm cho người
ta sợ hãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộc sống. Phật chỉ cho chúng ta nhận thức
sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát.
Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thường dịch là khổ là chưa thật hết nghĩa nên
mới dẫn đến những hiểu lầm trên.
Trong phép tướng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ. Như vậy
không phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ. Đối với cảnh nghịch sinh ra khổ thụ nhưng
đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thú. Các cảnh có thể làm cho người ta vui hoặc khổ
hoặc không vui, không khổ. Đạo phật không phủ nhận những cảm giác vui (lạc thú ) của
cuộc đời mà còn phân tích ra nhiều hình thức vui. Nhưng những cái vui ấy, cũng như
những cái khổ ấy đều bao gồm trong danh từ Dukkha, vì những cái vui, cũng như những
cái khổ ấy đều là vô thường hư giả.
Dù người tu hành chứng được những trạng thái thiền định cao siêu thì những lạc thú
siêu thoát ấy vẫn là Dukkha vì những người tu hành ấy chưa thoát khỏi tam giới vô
thường, hư giả.
Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cái Dukkha ấy
chứ không phải là tránh khổ, tìm vui như thế gian thường hiểu, thường lầm.
Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi
phối nên khổ.
2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến. Cái
già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da
nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta
phiền não.
3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể t hường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể
suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết. Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào
thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não
vô cùng.
5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu

tưởng các hiện tượng đó là thực có, là thường còn. Vô minh che lấp ta không nhận thấy
được chân tâm mà luôn luôn chạy theo vọng tâm, làm ta thấy có thân, có cảnh, có ta, có
người của ta và thấy quý thân t a, không quan tâm đến người sống quanh ta.
Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói ý nên Phật gọi là thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp.
Kết quả của hành động ấy gọi là nghiệp báo. Không phải hoạt động nào của ta cũng
gây nghiệp báo. Những việc như : đi, đứng, nhìn, ngồi, thì không gây nghiệp báo.
Nghiệp có hai loại: Nghiệp thiện và nghiệp ác.
Nghiệp thiện : là những việc có lợi cho người và đem lại quả báo tốt cho mình.
Nghiệp ác: là những việc làm hại cho ngươi và đem lại quả báo xấu cho mình.
Như vậy, Phật đặt số mệnh của con người trong chính tay họ. Tự con người đã gây
nên nỗi khổ cho mình. Do đó, Phật đưa ra lý thuyết thập nhị nhân duyên để thấy được
nguồn gốc của sự vật trong thế gian. 12 nhân duyên là sợi dây liên tục nối tiếp con người
trong vòng sinh tử luân hồi đó là:
1. Vô minh 5. Lục nhập 9. Thù
2. Hành 6. Xác 10. Hữu
3. Thức 7.Thụ 11.Sinh
4. Danh sắc. 8.Ái 12. Lão tử.
Tập đế là một chân lý thể hiện tính biểu chứng sâu sắc trong mối quan hệ nhân quả
và đã tìm tới các nguyên nhân rất đa dạng, phong phú. Các nguyên nhân ấy quan hệ với
nhau, cái nào cũng có thể làm nhân làm duyên cho cái khác, như làn sóng trên mặt biển,
lớp trước là lớp nhân là duyên cho lớp sau và cứ thế tiếp diễn. Nhưng cái hạn chế của tập
đế là chưa đề cập đến nguyên nhân từ xã hội. Đặc biệt là chưa nhắc tới quan hệ giai cấp,
bóc lột trong xã hội. Luận điểm này thể hiện rõ từ trào hướng nội hướng nội trong nhận
thức luận Phật giáo.
c. Diệt đế:
Diệt đế là tích quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà đạo đế mang lại.
Diệt đế là trừ diệt sự khổ để đi đến chỗ an lạc là chỗ kết nghiệp đã hết không còn
luân hồi sinh tử nữa.
Có tịnh nghiệp tất sinh tịnh quả. Ấy là khi diệt đế vọng niệm không còn khởi lên,

1. Chính ngữ : là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái.
2. Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người.
3. Chính mệnh: sống bằng nghề nghiệp chân chính.
4. Chính tịnh tiến : tiến tới trên con đường đạo, không đi vào các đường tà.
5. Chính niệm: tâm trí luôn luôn nghĩ đến đạo lý vô ngã, diệt trừ những kiến chấp
mê lầm, đoạt trừ những tư tưởng, hành động bất chính.
6. Chính định : Giữ tâm vắng lặng không một vọng niệm khởi lên để trí tuệ xuất
hiện, chứng quả tu đà hoàn.
7. Chính kiến : kết quả của việc sống, tư duy con người phải có ý biến lấy tiêu biểu
là các vị Phật.
8. Chính tư duy: Sau khi có niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ một cách chân
chính, làm chủ được dòng tư duy.
Để đi qua tám con đường trên thì không ngoài ba nguyên tắc: giới, định, tuệ hay còn
gọi là tam học. Các nguy ên tắc này có sự liên hệ mật thiết bổ xung cho nhau.
1.Giới học: là cả một thiên luân lý thực hành của Đạo Phật, mục đích để kiềm chế rồi
đi đến diệt lục. Giới gồm những phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt hàng
ngày của con người, hướng con người sống theo đạo, thích hợp với đạo, tức là luôn
hướng về thiện .
Phật chỉ định ra nhiều giới đạo cho người tu hành tại gia, tu xuất gia, cho nam giới,
nữ giới, cho người mới vào đạo và người tu lâu ngày. Người tu hành phải giữ giới
nghiêm túc thì mới định được. Nếu không giữ được tất con người luôn bị vọng dộng, bị
cảnh chuyển, không vào cảnh định được.
2. Định học là đình chỉ mọi tư tưởng xấu ý nghĩa xấu nguyên nhân phát sinh những
hành động xấu đi đến gây nghiệp báo xấu. Định còn là tập trung tư tưởng, suy nghĩ làm
những việc lành, từ đó nảy sinh một trạng thái an lạc, tạo điều kiện cho tuệ phát ra.
3. Tuệ học : là trí tuệ sáng suốt của người tu hành đã diệt được dục vọng, đã diệt
được tam độc là tham, sân, si, đã thấu được lý vô thường, vô ngã do đó chỉ nghĩ đến làm
điều thiện, mưu lợi cho chúng sinh.
Với pháp tứ diệu đế Phật muốn cho chúng sinh thấy 2 cảnh giới khác nhau là Niết
Bàn và Thân Lụy: một con đường giác ngộ, an lạc và một con đường mê lầm tội lỗi. Và

2. Quan hệ thầy và trò: Học trò phải kính trọng và tuân lời thầy, chuyên cần học tập.
Về phần mình, thầy rèn tập cho học trò đến mức cần thiết, dạy học trò thật giỏi, giới thiệu
học trò cho những bạn bè của nó, cuối cùng cố gắng tìm việc làm yên ổn cho học trò, khi
họ học xong.
3. Quan hệ giữa chồng và vợ: tình yêu gắn bó họ phải được coi như thiêng liêng.
Tình yêu là chỗ dựa cho mối liên kết gắn kết của vợ chồng. Chồng và vợ phải trung
thành, kính trọng và tận tâm với nhau: chồng phải luôn tôn trọng vợ, phải yêu vợ và
chung thủy với vợ, phải bảo đảm vị trí và tiện nghi của vợ, phải làm vui lòng vợ. Về phía
mình, vợ phải chăm sóc những công việc nội trợ, phải đón tiếp khách, bạn bè, phải yêu
thương chồng, chung thủy với chồng, phải giữ gìn tài sản và phải khéo léo, dũng cảm
trong mọi hoạt động của mình.
4. Về những liên hệ bạn bè, bà con láng giềng: Phải hiếu khách và nhân từ, bày tỏ
thái độ đáng yêu và lịch thiệp, cùng nhau làm việc vì phúc lợi chung, phải đối xử bình
đẳng với nhau, không được xung đột nhau, giúp nhau lúc thiếu thốn và không được bỏ
nhau khi khó khăn.
5. Những liên hệ giữa người trên và người dưới (chức bậc, tuổi tác …). N gười trên
có nghĩa vụ đối với người dưới: phải giao cho một công việc thích hợp với sự khéo léo
và năng lực của họ, phải trả tiền công, thích đáng, phải bảo đảm chăm sóc sức khỏe cho
họ khi cần trao tặng phẩm và tiền thưởng. Ngược lại, người dưới phải cần mẫn và dũng
cảm, trung thực và vâng lời, không được lấy cắp của người trên, phải thật sự nhiệt tình
trong công việc của mình.
Như vậy, chúng ta thấy rằng cuộc sống của người trần tục trong gia đình và trong các
mối liên hệ xã hội của họ cũng nằm trong "môn học cao cả" và trong khuôn khổ cuộc
sống mà Phật đã vạch ra. Chứ đâu phải như ai đó tưởng rằng, Phật giáo chỉ quan tâm tới
những lý tưởng cực kỳ cao xa, những tư tưởng đạo đức chỉ để chiêm ngưỡng. Phật quan
tâm hết sức căn bản và thiết thực đến đời sống và hạnh phúc đích thực của con người.
Không thể có hạnh phúc nếu đặt nó ngoài một cuộc sống thuần khiết, dựa trên nền tảng
những nguyên tắc đạo đức và t inh thần.
Nhưng Phật cũng biết rằng thật khó đạt tới cuộc sống như vậy, nếu như điều kiện vật
chất và xã hội không thuận lợi và đầy rẫy tai ương. Song Phật giáo lại hoàn toàn không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status