Đánh giá giá trị giải trí du lịch của du khách trong nước đối với vịnh nha trang - Pdf 22

- 1 -

MỞ ĐẦU

I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Khánh Hòa là địa phương nằm ở cực Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh
Phú Yên, Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây Nam giáp tỉnh Lâm Đồng,
phía tây Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc và biển Đông về hướng Đông. Khánh Hòa nằm
trên tuyến quốc lộ 1A nối hai đầu đất nước, cách Hà nội khoảng 1280 km về
phía Bắc và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 450 km về phía Nam.
Thành phố Nha Trang là tỉnh lỵ của Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 251
km
2
, với dân số khoảng 400.000 người (2006). Phía Bắc giáp huyện Ninh Hòa,
phía Nam giáp thị xã Cam Ranh và huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên
Khánh, phía Đông giáp Biển Đông.
Thành phố Nha Trang là một địa điểm du lịch biển quan trọng của Việt nam
với những thắng cảnh và bãi biển tuyệt đẹp cùng những địa danh nổi tiếng như
Hòn Chồng, núi Cô Tiên trong đó có vịnh Nha Trang, v.v Vịnh Nha Trang từ
lâu đã được du khách trong và ngoài nước biết tới, đã trở thành địa chỉ quen
thuộc của du khách.
Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507 km
2
bao gồm 19 hòn đảo, trong đó
Hòn Tre là đảo lớn nhất với diện tích 3.250 ha và đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc, chỉ
có 4 ha. Vịnh Nha Trang có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của
vùng biển nhiệt đới và có tầm quan trọng quốc tế, như hệ sinh thái đất ngập
nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh
thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ, v.v…. Vịnh Nha Trang không chỉ
giàu tài nguyên, đẹp cảnh quan mà còn gắn liền với những nét đẹp của văn hóa
biển và những địa chỉ văn hóa - du lịch như Tháp bà Ponagar, Viện Pasteur Nha

biển đảo.
Với ý nghĩa trên, việc đánh giá giá trị giải trí du lịch của du khách nói
chung, khách du lịch nội địa nói riêng đối với khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang
là việc làm quan trọng và cần thiết đảm bảo cho sự phát triển bền vững không
chỉ cho ngành du lịch của Nha Trang, của Khánh Hòa mà cả ngành du lịch của
Việt Nam. Đây cũng chính là lý do để tác giả thực hiện đề tài: “Đánh giá giá
trị giải trí du lịch của du khách trong nước đối với vịnh Nha Trang” để làm
luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung của đề tài là bước đầu vận dụng các phương pháp và mô
hình lý thuyết về giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường nói chung mà cụ thể
là mô hình chi phí du hành theo vùng và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để
- 3 -

ước lượng giá trị giải trí và giá sẵn lòng trả của du khách nội địa, đồng thời giải
thích các nhân tố ảnh hưởng tới cầu du lịch và giá sẵn lòng trả của du khách nội
địa khi thực hiện các hoạt động du lịch tại vịnh Nha Trang. Qua đó để tìm ra
một số nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tới cầu du lịch và giá sẵn lòng trả của
du khách góp phần làm cơ sở cho các cơ quan quản lý địa phương có những
chính sách phù hợp đối với việc sử dụng và khai thác tài nguyên môi trường nói
chung và tài nguyên môi trường của vịnh Nha Trang nói riêng.
Cụ thể, mục tiêu nghiên cứu của đề tài này sẽ tập trung vào các nội dung
sau đây:
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu giải trí của du khách nội địa đối
với vịnh Nha Trang để tìm ra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đối
với cầu giải trí của du khách.
- Ước lượng thặng dư tiêu dùng của khách du lịch nội địa khi thực hiện du
lịch tại vịnh Nha Trang.
- Ước lượng giá trị giải trí du lịch của du khách nội địa đối với vịnh Nha
Trang.

du lịch của du khách, đồng thời kết quả phỏng vấn sơ bộ còn được sử dụng để
xây dựng và điều chỉnh bảng câu hỏi điều tra phục vụ cho nghiên cứu.
Nghiên cứu chính thức được tiến hành sau khi bảng câu hỏi được hoàn thiện
Điều tra chính thức được được thực hiện với quy mô mẫu là 400 du khách nội
địa khi họ thực hiện các hoạt động giải trí du lịch tại vịnh Nha Trang.
Phương pháp phân tích mô tả được sử dụng để mô tả và trình bày dữ liệu
nghiên cứu; phương pháp phân tích ANOVA và kiểm định giá trị trung bình
được thực hiện để xem xét mối tương quan giữa các biến nghiên cứu. Toàn bộ
phân tích định lượng được thực hiên với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 11.5.
Toàn bộ quá trình nghiên cứu có thể mô tả tóm lược như sau: - 5 -
Điều tra thử

Hoàn thiện bảng câu hỏi Điều tra chính thức

Phân tích thống kê mô tả

Phân tích tương quan hồi quy và
phân tích nhân tố

Nghiên cứu
thực địa và
phân tích,
tổng hợp
Nghiên cứu
tài liệu
Đưa ra những gợi ý chính sách
- 6 -

hình này vào việc nghiên cứu và giải thích các nhân tố ảnh hưởng tới cầu du
lịch và khả năng sẵn lòng trả của du khách nội địa.
- Về mặt thực tiễn: Trước hết, các kết quả nghiên cứu của đề tài đã bước
đầu cho phép nhìn nhận một cách có cơ sở khoa học về giá trị giải trí du lịch
của du khách nội địa đối với vịnh Nha Trang, hay nói khác đi là giá trị giải trí
của vịnh Nha Trang đáng giá bao nhiêu tiền từ góc độ giải trí du lịch của du
khách nội địa.
Thứ hai, từ các kết quả nghiên cứu của đề tài đã đã giải thích được một số
nhân tố ảnh hưởng tới cầu du lịch của du khách và khả năng sẵn lòng trả của họ


- 8 -



- 9 -

1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1.1. Quan điểm
Trên thị trường, người tiêu dùng luôn phải thực hiện phép só sánh giữa khả
năng chi trả của mình và giá cả của hàng hóa hoặc dịch vụ mà mình muốn mua.
Nếu khả năng chi trả của người tiêu dùng lớn hơn giá cả của hàng hóa hoặc
dịch vụ thì họ sẽ quyết định mua hàng hóa đó. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù
mà một số loại hàng hóa không có giá trên thị trường, chẳng hạn như môi
trường: không khí, nước …hoặc vịnh Nha Trang. Những loại hàng hóa này
không được bán trên thị trường, và vì thế không thể xác định giá cả trực tiếp
của chúng như các loại hàng hóa thông thường khác, mặc dù ai cũng có thể
thấy rằng giá trị của chúng là rất lớn.
Thông thường những loại hàng hóa và dịch vụ phi thị trường đa phần là
những hàng hóa công cộng. Do vậy, hàng hóa và dịch vụ môi trường có thể coi
là hàng hóa phi thị trường. Để nhận biết và đánh giá giá trị của hàng hóa phi thị
trường, các nhà nghiên cứu sử dụng những thông tin về mối quan hệ giữa hàng
hóa thị trường và phi thị trường.
Theo Freeman (1993), từ góc độ kinh tế học, các dịch vụ cung cấp bởi hệ
thống môi trường có hai đặc điểm quan trọng. Thứ nhất, giá trị kinh tế của các
dịch vụ này phụ thuộc vào đặc tính của chính hệ thống môi trường tự nhiên.
Thứ hai, chức năng cung cấp dịch vụ giải trí của môi trường diễn ra không
thông qua thị trường. Điều này có nghĩa là khi hưởng thụ những dịch vụ giải
trí tại một địa điểm nào đó người ta đã không phải trả tiền hoặc chỉ trả một giá
trị danh nghĩa mà không phản ánh nguồn lực mà xã hội bỏ ra để cung cấp dịch
vụ đó. Vì vậy, không thể dùng vé vào cổng để đo lường giá trị của dịch vụ giải
trí, mà phương pháp hợp lý hơn là xem xét mối quan hệ giữa hàng hóa có giá
trên thị trường và hàng hóa môi trường thông qua những hành vi mà thị trường
quan sát được để xây dựng hàm cầu giải trí.

Phương pháp chi phí du hành không thể đo lường bất kỳ giá trị phi sử dụng
nào.
Đối với phương pháp chi phí du hành được phân làm hai loại: chi phí du
hành cá nhân (ITCM) và chi phí du hành theo vùng (ZTCM). Phương pháp chi
phí du hành cá nhân là xem xét giá trị giải trí và chi phí du hành bỏ ra của từng
cá nhân cụ thể, ngược lại phương pháp chi phí du hành theo vùng là việc phân
chia khu vực xunh quanh địa điểm du lịch thành các vùng khác nhau so với địa
điểm du lịch đó. Việc chia vùng này có thể được thực hiện dưới dạng các
- 11 -

đường tròn đồng tâm, có tâm điểm là khu du lịch và cũng có thể dựa trên việc
phân chia địa danh hành chính hiện hành. Cách chia theo địa danh hành chính
có lợi thế ở chỗ nó cho phép người thực hiện phương pháp chi phí du hành dễ
dàng có được các thông tin về mức độ phân bổ dân cư của từng vùng, làm căn
cứ để dự báo số lượng chuyến du lịch có thể phát sinh trong mỗi vùng. Số
lượng các vùng có thể là rất lớn.

Hình 1.1. Ý tưởng của Hotelling – Từ chi phí du hành đến cầu giải trí
Trong phương pháp chi phí du hành, việc xác định chi phí du hành là rất
quan trọng trong phân tích và tính toán giá trị giải trí. Chi phí du hành của du
khách theo phương pháp chi phí du hành theo vùng được xác định bởi công
thức:
TC
i
= TC(DC
i
,T
i
, F
i

Điểm du lịch
- 12 -

Theo OECD (1994), chi phí viếng thăm của một địa điểm bao gồm ba phần:
1) Chi phí phát sinh trực tiếp từ việc đến và rời khỏi địa điểm, thông
thường là chi phí xe cộ, bao gồm vé xe, xăng dầu và chi phí phát sinh
khác. Đối với những vùng gần địa điểm nghiên cứu, chi phí di chuyển
chính là chi phí xăng xe để đến được địa điểm và chi phí bảo trì phương
tiện đi lại. Chi phí di chuyển của khách nước ngoài được tính dựa trên
phương tiện di chuyển là máy bay.
2) Chi phí thời gian di chuyển bao gồm cả thời gian ở tại địa điểm. Chi phí
thời gian chính là chi phí cơ hội của khách du lịch. Chi phí của thời gian
được tính bằng 1/3 lương theo giờ. Mức lương được ước tính trên cơ sở
thu nhập trung bình của cư dân đô thị trong vùng hoặc có thể du vào số
liệu điều tra thực địa của du khách.
3) Phí vào cửa, phí hướng dẫn và các loại phụ phí khác
Hàm cầu du lịch được ước lượng có dạng:
V
i
= V(TC
i
, POP
i
, S
i
)
Trong đó:
- V
i
: số lượng các chuyến du hành từ vùng i đến địa điểm du


Khi đã tính toán được hàm cầu, có thể sử dụng đường cầu này để đánh giá
giá trị giải trí của khu du lịch và thặng dư tiêu dùng mà khách du lịch nhận
được từ chuyến du lịch của họ.
Một cách cụ thể, các bước để tiến hành thực hiện mô hình chi phí du hành
theo vùng bao gồm:
Bước 1: Xác định số vùng của du khách xung quanh địa điểm nghiên cứu.
Bước 2: Thu thập những thông tin về du khách từ mỗi vùng và số lượng du
khách đã đến thăm từ năm trước.
Bước 3: Thu thập và điều tra mẫu.
Bước 4: Tính tỉ lệ du khách cho từng vùng.
Bước 5: Ước lượng chi phí du lịch.
Bước 6: Xây dựng đường cầu và ước lượng thặng dư tiêu dùng.
Bước 7: Ước lượng giá trị giải trí du lịch của du khách.
Mặc dù được áp dụng khá phổ biến trong việc đánh giá giá trị của hoạt
động giải trí, xong phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định. Phương
pháp này khó chính xác trong trường hợp du khách khi thực hiện du lịch nhiều
tại nhiều địa điểm du lịch khác nhau hoặc thực hiện du lịch kết hợp với nhiều
mục đích khác nhau, v.v Bên cạnh đó, phương pháp này khó xác định những
chi phí đến các địa điểm du lịch thay thế, bởi bản thân các địa điểm du lịch thay
V
2
V
1
P
2P
1

quả đáng tin cậy nếu người phỏng vấn hiểu đầy đủ vấn đề môi trường, vv….
Trong trường hợp này, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên cho phép đo lường
chính xác những gì mà người phân tích muốn biết. Một điểm khác biệt căn bản
với phương pháp chi phí du hành đó là trong phương pháp chi phí du hành, kết
quả thu được phụ thuộc vào những gì mà người được phỏng vấn nói rằng ‘họ
mong muốn và có thể làm ‘, chứ không phải nhất thiết những gì họ làm họ sẽ
làm. Vì vậy, nếu đặt ra vấn đề là liệu những gì người phỏng vấn nói có thực sự
trùng với những gì họ làm trên thực tế hay không. Sự khác biệt giữa nói và làm
này cần được đặc biệt chú ý trong quá trình thiết kế bảng câu hỏi để có được
các giải pháp tốt nhất nhằm giảm thiểu đến mức tối đa khoảng cách đó.
Một điểm cơ bản dễ nhận thấy đó là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên có
những ưu thế rất quan trọng. Nếu xét về mặt kỹ thuật, phương pháp đánh giá
ngẫu nhiên có thể được áp dụng trong nhiều tình huống khác nhau. Ngoài ra,
phương pháp đánh giá ngẫu nhiên là phương pháp đáng tin cậy duy nhất, có thể
- 15 -

tính toán các giá trị môi trường phi sử dụng. Vì thế, phương pháp này là công
cụ rất quan trọng giúp cung cấp các dữ liệu cần thiết trong nhiều lĩnh vực, nơi
mà các công cụ khác không phát huy được hiệu quả.
Trong những năm trở lại đây, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên ngày càng
được các nhà kinh tế học môi trường và giới hoạch định chính sách Mỹ chú ý.
Tại Mỹ, phương pháp này đã được tòa án Mỹ công nhận là một trong những
công cụ hợp pháp để đánh giá giá trị môi trường bởi lẽ :
Thứ nhất, cho tới nay đây là công cụ duy nhất cho phép tính toán giá trị lợi
ích của môi trường phi sử dụng.
Thứ hai, kinh nghiệm thực tiễn của Mỹ và một số nước Châu Âu cho thấy
rằng, các kết quả tính toán về các giá trị môi trường thu được từ các cuộc điều
tra có áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên có độ tin cậy cao không kém
gì các kết quả thu được qua việc áp dụng các phương pháp đo lường giá trị sử
dụng khác, và tất nhiên phải được thiết kế tốt và đảm bảo đúng các yêu cầu về

j
, Z
j
, ε
ij
) Haab và McConnell (2002: 25)
Trong đó: Y
j
là yếu tố thu nhập của người trả lời thứ j
Z
j
là yếu tố thể hiện các đặc điểm kinh tế xã hội của người trả lời
thứ j
ε
ij
là yếu tố không quan sát được về sự ưu thích của người trả lời
Để mô tả các đặc tính của i có hai giá trị: “0” và “1”. Giá trị “1” là giá trị
sẵn lòng trả và giá trị ‘0” là giá trị không sẵn lòng trả cho cho việc cải thiện
hàng hóa chất lượng môi trường.
Khi có sự thay đổi từ trạng thái “0” tới trạng thái “1”, những đặc tính khác
được đưa vào để làm thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái kia được gọi là
hàng hóa chất lượng môi trường (q) được thể hiện trong mô hình. Vì vậy, hàm
hữu dụng ở trạng thái “0” và trạng thái “1” được viết như sau (Haab và
McConnell, 2002: 25):
U
0j
= U
0
(Y
j

1j
(Y
j
- T
j
, Z
j
, ε
1j
) > U
0j
(Y
j
, Z
j
, ε
0j
) (Haab và McConnell, 2002: 25)
Khả năng để du khách trả lời là “Có” là khả năng mà người được phỏng vấn
nghĩ rằng họ có thể sẽ tốt nhất ở trạng thái “1”, mặc dù họ chỉ trả ở trạng thái T
j

Pr(Có
j
) = Pr(U
1j
(Y
j
- T
j

j
, Z
j
) + ε
0j
] (Haab và McConnell,
2002: 26)
Hàm hữu dụng này là một hàm tuyến tính và có thể được viết dưới dạng:
V
1j
(Y
j
- T
j
, Z
j
) = α
1
Z
j
+ β
1
(Y
j
– T
j
)
V
0j
(Y

α
0
)Z
j
+ β
1
(Y
j
– T
j
) - β
0
Y
j

Với giả thiết rằng hữu dụng biên của thu nhập là một hằng số nằm giữa
trạng thái “0” và trạng thái “1” β
1
bằng với β
0
(Haab và McConnell, 2002), nên
có thể viết lại hàm như sau:
V
1j
- V
0j
= (α
1
-


+ ε
j
>0) ε
j
= ε
1j
- ε
0j
(Haab và McConnell, 2002: 27)
Để ước lượng mô hình hữu dụng ngẫu nhiên với hàm hữu dụng tuyến tính,
chúng ta sử dụng mô hình hồi qui logit với hai giá trị trả lời là Có/ Không đối
- 18 -

với câu hỏi sẵn lòng trả (biến phụ thuộc). Các mức giá sẵn lòng trả và những
đặc điểm kinh tế xã hội của du khách được giải thích bởi phương trình như sau:
(
)
( )
ijjj
ijjj
ZY
ZY
j
e
e
CóP
ε
ε
,,
,,

Pr(WTP
i
< t
j
) = F
w
(t
j
) (Haab và McConnell, 2002: 60)
 Pr(WTP
i


t
j
) = 1- F
w
(t
j
) = P
j

Giá trị kỳ vọng của biến ngẫu nhiên có phân phối nằm giữa giá trị 0 và giá trị a
sẽ là: E(WTP) =
∫∫
−=
a
w
a
w

. (Xem bảng)
Bảng 1.1. Phương pháp xác định giá sẵn lòng trả trung bình
Mức sẵn
lòng trả
(t
j
)
Số mẫu trả lời
(n)
Số mẫu trả lời “Có”
(Y)
Tỉ lệ trả lời (P
j
)
(Y/n)
t
1
P
1
- 19 -

t
2
P
2
t
3
P
3
t


Giá sẵn lòng trả trung bình của du khách được xác định như sau:
MWTP = ∑t
j
(P
j
– P
j+1
)
1.2. TÓM LƯỢC MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH LIÊN
QUAN TỚI ĐỀ TÀI
1.2.1. Kết quả nghiên cứu ngoài nước
Phần lớn các nghiên cứu về giá trị giải trí của tài nguyên môi trường đều sử
dụng phương pháp chi phí du hành (TCM) hoặc phương pháp đánh giá ngẫu
nhiên (CVM).
t
j

P
j

t
1
t
2
t
3
t
4
t

769 triệu đô la Úc. Giá trị tính được chỉ bao gồm chi tiêu của du khách du lịch
cho các hoạt động giải trí (giá trị tài chính) nhưng đã không phản ánh được
tổng giá trị của rặng san hô.
Hodgson và Dixon (1988) sử dụng phương pháp thay đổi năng suất để đo
lường tổng doanh thu từ du lịch san hô vùng đảo Palawan ở Philippines. Giá trị
du lịch (khả năng tiếp nhận của khách sạn, số khách, thời gian lưu trú…) được
đưa về giá trị hiện tại là 6.280 đô la Mỹ và 13.334 đô la Mỹ nếu cấm khai thác
san hô.
Hundle (1990) sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để đánh giá giá trị
thặng dư tiêu dùng trong một năm của khách du lịch tại Úc là khách quốc tế đối
với “ Khu vực san hô” ở Úc tương ứng là 117.500.000 đô la Úc và 26.700.000
đô la Úc và phân bổ 105.600.000 đô la Úc là giá trị của san hô trong điều kiện
có tính tới tất cả các đặc tính của “ Khu vực san hô”. Ngoài ra tác giả còn so
sánh phương pháp đánh giá ngẫu nhiên với phương pháp chi phí du hành.
Dixon và cộng sự (1993) đã sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để
ước lượng giá sẵn lòng trả cho công viên bờ biển Bonaire. Giá sẵn lòng trả
trung bình là 27,4 đô la Mỹ và thặng dư tiêu dùng là 325.000 đô la Mỹ.
DuYaping (2003) đã sử dụng phương pháp chi phí du hành và phương pháp
đánh giá ngẫu nhiên để đánh giá giá trị của việc cải thiện chất lượng nước cho
mục đích giải trí ở hồ phía tây Wuhan, Trung Quốc. Giá trị của việc cải thiện
chất lượng nước của hồ này được xác định là 41,62 triệu Nhân dân tệ và thặng
dư tiêu dùng khi chất lượng nước của hồ được cải thiện là 1,911 triệu Nhân dân
tệ.
Churaitapvong và Jittapatr Kruavan (2003) cũng đã sử dụng phương pháp
đánh giá ngẫu nhiên trong nghiên cứu điển hình về cải thiện chất lượng nước
của sông Chaopraya, Thái Lan với mẫu nghiên cứu điều tra 1100 hộ gia đình
sống ven sông này. Giá sẵn lòng trả của mỗi hộ gia đình cho việc cải thiện chất
lượng nước con sông này được tìm ra là 100,81 bath/ tháng.
Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, đa phần các nghiên cứu khi đánh giá
giá trị của tài nguyên môi trường rất thường sử dụng hai phương pháp phổ biến,
đó là phương pháp chi phí du hành và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên. Đặc
biệt khi sử dụng phương pháp chi phí du hành thường dùng để đánh giá giá trị
của tài nguyên môi trường dưới góc độ của giá cả thị trường mà cụ thể là những
- 22 -

chi tiêu của du khách, trong khi đó phương pháp đánh giá ngẫu nhiên dùng để
đánh giá mức giá sẵn lòng trả hay sẵn lòng chấp nhận của người hưởng thụ
hoặc người chịu ảnh hưởng những thiệt hại của môi trường nếu muốn bảo vệ
duy trì và tái tạo tài nguyên môi trường đó.
1.3. CÁC GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Giá trị giải trí du lịch của du khách nội địa đối với vịnh Nha Trang là gì?
- Lợi ích thu được từ hoạt động du lịch của du khách nội địa tại Nha Trang
được tính toán phù hợp từ phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) sẽ
lớn hơn tổng doanh số thu được từ hoạt động du lịch của du khách nội địa tại
Nha Trang?
- Có phải những nhân tố như chi phí du hành, thu nhập và các đặc điểm
kinh tế xã hội của du khách nội địa ảnh hưởng tới cầu giải trí đối với vịnh Nha
Trang?
- Có phải giá sẵn lòng trả của du khách chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố
như: thu nhập và các đặc điểm kinh tế xã hội của du khách?
- Lợi ích giải trí bị mất đi của du khách có lớn hơn doanh số thu được hàng
năm từ hoạt động nuôi trồng thủy sản tại vùng đệm của vịnh Nha Trang ?
- 24 -

2.1. QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu của đề ra thì qui trình nghiên cứu của đề tài được
tổ chức hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu định tính bao gồm 2 nội dung cơ bản là nghiên cứu các cơ sở lý
thuyết của mô hình chi phí du hành theo vùng ZTCM (Zonal Travel Cost
Method), phương pháp đánh giá ngẫu nhiên đồng thời tổng quan về các kết quả
nghiên cứu trước đây nhằm hình thành khung lý thuyết và xác định mô hình
nghiên cứu của đề tài. Bước tiếp theo là tổ chức phỏng vấn thử tại các địa điểm
khác nhau của vịnh Nha Trang như Hòn Tằm, Hòn Mun, Hòn Chồng, v.v…để
bước đầu khám phá những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giá trị giải trí du
lịch và giá sẵn lòng trả của du khách. Cùng với những kết quả nghiên cứu trước
của các tác giả khác thì việc phỏng vấn thử còn là cơ sở để xây dựng bảng câu
hỏi điều tra phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng tiếp theo. Toàn bộ qui
trình nghiên cứu này được tóm tắt trong sơ đồ 2.1 như sau:

Định hướng
mô hình lý
thuyết
Bản câu hỏi mẫu
Ước lượng giá trị giải trí
du lịch của du khách

Hoàn thiện bản câu hỏi
Nghiên cứu chính thức (N = 400)
Phân tích mô tả
ANOVA
Phân tích nhân tố khẳng
định (CFA)

B
ản câu hỏi
chính thức
Đưa ra gợi ý chính sách về phát triển du lịch
sinh thái bền vững


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status