Nâng cao năng lực cạnh tranh cho tuyến sản phẩm phần mềm quản trị doanh nghiệp của công ty Cổ phần Giải pháp Truyền thông Apzon - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ có tiêu đề : “Nâng cao năng lực cạnh
tranh cho tuyến sản phẩm phần mềm quản trị doanh nghiệp của công ty Cổ phần
Giải pháp Truyền thông Apzon” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thúy Hồng. Các số liệu được sử dụng trong
luận văn có nguồn gốc trích dẫn đầy đủ và trung thực. Kết quả trong luận văn chưa
từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
ĐỖ THÚY LOAN

i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều tập thể và cá nhân.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thương
Mại, xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Sau đại học đã tạo điều
kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Phạm Thúy Hồng đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách trọn
vẹn và hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ, nhân
viên của Công ty cổ phần Giải pháp Truyền thông APZON, đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2015
Tác giả
ĐỖ THÚY LOAN
ii
MỤC LỤC
Công ty NetNam – Viện Công nghệ thông tin 5
iii

Bảng 2.19.
Cơ cấu lao động theo chức năng nghiệp vụ
của Apzon đến T3/2015
72
Bảng 2.20.
Đặc điểm về lao động của công ty Apzon 73
Bảng 2.22.
Số lượng khách hàng mới của Apzon từ
năm 2011- 2014
76
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
STT Danh mục Tên sơ đồ và hình vẽ Trang
iv
sơ đồ và
hình vẽ
1 Hình 1.1. Cấu trúc của sản phẩm 10
2 Hình 1.2. Cấu trúc tuyến sản phẩm 11
3 Hình 1.3. Các kiểu kênh phân phối 18
Hình 2.1.
Danh mục sản phẩm trong tuyến sản phẩm phần
mềm QTDN
34
4 Hình 2.2.
Cơ cấu tổ chức quản lý công ty CP Giải pháp
Truyền thông Apzon
39
Hình 2.4. Tuyến sản phẩm phần mềm QTDN của Apzon 44
5 Hình 2.5.
Biểu đồ doanh thu và lợi nhuận sau thuế qua các
năm 2011- 2014

STT Danh mục từ viết tắt Viết đầy đủ
1 CNTT Công nghệ thông tin
CP Cổ phần
2 QTDN Quản trị doanh nghiệp
3 KH Khách hàng
4 DN Doanh nghiệp
5 ERP Enterprise Resource Planning- Hoạch định
nguồn lực doanh nghiệp
6 ĐH Đại học
7 QTKD Quản trị kinh doanh
8 PM Phần mềm
9 R&D Research and Development - Nghiên cứu và
phát triển
10 CBNV Cán bộ nhân viên
VN Việt Nam
11 ĐTCT Đối thủ cạnh tranh
vi
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một vấn đề rất quan trọng mang
tính chất quyết định đối với sự tồn tại của bất kỳ doanh nghiệp nào. Cạnh tranh có
thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt, các doanh nghiệp không thể tránh khỏi mà
phải tìm cách vươn lên để chiếm ưu thế và chiến thắng. Từ giữa năm 2008, khủng
hoảng kinh tế đã tác động mạnh đến doanh nghiệp, việc thiếu các công cụ quản trị
hệ thống đã làm cho nhiều doanh nghiệp phải đối đầu với khó khăn vì xoay trở
chậm với những biến động và làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trường. Do đó, vấn đề cấp thiết hiện nay là mỗi doanh nghiệp phải tìm hiểu và
lựa chọn cho mình một hệ thống phần mềm quản trị doanh nghiệp thích hợp, không
chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian xử lý thông tin, rút ngắn thời gian làm báo

của công ty cổ phần tập đoàn Tân Mai đến năm 2012”, Luân văn thạc sĩ Quản trị
kinh doanh, Trường ĐH Lạc Hồng.
- Nguyễn Vĩnh Thanh (2005): “Một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Luận án
tiến sĩ kinh tế, Trường ĐH Thương Mại.
Các đề tài này đã đưa ra khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng cũng như các chỉ tiêu đánh giá
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Liên hệ thực tiễn với doanh nghiệp cụ thể,
đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp mà tác giải nghiên cứu.
Các đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp
thuộc nhiều ngành khác nhau như bánh kẹo, bảo hiểm, dệt may….
- Đỗ Thị Huyền (2004): “Nâng cao năng lực cạnh tranh một số sản phẩm chủ
yếu tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu”, Luận văn thạc sĩ, trường ĐH Nông
nghiệp Hà Nội.
- Thân Danh Phúc (2001): “Nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm dệt
may xuất khẩu trong hội nhập kinh tế quốc tế ”, Luận án tiến sĩ kinh tế, trường ĐH
Thương Mại.
- Đỗ Tiến Vượng (2012): “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ bảo hiểm
nhân thọ trên thị trường các thành phố lớn của các công ty bảo hiểm nhân thọ thuộc
Tổng công ty Bảo Việt nhân thọ”
3
Kết quả nghiên cứu của các luận án trên đã tập trung vào việc đánh giá thực
trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành, một lĩnh
vực hoặc một số dịch vụ cơ bản như dệt may, xăng dầu và ngân hàng thương mại…
Với lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) đã có một số công trình được công
bố về vấn đề cạnh tranh như:
- Phạm Thu Hiền, năm 2007: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
thông tin di động (VMS) trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh
doanh (QTKD), trường Đại Học Thương Mại;

5. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp giữa lý luận và thực tiễn thông
qua các số liệu thu thập được, phương pháp tiếp cận trực tiếp các vấn đề lý luận.
b. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
• Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu đã được thu
thập và xử lý trước khi được tác giả tìm kiếm và thu thập lại.
- Nguồn thông tin tìm kiếm
+ Nguồn bên trong công ty:
Phòng tài chính – kế toán: bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.
Phòng kinh doanh: tài liệu về khách hàng, thực tiễn hoạt động kinh doanh của
công ty ở thị trường trong nước.
+ Nguồn bên ngoài công ty:
Tình hình thị trường phần mềm quản trị doanh nghiệp trên internet; các
website như />truong-phan-mem-vn-khong-co-gioi-han html;
webketoan.com;

Một số lý thuyết về vấn đề cần nghiên cứu qua các cuốn sách như: marketing
căn bản, Quản trị marketing của Philip Kotler, Giáo trình Marketing thương mại
Các đề tài nghiên cứu khác có liên quan.
5
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa
qua xử lý mà đươc thu thâp lần đầu tiên để phục vụ cho viêc nghiên cứu
Thu thập dữ liệu sơ cấp qua điều tra bảng câu hỏi, phỏng vấn chuyên sâu
- Phỏng vấn (Phụ lục 1)
+ Mục tiêu: thu thập các thông tin về quan điểm của nhà quản trị đối với năng
lực cạnh tranh tuyến sản phẩm của công ty, những thuận lợi và khó khăn công ty
đang gặp phải, định hướng và mục tiêu phát triển của công ty trong thời gian tới
+ Đối tượng điều tra: Giám đốc công ty, trưởng phòng kinh doanh, kế toán

sản phẩm phần mềm quản QTDN của công ty CP Giải pháp Truyền thông Apzon
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH TUYẾN SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KINH DOANH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh
Cạnh tranh là một quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường. Nó luôn luôn
xuất hiện trong mọi lĩnh vưc của đời sống xã hội, trong đó hoạt động sản xuất kinh
doanh là một lĩnh vực quan trọng. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ cạnh
tranh, cụ thể như sau:
- Theo giáo trình Kinh tế Chính trị học Mac-Lenin 2002, “ Cạnh tranh là sự
ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất- kinh doanh
với nhau nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi trong sản xuất-kinh doanh, tiêu
thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của
cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của
chủ thể tham gia cạnh tranh”[6]
- Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa : “ Cạnh tranh là hoạt động tranh
đua giữa những người sản xuất hàng hóa, các thương nhân, các nhà kinh doanh
trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các
điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.”[3]
- Theo nhà kinh tế học P.Samuelson định nghĩa: “ Cạnh tranh là sự kình địch
giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”[7],
chú trọng hơn đến tính chất cạnh tranh và phương pháp cạnh tranh.
Qua các quan niệm khác nhau về cạnh tranh của các tác giả ta thấy có những
nhận xét khác nhau về cạnh tranh theo quan điểm của mỗi người nhưng các quan
niệm này đều các điểm chung là : Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể có
chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành
phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu riêng của mình. Các mục tiêu
này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…
Các cấp độ cạnh tranh:

khả năng đáp ứng ngày càng cao hơn những nhu cầu của con người, thu hút và sử
dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế
khách quan, do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường
luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế
9
sâu rộng như hiện nay. Bởi lẽ suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng
cao năng lực cạnh trạnh tại doanh nghiệp được xem như một chiến lược không thể
thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của
doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh
tranh của sản phẩm, tuyến sản phẩm, dịch vụ, năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp
và năng lực cạnh tranh cấp quốc gia.
1.1.2. Sản phẩm, tuyến sản phẩm, năng lực cạnh tranh tuyến sản phẩm
Sản phẩm: Theo quan điểm marketing, sản phẩm là tất cả những yếu tố có
thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng, cống hiến lợi ích cho họ và có
khả năng chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, sử dụng tiêu dùng.
Theo quan điểm này, sản phẩm có thể tồn tại dưới dạng vật chất hay phi vật chất, bao
gồm hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng, con người, địa điểm, tổ chức, có thể thỏa mãn một
hay nhiều nhu cầu của thị trường ở một thời điểm cụ thể. Với quan điểm trên, có thể
thấy sản phẩm được cấu thành bởi 3 cấp độ
10
Hình 1.1. Cấu trúc của sản phẩm
- Sản phẩm cốt lõi: Những lợi ích công năng cơ bản của sản phẩm. Doanh
nghiệp cần xác định được lợi ích mà khách hàng cần tìm kiếm ở sản phẩm để có thể
đáp ứng tốt nhất thị hiếu và nhu cầu của khách hàng đồng thời nâng cao năng lực
cạnh tranh của sản phẩm. Mỗi khách hàng, nhóm khách hàng khác nhau sẽ có những
nhu cầu khác nhau gắn với những lợi ích khác nhau, nó chính là cơ sở cho việc ra
quyết định liên quan đến sản phẩm (các doanh nghiệp có thể có sự tương đồng).

hành
Chất
lượng
Lợi ích
cơ bản
11
Tuyến sản phẩm: là một nhóm các sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với nhau,
thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho cùng nhóm người tiêu dùng, qua
cùng một kênh hay thuộc cùng khung giá nhất định.
Tuyến sản phẩm có đặc điểm: tính thống nhất cao, định hướng hẹp và là cơ
sở quyết định hình thành sản phẩm hỗn hợp. Do đó, các quyết định liên quan đến
tuyến sản phẩm sẽ quyết định sự thành bại của sản phẩm của doanh nghiệp.
Hình 1.2: Cấu trúc tuyến sản phẩm
- Các quyết định liên quan đến quản trị tuyến sản phẩm
+ Duy trì tuyến sản phẩm hiện tại
+ Kéo dãn, lấp đầy tuyến sản phẩm
+ Quyết định hiện đại hóa sản phẩm: doanh nghiệp lên kế hoạch cải tiến sản
phẩm, quá trình sản xuất nhằm thu hút ngừi tiêu dùng, tạo vị thế của công ty trên thị
trường
+ Quyết định làm nổi bật tuyến sản phẩm: nhà quản lý chọn một số sản phẩm
trong tuyến làm nổi bật lên.
+ Loại bỏ sản phẩm: công ty sẽ tiến hành loại bỏ đối với những sản phẩm
không đem lại lợi nhuận cho công ty hoặc những sản phẩm đem lại lợi nhuận ít
nhưng lại không có khả năng tăng trưởng trong tương lai.
Năng lực cạnh tranh tuyến sản phẩm của công ty kinh doanh
Khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không thể không bàn tới
năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, tuyến sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất
cung cấp. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm tuyến sản phẩm thể hiện năng lực của
sản phẩm, tuyến sản phẩm đó thay thế một sản phẩm khác đồng nhất hoặc khác biệt,
Tuyến sản

- Chất lượng cảm nhận khi nhắc tới tuyến sản phẩm
- Các dịch vụ hỗ trợ cho tuyến sản phẩm
- Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
- Năng lực lao động kĩ thuật và yếu tố R&D (Nghiên cứu và phát triển)
Năng lực cạnh tranh hiển thị của tuyến sản phẩm là các yếu tố được thể hiện
ra bên ngoài của tuyến sản phẩm, gắn với các hoạt động marketing của công ty trên
thị trường.
1.2. Nội dung cơ bản của năng lực cạnh tranh tuyến sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tuyến sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tuyến sản phẩm
và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ
hữu cơ với nhau. Có thể thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh
tranh của sản phẩm, tuyến sản phẩm có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc vào nhau,
tạo điều kiện cho nhau phát triển.
1.2.1. Năng lực cạnh tranh cốt lõi của tuyến sản phẩm
1.2.1.1 Độ đa dạng của tuyến sản phẩm
13
Tuyến sản phẩm là một nhóm các sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với nhau,
thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho cùng nhóm người tiêu dùng, qua
cùng một kênh hay thuộc cùng khung giá nhất định.
Cấu trúc tuyến sản phẩm gồm: Chiều dài, Độ rộng, độ sâu và mức độ liên kết
giữa các sản phẩm trong tuyến.
Chiều rộng thể hiện tổng số các loại sản phẩm khác nhau trong tuyến.
Chiều dài: Tổng số sản phẩm có trong tuyến.
Chiều sâu thể hiện có bao nhiêu phương án của mỗi loại sản phẩm trong tuyến.
Mức độ liên kết của tuyến sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức
độ nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị sản
xuất hay kênh phân phối nào khác.
- Bốn chiều này của tuyến sản phẩm tạo nên những căn cứ để xây dựng chiến
lược sản phẩm, tuyến sản phẩm của công ty. Doanh nghiệp còn cần có chính sách

dụng sản phẩm, thăm dò ý kiến khách hàng, đổi hàng cũ lấy hàng mới sau thời gian
dài sử dụng sản phẩm (nệm cao su Kimdan),….
- Kiểu dáng và thiết kế: có tính mỹ thuật, nổi trội, khác biệt và tạo cảm giác
mới lạ về chất lượng. Để cạnh tranh với những sản phẩm cùng loại trên thị trường
15
thì bất kì thương hiệu nào cũng cần có những sản phẩm mới với kiểu dáng và thiết
kế mới lạ, độc đáo.
Chất lượng cảm nhận thường là công cụ quan trọng đo lường sự ảnh hưởng
của bản sắc thương hiệu. Khi chất lượng cảm nhận được cải thiện, các thành tố khác
trong cảm nhận của khách hàng về thương hiệu cũng được nâng cao.
Nắm bắt được cảm nhận của khách hàng về chất lượng thường là điều không
thể, trừ khi chất lượng là hữu hình. Chất lượng cao đòi hỏi sự hiểu biết về ý nghĩa
của chất lượng đối với phân khúc khách hàng, cũng như văn hoá và quy trình cải
tiến chất lượng cho phép doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm và dịch vụ có chất
lượng. Tuy nhiên, việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ chất lượng mới chỉ là chiến thắng
một phần, ngoài ra doanh nghiệp cần phải tạo ra cảm nhận cho khách hàng.
Thứ nhất, chất lượng cảm nhận có thể khác với chất lượng thực vì nhiều lý
do. Trước tiên, khách hàng có thể chịu tác động mạnh về hình ảnh một sản phẩm
kém chất lượng trước đó. Chính vì điều này, họ có thể không tin vào những lời giới
thiệu sản phẩm mới, hoặc họ không sẵn sàng dành thời gian kiểm chứng điều đó.
Do đó, việc điều quan trọng là phải bảo vệ thương hiệu trước những tin đồn xấu về
chất lượng sản phẩm bởi một khi cảm nhận tiêu cực đã hình thành, việc phục hồi rất
khó khăn, và đôi khi là điều không thể.
Thứ hai, công ty có thể cải tiến chất lượng ở những góc độ mà khách hàng
không xem trọng.
Thứ ba, khách hàng hiếm khi có tất cả các thông tin cần thiết để đưa ra đánh
giá lý tính và khách quan về chất lượng – và ngay cả khi họ có đầy đủ thông tin,
khách hàng vẫn thiếu thời gian và động lực để làm việc đó. Kết quả là, họ phụ thuộc
vào một hoặc hai dấu hiệu mà họ liên tưởng đến chất lượng, mấu chốt của việc tác
động lên cảm nhận của khách hàng về chất lượng là hiểu biết và quản lý các dấu

tín.
17
Uy tín của doanh nghiệp là sự sống còn của doanh nghiệp đó trên thị trường.
Việc xây dựng được một thương hiệu mạnh, có uy tín trên thị trường sẽ giúp doanh
nghiệp phát triển bền vững.
Khi doanh nghiệp xây dựng được uy tín nhất định của mình trên thị trường,
khách hàng sẽ tin tưởng hơn, yên tâm và mong muốn được dùng sản phẩm hàng hoá
và dịch vụ của doanh nghiệp.
1.2.1.5. Năng lực lao động kĩ thuật và yếu tố R&D
- Năng lực lao động: Một trong những nhận thức rõ ràng về lý luận cũng như
từ thực tế rằng nguồn nhân lực là tài sản quý báu nhất, quan trọng nhất trong quá
trình phát triển của các doanh nghiệp. Nhưng khi nói nguồn nhân lực là tài sản quý
báu nhất, quan trọng nhất thì cần phải hiểu đó là những con người có tri thức, sáng
tạo, đầy nhiệt huyết, tận tâm, và có trách nhiệm cho việc đạt tới tầm nhìn, sứ mạng
của doanh nghiệp chứ không phải con người chung chung. Chất lượng nguồn nhân
lực sẽ quyết định sự thành bại trong cạnh tranh.
- Năng lực nghiên cứu và phát triển: Bao gồm cân nhắc về các thành tựu đổi
mới để triển khai sản phẩm mới trong tuyến, nghiên cứu và triển khai được tổ chức ra
sao (theo định hướng thị trường hay theo công nghệ), R&D hữu hiệu cho phép có
được sức mạnh trong đổi mới công nghệ, có ưu thế trong giới thiệu sản phẩm mới
thành công, cải thiện liên tục sản phẩm, hoàn thiện tuyến sản phẩm của doanh nghiệp.
1.2.2. Năng lực cạnh tranh hiển thị của tuyến sản phẩm trên thị trường
12.2.1. Giá
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa theo sự thỏa thuận giữa
người mua và người bán trong quan hệ cung cầu và yếu tố cạnh tranh. Giá ả của sản
phẩm, dịch vụ phụ thuôc vào các yếu tố sau:
- Các yếu tố kiểm soát được: chi phí sản xuất, chi phí bán hang, chi phí lưu
động và chi phí yểm trợ xúc tiến bán.
- Các yếu tố không kiểm soát được: Quan hệ cung cầu, cường độ cạnh tranh
trên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status