LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI NHTM - Pdf 67

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TẠI NHTM
I. Một số vấn đề chung về đầu tư
1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển
1.1 Khái niệm đầu tư:
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực
đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu
tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người
đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Ví dụ chủ đầu tư bỏ ra tiền, của cải vật chất,...để tiến hành các hoạt động
nào đó nhằm đạt được những kết quả lớn hơn trong tương lai so với chi phí đã
bỏ ra ban đầu như thu về được số tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra, có thêm nhà
máy, trường học, bệnh viện, máy móc thiết bị, sản phẩm được sản xuất ra,
...tăng thêm sức lao động bao gồm cả số lượng và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và sức khoẻ. Đó là đầu tư.
1.2 Khái niệm về đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chỉ dùng vốn trong
hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài
sản vật chất( nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kĩ năng…), gia
tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Một ví dụ về đầu tư phát triển là công ty xe bus Hà Nội vừa đầu tư mua
sắm thêm một số lượng khá lớn ô tô bus để mở rộng hoạt động phục vụ giao
thông công cộng của công ty. Tài sản cố định của công ty được tăng thêm đồng
thời cơ sở vật chất kinh tế phục vụ giao thông công cộng của thành phố Hà Nội
cũng được tăng thêm.
2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
2.1 Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
2.1.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình
thực hiện đầu tư. Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và

triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho
những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Ngân hàng là
một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và
dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình
trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên
tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Căn cứ vào chức năng, ngân
hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước.
2. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Theo Luật Các tổ chức tín dụng của các nước CHXHCN Việt Nam: ‘’
Ngân hàng thương mại là trung gian kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Căn cứ trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp
thì ‘’Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện chức năng kinh
doanh tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cho
vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán’’.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất
của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là
cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi
khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh
một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi
suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân
hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu
cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức
khác trong xã hội.
3. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại.
3.1 Hoạt động huy động vốn
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền của ngân hàng. Ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để huy động được tiền
của các tổ chức, các doanh nghiệp và dân cư. Ngân hàng có rất nhiều các hình

được các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi. Thông qua hoạt động bảo
lãnh ngân hàng thu được khoản phí bảo lãnh của khách hàng, ngân hàng có thể
yêu cầu khách hàng ký quỹ, tạo nguồn tiền thanh toán cho ngân hàng với mức
lãi suất rất thấp. Bảo lãnh cũng góp phần mở rộng các dịch vụ khác như kinh
doanh ngoại tệ, tư vấn, thanh toán…
3.5 Thuê mua
Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn
thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó
ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường phải
đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê
(thời hạn khoáng 80-90% đời sống kinh tế của tài sản). Do vậy, cho thuê của
ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay.
3.6 Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngân hàng
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển
sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư… . Nhiều khách hàng
còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư
vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp.
3.7 Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
chính phủ buộc NHTM mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên
tổng lượng tiền mà ngân hàng huy động được.
- Bảo quản tài sản hộ
- Bảo lãnh
- Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn như uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ
thác phát hành, uỷ thác đầu tư...
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều
loại.
* Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
Cạnh tranh được chia thành 3 loại.
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng
hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với
gái cao nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng
được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên.
- Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ
thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh
tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, người mua phải
chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần.
- Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho
người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không
chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho
các đối thủ mạnh hơn.
* Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Cạnh tranh được phân thành hai loại.
- Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ.
Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
- Cạnh tranh giữa các nghành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.
Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giưã các
nghành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh
Cạnh tranh được phân thành 3 loại.
- Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Cometition): Là hình thức cạnh tranh
giữa nhiều người bán trên thị trờng trong đó không người nào có đủ ưu thế

Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho
người tiêu dùng. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất
lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công
nghệ trong đó cao hơn...để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng. Do đó,
cạnh tranh giúp họ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ, chất lượng sản
phẩm ngày càng cao cùng với mức giá cả ngày càng phù hợp với khả năng của
họ.
Đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền
sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực
thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh tạo
điều kiện để xoá bỏ độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất bình đẳng trong kinh
doanh, phát huy tính năng động, sự sáng tạo trong các doanh nghiệp, nâng cao
chất lượng đời sống xã hội, phát triển nền văn minh nhân loại.
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không
mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở
hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi
cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp
pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh
bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.Trong xã hội, mỗi con người,
xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy
cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng,
xã hội.
2. Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM
2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì năng lực
cạnh tranh đựơc hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí
của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực
hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của
doanh nghiệp, đồng thời đạt được được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt
ra. Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status