Tìm hiểu biến động của một số yếu tố thủy lý, thủy hóa và các biện pháp quản lý chất lượng nước ao nuôi cá mú tại công ty nuôi tôm xuất khẩu nha trang - Pdf 22



i

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô giáo Khoa Nuôi trồng Thủy sản, các cô chú, anh chị tại công ty và
các bạn cùng lớp. Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Xin cảm ơn các thầy cô đã từng dạy bảo tận tâm cho tôi trong suốt thời gian
học tập tại trường, đã truyền cho tôi vốn kiến thức quý báu.
Xin cảm ơn sự hướng dẫn của cô giáo Tôn Nữ Mỹ Nga đã hướng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Nguyễn Đình Trung, người đã
giúp đỡ tận tâm trong suốt quá trình thí nghiệm làm đề tài.
Cảm ơn các anh chị và các bạn đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn cha mẹ - người đã sinh ra, nuôi dưỡng và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
ii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i

GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ VÀ VIẾT TẮT iii


2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 17

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 17

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 17

2.1.3. Đối tượng nghiên cứu 17

2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 17

2.2.1. Nội dung nghiên cứu 17

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 17

2.2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (hình 2.1). 17

2.2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu 17

2.2.2.3. Phương pháp thu mẫu nước 18

2.2.2.4. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 20

2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu 21

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
iii


3.2.2. Biến động các yếu tố môi trường theo thời gian ngày đêm 42

3.3. Các biện pháp quản lý duy trì chất lượng nước ao nuôi cá Mú 46

3.3.1. Phương pháp cải tạo ao 47

3.3.2. Chế độ thêm và thay nước 47

3.3.3. Chế độ quạt nước 48

3.3.4. Ảnh hưởng của thức ăn đến chất lượng nước và biện pháp quản lý 51

3.3.5 Ảnh hưởng của các khí độc đến chất lượng nước và biện pháp quản lý. 52

3.3.6. Thay đổi pH trong ao nuôi và biện pháp quản lý 53

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 54

4.1. Kết luận 54

4.1.1. Điều kiện tự nhiên và hệ thống công trình nuôi 54

4.1.2. Chất lượng nước ao A2 và B2 54

4.1.3. Các biện pháp quản lý duy trì chất lượng nước 55

4.2. Đề xuất ý kiến 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sản lượng cá Mú (tấn) nuôi ở một số nước Ấn Độ - Thái Bình Dương 7

Bảng 1.2: Tiêu chuẩn về độ nhiễm bẩn của nước 15

Bảng 3.1: Nhiệt độ của 2 ao cá Mú A2 và B2 theo thời gian nghiên cứu 27

Bảng 3.2: Độ sâu, độ trong và màu nước ao cá Mú theo thời gian nghiên cứu 29

Bảng 3.3: Hàm lượng oxy hòa tan (mgO
2
/L) của ao A2 và B2 theo thời gian 31

Bảng 3.4: Hàm lượng CO
2
hòa tan (mg/L) trong 2 ao nuôi theo thời gian 33

Bảng 3.5: Giá trị pH ao nuôi cá Mú theo thời gian nghiên cứu 36

Bảng 3.6: Độ kiềm (mgCaCO
3
/L) ao cá Mú theo thời gian nghiên cứu 37

Bảng 3.7: Độ mặn (ppt) ao nuôi A2 và B2 theo thời gian nghiên cứu 38

Bảng 3.8: Hàm lượng COD (mg/L) ao nuôi A2 và B2 theo thời gian nghiên cứu 39

Bảng 3.9: Hàm lượng BOD

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18

Hình 2.2: Ảnh chụp ao A2 và điểm thu mẫu (1), (2), (3), (4) 19

Hình 2.3: Ảnh chụp ao B2 và điểm thu mẫu (1), (2), (3), (4) 19

Hình 3.1. Kênh thoát nước của ao nuôi 25

Hình 3.2: Kênh cấp nước mặn 25

Hình 3.3: Diễn biến nhiệt độ ao nuôi A2 theo thời gian nghiên cứu 28

Hình 3.4: Diễn biến nhiệt độ ao nuôi B2 theo thời gian nghiên cứu 28

Hình 3.5: Sự biến động hàm lượng oxy hòa tan ao A2 theo thời gian nghiên cứu 32

Hình 3.6: Sự biến động hàm lượng oxy hòa tan ao B2 theo thời gian nghiên cứu 32

Hình 3.7: Sự biến động hàm lượng CO
2
ao A2 theo thời gian nghiên cứu 34

Hình 3.8: Sự biến động hàm lượng CO
2
ao A2 theo thời gian nghiên cứu 34

Hình 3.9: Sự biến động pH theo thời gian nghiên cứu 36

Hình 3.10: Sự biến động nhiệt độ nước theo ngày đêm của ao A2 43


Phòng, Khánh Hòa, Vũng Tàu với hình thức nuôi lồng và nuôi ao đất.
Trong nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá Mú nói riêng, môi
trường và các biện pháp duy trì và quản lý chất lượng nước là một trong những yếu
tố quan trọng ảnh hưởng quyết định đến kết quả của quá trình nuôi. Môi trường
nuôi tốt sẽ góp phần làm tăng năng suất và ngược lại. Tuy nhiên, môi trường và chất
lượng nước đối với nuôi trồng thủy sản được đánh giá tùy thuộc vào đối tượng nuôi.
Môi trường nước được coi là tốt đối với đối tượng này nhưng chưa chắc là tốt với
đối tượng nuôi khác. Song những biến đổi của môi trường và chất lượng nước có
ảnh hưởng đến thủy sinh vật nói chung và cá Mú nói riêng. Để giải quyết tốt hơn
các yếu tố môi trường sống, cần tiến hành những nghiên cứu để từ đó đề ra biện
pháp kĩ thuật thích hợp điều khiển môi trường nước, góp phần tăng năng suất và sản
lượng cá nuôi.
Thành công trong NTTS không chỉ ở năng suất cao, sản lượng nhiều mà còn
phải đảm bảo sản xuất bền vững, không phá hủy hệ sinh thái tại chỗ. Việc nghiên
cứu đặc điểm môi trường và các biện pháp quản lý chất lượng nước trong ao nuôi
rất cần thiết để đề ra giải pháp toàn diện cho quá trình nuôi gắn với bảo vệ môi trường. 2

Xuất phát từ những lý do trên, để làm quen với phương pháp nghiên cứu
khoa học, khoa NTTS, bộ môn Quản Lý Môi Trường và Nguồn Lợi thủy sản
Trường Đại học Nha Trang đã đồng ý cho tôi thực hiện đề tài “Tìm hiểu biến động
của một số yếu tố thủy lý, thủy hóa và các biện pháp quản lý chất lượng nước
ao nuôi cá Mú tại công ty nuôi tôm xuất khẩu - Nha Trang”.
Đề tài thực hiện với các nội dung chính sau:
1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên vùng nuôi và hệ thống công trình ao nuôi.
2. Tìm hiểu các yếu tố thủy lý, thủy hóa trong ao nuôi cá Mú.
3. Tìm hiểu biện pháp quản lý và duy trì chất lượng nước trong ao nuôi.
Đề tài này hoàn thành cung cấp thêm cho khoa học một số thông tin về quá
Hình 1.1: Hình ảnh một số loài cá Mú
Cá mú Chấm
:
(
Epinephelus
areolatus
)

Cá mú Mỡ
(Epinephelus tauvina)
Cá mú Chấm xanh
(Epinephelus chlorostigma) 4

Theo Lê Trọng Phấn (1997) [7], Việt Nam có 11 giống và 48 loài. Trong
khi đó, Đào Mạnh Sơn & Đỗ Văn Nguyên (1998) [10] cho rằng họ cá Mú Việt Nam
có 13 giống và trên 40 loài. Tuy nhiên, cá có giá trị kinh tế chỉ có 23 loài thuộc 6
giống Anyperodon, Cromilepter, Plestropomus, Variola, Epinephelus.
Vùng biển vịnh Bắc Bộ có 3 loài: cá Mú Mỡ (E.tauvina); cá mú Dẹt
(E.bleekeri), cá mú Cáo (E. meguchir). Vùng biển Miền Trung có cá mú Chấm đỏ
(E.alaara). Vùng biển miền Đông và Tây Nam Bộ có cá mú Chấm đỏ (E.akaara),
cá mú Ruồi (E.tauvina) (Trần Duy, 1995) [3].
Hiện nay, họ cá Mú (Seranidae) có khoảng 75 giống và trên 400 loài, có

Những năm cuối của thập niên 90, những công trình và dự án nghiên cứu sản
xuất giống đã thành công ở các nước Indonesia, Philippines, Trung Quốc…(Tạp
chí KH & CN) [15].
Tới đây, thế giới có rất nhiều những nghiên cứu về cá Mú trên tất cả những
lĩnh vực như sinh học, sản xuất giống, kỹ thuật ương nuôi, bệnh,…thật khó để có
thể thống kê được hết các báo cáo và những công trình nghiên cứu về cá Mú trên
thế giới.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cá Mú ở Việt Nam
Cùng với hệ thống phân loại cá Mú trên thế giới, các nhà nghiên cứu Việt
Nam đã có những nghiên cứu và tổng kết đưa ra một hệ thống phân loại họ cá Mú
riêng trong vùng biển nước ta. Trong cuốn “Các loài cá kinh tế ở biển Việt Nam”
(Hội nghề cá Việt Nam, 1998) [16], có 23 hình ảnh và thông tin về đặc điểm hình
thái cơ bản của 23 loài thuộc 6 giống. Hay một số công trình có đề cập đến đặc
điểm sinh học như “Sơ bộ nghiên cứu họ cá Mú (Serranidae) ở vùng biển Việt
Nam” của Lê Trọng Phấn (1993), “Kỹ thuật nuôi lồng cá biển” của Nguyễn Tác An,
Trương Sỹ Kỳ, Nguyễn Duy Toàn (1993) [1], và công trình “Nuôi cá biển ở Việt
Nam” của Đào Mạnh Sơn & Đỗ Văn Ngyên (1988), [10]. Hai công trình sau còn có
đề cập đến một số biện pháp nuôi lồng phổ biến, chưa đề cập đến nuôi ao đìa.
Cùng với sự phát triển của nghề nuôi thương phẩm, cũng đã có những công
trình nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo cá Mú thành công tại viện nghiên cứu 6

hải sản I (Hải Phòng), hay “Báo cáo tổng hợp các loại bệnh của cá Mú” của viện
nghiên cứu Thủy sản I (Bắc Ninh) (Bùi Hải Quảng, 2001) [9].
Những năm sau này mới có hai công trình đáng chú ý nói về kinh tế xã hội
của vùng nuôi: “Tiềm năng nghề nuôi cá Mú Việt nam, nghiên cứu điển hình ở
Khánh Hòa” của Nguyễn Văn Trai ,1997, “Tính bền vững của việc cung cấp cá Mú
giống đối với nghề nuôi trồng thủy sản của tỉnh Khánh Hòa - Việt Nam” của Lê

- - - - - - 5 6 10
Malayxia
1006 931 834 857 799 465 948 1217 1101
Philippin
63 18 10 36 158 115 145 151 97
Singapo
147 133 101 93 82 97 94 111 185
Đài Loan
3845 1794 1899 1789 2525 3471 4112 4992 5285
Thailan
755 1078 674 774 795 1390 1143 1332 1442
(Nguồn: FAO Fishery Information Data And Statistics Unit 2003) [25].

Sản lượng nuôi cá Mú toàn cầu tăng từ 59,146 tấn năm 2004 lên 65,362 tấn
trong năm 2005, tỷ lệ tăng 11%. Mặc dù số liệu thống kê thể hiện sản lượng nuôi cá
Mú tăng lên nhưng tổng giá trị tương ứng lại giảm đến 12%, từ 208,5 triệu USD
năm 2004 xuống chỉ còn 183,6 triệu USD năm 2005. Điều này cho thấy hiện tượng
bão hòa của thị trường đối với cá Mú nuôi, đặc biệt do người nuôi chuyển sang sản
xuất các loài cá Mú có giá cả thấp hơn, nên dẫn đến giá bán trên thị trường giảm
xuống [23].
Cá Mú là một trong những loài cá sống đáy có giá trị kinh tế cao, sống ở
vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt. Ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, cá Mú có
63 loài thuộc giống Epinephelus (Đào Mạnh Sơn & Đỗ Văn Nguyên (1998) [10].
Vào năm 1996, nhiều loài cá trong giống cá này đã trở thành đối tượng nuôi quan
trọng ở khu vực Đông Nam Á (Đào Mạnh Sơn và Đỗ Văn Nguyên, 1998) [10]. Các
đối tượng này gồm các loài cá phổ biến nhất trong công nghiệp thực phẩm cá rạn ở
khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cá Mú thường lớn nhanh, khỏe mạnh thích hợp
cho nuôi tăng sản, được nuôi trong lồng nổi hoặc ao đất (SUMA, 2002) [18].
không quá thấp (16 - 23
o
C), là nơi thích hợp cho sự phát triển của giống của các loài
hải sản nói chung và các loài cá Mú nói riêng, nhất là khu vực miền Trung. Các loài 9

cá Mú nuôi gắn với việc xuất hiện của cá giống loài đó: Cá mú Dẹt (E. bleekeri)
phân bố từ vịnh Bắc bộ đến Khánh Hòa nên chúng được nuôi lồng phổ biến ở
Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Bình hay ở khu vực miền Trung thì cá
mú Chấm đỏ (E. akaara), cá mú Hoa nâu (E.fuscoguttatus). Thời gian cá giống xuất
hiện: Miền Bắc thường từ tháng 3 đến tháng 7, miền Trung từ tháng 3 đến tháng 8
(SUMA, 2002) [18].
Nghề nuôi cá Mú có tiềm năng lớn để phát triển ở nước ta. Trong tương lai,
khi Việt Nam chủ động được nguồn cung cấp con giống cá Mú nhân tạo thì nghề
nuôi cá Mú càng có cơ hội để phát triển hơn nữa (Lê Anh Tuấn, 2004) [14].
1.3. Vài nét về kỹ thuật nuôi cá Mú
Theo SUMA, 2002 [18], để có được sản phẩm cuối cùng là cá Mú đạt tiêu
chuẩn cá thương phẩm người nuôi cần thực hiện các công đoạn lần lượt như sau:
Cải tạo ao: Ao nuôi được người dân tháo và hút cạn nước, sau đó dọn rác, vét
lớp bùn đáy, gia cố lại bờ ao. Đáy ao được phơi 2 tuần hoặc lâu hơn tùy điều kiện
thời tiết nắng nhiều hay mưa nhiều, lấy nước vào ao khoảng 5cm rồi dùng rễ cây
diệt cá (Rotenone): 40 kg/ha để diệt tạp. Bón vôi với tỷ lệ 1 - 2 tấn/ha (CaCO
3
) hoặc
200 - 300 kg/ha (CaO). Bón phân hữu cơ 2 tấn/ha và phân vô cơ, phân Ure: 25
kg/ha hoặc Diammonium phosphat: 50 kg/ha. Lấy 30 - 40cm nước vào ao (dùng
lưới mịn 24 lỗ/inche (ngăn sinh vật tạp vào ao), đợi nước lên màu rồi cho thêm
nước vào tới 1,2 - 1,3m.

làm thay đổi tốc độ trao đổi chất, rối loạn hô hấp và làm mất cân bằng pH máu, làm
thay đổi chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu và làm tổn thương bóng hơi của cá.
Theo Rowland (1986) (trích theo Nguyễn Đình Trung, 2004) [12], khoảng
nhiệt độ thích hợp cho sự sống sót và sinh sản của các loài tôm cá nuôi tương đối
rộng, nhưng khoảng nhiệt độ cho tăng trưởng cực đại thì rất hẹp.
Nhiệt độ là một yếu tố điều chỉnh năng suất vật nuôi trong ao. Tốc độ tiêu
hóa thức ăn của tôm cá tăng lên khi nhiệt độ tăng. Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng
đến khả năng gây bệnh và mầm bệnh.
Nhiệt độ thích hợp cho cá Mú nuôi là 27 - 32
o
C (Dan & ctv, 1998) [19]. 11

* Độ trong
Nước tinh khiết là chất lỏng trong suốt. Nhưng nước ao nuôi thì không phải
như vậy mà có một giá trị nào đó của độ trong. Độ trong của nước trong ao nuôi chủ
yếu phụ thuộc vào số lượng đặc tính khối chất (secton) có trong nước, đó là tập hợp
các sinh vật sống trong tầng nước và thể vẫn lơ lững trong nước (Nguyễn Đình
Trung, 2004) [12].
Độ trong thích hợp cho ao nuôi thủy sản từ 20 - 60cm, tốt nhất là từ 30 -
40cm, tảo phát triển vừa phải trong ao, màu nước xanh vàng hay vàng nâu là tiền đề
cho sự ổn định pH, biên độ oxy giao động phù hợp cho cá sinh trưởng và phát triển.
Độ trong thích hợp nhất cho ao nuôi cá Mú là 20 - 30cm [15].
* Màu nước
Màu nước là một trong những chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh học của vùng,
nó biểu thị sự cân bằng sinh thái trong vùng nước.
Nước tinh khiết không màu, còn nước ở các thủy vực có màu khác nhau.
Mùa nước trong thủy vực phụ thuộc vào các vật thể trong nước như chất vẩn vô cơ,

mặt trời phù hợp thì oxy hòa tan nhiều. Nếu thực vật nổi phát triển dày đặc, ánh
sáng sẽ bị che khuất, làm giảm hiệu quả quá trình quang hợp và tảo có khả năng bị
tàn lụi, vi sinh vật phân giải chất hữu cơ nhiều thì ao có thể bị thiếu oxy (Phạm
Khánh Ly, 1999) [4].
Hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi thủy sản phải không dưới 3 mg/L,
khoảng thích hợp là 6 - 8 mg/L, nếu nhỏ hơn 3 mg/L dưới ngưỡng chịu đựng cá sẽ
không bắt mồi, chậm lớn, rối loạn hô hấp và có thể chết. Tuy nhiên, nếu hàm lượng
oxy hòa tan quá cao (vượt qua mức bão hòa 110%) có thể gây nên bệnh còn gọi là
bệnh bọt khí.
Hàm lượng oxy hòa tan thích hợp trong ao nuôi cá Mú là 4 - 8 ppm (SUMA,
2002) [18].
13

* Hàm lượng CO
2

CO
2
trong nước là do quá trình hô hấp của thủy sinh vật và quá trình phân
hủy các hợp chất hữu cơ trong điều kiện có oxy, xâm nhập từ khí quyển vào nước.
Khí CO
2
đóng vai trò quan trọng trong đời sống của vùng nước. CO
2
là bộ
phận cơ bản tham gia vào sự tạo thành chất hữu cơ trong quá trình quang hợp. CO
2

giảm pH của nước.
Trong ao nuôi thâm canh, hàm lượng amonia thường cao, pH cao sẽ làm tăng
độc tính của NH
3
đối với tôm cá.
Trong các ao có độ kiềm thấp, pH không đủ thấp để gây hại đến tôm cá
nhưng nó đủ thấp để thiếu CO
2
cho tảo quang hợp (Nguyễn Đình Trung, 2004) [12].
Trong ao nuôi cá Mú, khoảng pH thích hợp là 7,5 - 8,3 (SUMA, 2002) [18]. 14

* Độ kiềm
Độ kiềm giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự biến động thấp nhất của
môi trường nước. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng duy trì sự biến động
thấp nhất của nước ao nuôi, hạn chế tác hại của các chất độc có sẵn trong ao.
Độ kiềm thích hợp cho ao nuôi thủy sản nước ngọt là dưới 40 mgCaCO
3
/L
và ao nuôi nước mặn là trên 80 mgCaCO
3
/L. Độ kiềm tốt nhất khoảng 100 - 200
mgCaCO
3
/L. Bón vôi và các chế phẩm từ vôi được xem là biện pháp hữu hiệu để
duy trì và gia tăng độ kiềm (Nguyễn Trọng Nho, 2002) [6].
* Độ mặn (ppt)
Độ mặn ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hòa áp suất thẩm thấu của thủy

/L) Độ nhiễm bẩn
1 Rất sạch
2 Sạch
3 Hơi bẩn
4 Bẩn vừa
5 ÷ 15 Khá bẩn
15 Rất bẩn

* Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD
5
)
BOD

là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân hủy
các chất hữu cơ có trong nước trong điều kiện hiếu khí. Phản ứng xảy ra như sau:
Chất hữu cơ + O
2
 CO
2
+ H
2
O
Oxy sử dụng trong quá trình này là oxy trong nước.
Chỉ số BOD là lượng oxy mà sinh vật tiêu thụ trong phản ứng oxy hóa các
chất hữu cơ trong nước. Chỉ số BOD càng cao chứng tỏ lượng chất hữu cơ khả năng
phân hủy sinh học trong nước càng lớn (Nguyễn Đình Trung, 2004) [12].
Để xác định chính xác nhu cầu oxy sinh hóa, cần phải đo sau 20 ngày, vì
thực tế tại thời điểm đó khoảng 98 - 99% lượng chất hữu cơ trong nước sẽ bị oxy
hóa. Việc đo như vậy cần nhiều thời gian chờ đợi kết quả, cho nên có thể đánh giá
gần đúng bằng xác định BOD sau 5 ngày, vì tại thời điểm này khoảng 70 - 80% các

gây chết hoặc nồng độ an toàn của nitrite cho NTTS. Điều cần thiết là giới hạn nồng
độ nitrite trong ao nuôi càng thấp càng tốt. Nồng độ nitrite thích hợp cho ao nuôi cá
Mú là khoảng 0 - 0,05 ppm (SUMA, 2002) [18].
* H
2
S
H
2
S hình thành trong thủy vực do quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ
chứa lưu huỳnh hoặc quá trình sunphat hóa với sự tham gia của các vi khuẩn yếm
khí. H
2
S là chất không màu, mùi trứng thối nặng hơn không khí, ít tan trong nước,
rất độc. H
2
S là chất độc bản chất (hay độc tự nhiên). Với hàm lượng rất nhỏ, nó
cũng thể hiện tính độc cho hầu hết mọi sinh vật ở bất cứ đâu. H
2
S là chất độc với hệ
hô hấp của động vật vật thủy sinh và sự tồn tại của O
2
trong nước. Vì H
2
S là chất
khử mạnh nên khi được tạo thành trong nước, nó sẽ tiêu hao rất nhiều oxy hòa tan
trong nước.Hàm lượng an toàn cho cá, tôm nuôi đối với H
2
S là không quá 0,33
mg/L (Nguyễn Đình Trung, 2004)


18
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.2.2.3. Phương pháp thu mẫu nước
Để đánh giá chất lượng nước nước ao nuôi, mẫu nước được thu tại các ao
A2: nuôi cá Mú được 7 tháng (hình 2.2) và B2: nuôi cá Mú được 4 tháng (hình 2.3).
Điều kiện tự nhiên
vùng nuôi, hệ thống
công trình nuôi

Biến động một số yếu
tố môi trường

Tìm hiểu các biện pháp
quản lý duy trì chất
lượng nước

Tìm hiểu biến động của một số yếu tố thủy lý, thủy hóa và các biện pháp
quản lý chất lượng nước ao nuôi cá Mú tại công ty nuôi tôm xuất khẩu
Nha Trang
Kết luận và đề xuất ý kiến

Tìm hiểu
điều kiện
tự nhiên
Tìm hiểu
hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status