TIỂU LUẬN
MÔN: LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đề tài: So sánh cách thức thành lập, chức năng,
quyền hạn của nghị viện Anh và nghị viên Mĩ thời
kỳ cận đại.
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Từ thề kỷ XV đến thế kỷ XVIII, ở phương tây chế độ phong kiên lâm vào
thời kỳ khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa hình
thành và phát triển, giai cấp tư sản ra đời, là giai cấp tiến bộ, đại diện cho lực
lượng sản xuất mới. Giai cấp tư sản lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động, tiến
hành cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập nhà nước tư sản. Nhà
nước quân chủ nghị viện Anh là nhà nước điển hình cho chính thể quân chủ nghị
viện, nhà nước cộng hòa tổng thống ở hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nhà nước điển
hình cho chính thể cộng hòa tổng thống. Để nhận thức được sâu sắc và thấy được
sự khác biệt giữa các nghị viện của nhà nước tư sản, nhóm chúng em đi tìm hiểu và
so sánh cách thức thành lập, chức năng, quyền hạn của nghị viện Anh và nghị viên
Mĩ thời kỳ cận đại.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. So sánh cách thức thành lập của nghị viện Anh với nghị viện Mĩ thời
kỳ cận đại.
• Điểm giống nhau trong cách thức thành lập nghị viện Anh và nghị viện Mĩ:
Cả hai nhà nước ANh và Mĩ thời cận đại đều dựa trên thuyết tam quyền phân lập,
chế độ hai viện với mục đích kiềm chế đối trọng lẫn nhau tạo ra sự cạnh tranh, hạn
chế quyền lực mỗi bên trong nghị viện nhằm quản lý và điều hành tốt hơn bộ máy
nhà nước cảu mình.
• Điểm khác nhau:
2
- Thứ nhất, tuy cả hai nhà nước đều thiết lập chế độ lưỡng quyền song mỗi
nước lại có những điểm khác nhau cơ bản về thành phần số lượng đại biểu. Ở Anh,
thượng nghị viện có 1885 người, hạ nghị viện có 635 đại biểu, ở Mĩ thì số lượng
cứu, xem xét các dự thảo luật của hạ viện. thượng viện đóng vai trò là tòa phúc
thẩm cao nhất. Thông thường thượng viện không có quyền ngăn cản các dự thảo
luật trở thành luật chính thức nếu hạ viên nhất quyết bảo lưu ý kiến.
Chức năng chính của hạ viện ở Anh là thông qua các đạo luật, chủ trương, chính
sách lớn về kinh tế, xã hội, chính trị, đối nội và đối ngoại, giám sát hoạt động của
chính phủ.
- Ở nghị viện Mĩ: Chức năng lập pháp: Việc chấp nhuận của cả hạ viện và
thượng viện là bắt buộc đối với bất cứ các dự thảo luật nào, bao gồm dự thảo luật
về thu thuế để chúng trở thành luật. Cả hai viện phải thông qua cùng một phiên bản
giống như của dự thảo luật, nếu có khác biệt, chúng có thể được giải quyết bởi một
ủy ban hội nghị mà trong đó có cả thành viên của hai viện.
Ngoài ra ở nghị viện Mĩ, chúc năng kiểm tra và cân bằng quyền lực: Hiếm
pháp cho thượng viện một số chức năng có một không hai là khả năng “ Kiểm tra
và cân bằng” quyền lực của các thành phần khác trong liên bang. Khả năng này
gồm có quy định bắt buộc rằng thượng viện có quyền tư vấn và thượng viện ưng
thuận đối với một số bổ nhiệm viện chức chính phủ của tổng thống Hoa kì; cũng
như thượng viện phải phê chuẩn tất cả các hiệp ước với các chính quyền ngoại
quốc, xét xử tất cả các vụ luận tội và bầu phó tổng thống Hoa Kì trong trường hợp
không ai nhận đa số phiếu đại cử tri. Hiến pháp cho quyền hạ viện Hoa Kì luận tội
các viên chức liên quan vì lí do “ Phản quốc, hối lộ, hoặc các tội đại hình và các tội
phi pháp” và cho phép thượng viện quyền xử những vụ luận tội như thế. Trong bất
4
cứ vụ xử luận tội nào, các thượng nghị sĩ được hiến pháp yêu cầu đến chứng kiến
lời thề hoặc xác nhận lời khai. Để kết án cho một vụ luận tôi cần phải có 2/3 đa số
các thượng nghị si có mặt.
3. So sánh quyền hạn của nghị viện Anh và nghị viên Mĩ thời cận đại.
Giống nhau:
- Nghị viện có quyền lớn, nghị viên thực sự có ưu thế hơn hẳn các cơ quan
nhà nước khác.
- Quyền lập pháp.
6