bước đầu tìm hiểu kỹ thuật nuôi và nguyên nhân gây chết mực nang trong quá trình sản xuất giống nhân tạo loài sepia pharaonis - Pdf 22



- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
Với 1 triệu km
2
vùng biển đặc quyền kinh tế, trên 1.7 triệu ha mặt nước có khả
năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Việt nam là một trong những có tiềm năng lớn về
khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực Đông Nam Á. Trong những năm gần đây,
thuỷ sản được coi là ngành kinh tế có mũi nhọn và có vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, góp phần vào sự nghiệp xoá đói giảm nghèo và
từng bước nâng cao mức sống cho cộng đồng ngư dân.
Động vật thân mềm(ĐVTM) có số lượng khá lớn, đứng thứ hai sau động vật giáp
xác. ĐVTM có giá trò dinh dưỡng tương đối cao, chứa nhiều đạm, hàm lượng mỡ thấp,
nhiều loại axiamin cần thiết cho con người. Những năm gần đây, nghề nuôi trồng Động
vật thân mềm đã phát triển với tốc độ cao, giống loài được nuôi trồng dần dần tăng lên,
diện tích nuôi trồng không ngừng được mở rộng, sản lượng nuôi trồng tăng lên rất lớn.
ĐVTM đã trở thành đối tượng kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế của nhiều
quốc gia có biển ở khu vực châu và thế giới.
ĐVTM có 3 lớp quan trọng: Lớp chân bụng (Gastropoda), lớp hai mảnh vỏ
(Bivalvia) và lớp chân đầu (Cephalopoda). Lớp động vật chân đầu (Cephalopoda) theo
FAO có khoảng hơn 1000 loài thuộc 43 họ, bao gồm các loài mực ống, mực nang, bạch
tuộc, tất cả đều sống ở biển.
Theo thống kê của FAO, sản lượng mực đánh bắt hàng năm đứng hàng thứ ba sau
cá và tôm biển. Thòt mực thơm ngon chứa nhiều chất dinh dưỡng. Mực khô là mặt hàng
hải sản xuất khầu có giá trò, trong thòt mực còn chứa hàm lượng khá cao các loại vitamin
B
12
, B
2
, và PP. Trong công nghiệp, túi mực làm nguyên liệu ấn loát, nang mực chế biến


Phan Thò Luyến
- 3 -
Phần II: Tổng Luận

2.1. Vài nét về đối tượng nghiên cứu.
2.1.1. Hệ thống phân loại.
Ngành : Mollusca
Lớp: Cephalopoda Cuvier, 1798
Lớp phụ: Coleoidea Bather, 1888
Bộ: Sepiida Naef, 1916
Họ: Sepidae Keferstein, 1866
Giống: Sepia Linnaeus, 1758
Loài: Sepia pharaonis (Enhrenberg, 1831)

- Tên đồng danh: Sepia rouxi Oxigny, 1841; Sepia formosana, Berry, 1912; Sepia
formosano Sasaki, 1929; Sepia tigris Sasaki, 1929.
Tên tiếng Anh: Pharaoh cuttlefish

đôi khi biến đổi thành gai nhọn, sù xì nhất là khi chúng cặp đôi giao vó, bắt mồi trốn
tránh kẻ thù, uốn lượn thành những làn sóng đẩy nước về phía sau để đưa cơ thể về phía
trước. Ngoài ra vây có vai trò như bánh lái để chuyển hướng đi, giữ thăng bằng và giảm
tốc độ.
2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thi Thu Thảo (2005), ở giai đoạn còn nhỏ (chiều
dài màng áo nhỏ hơn70 mm) tỷ lệ tăng trưởng về chiều dài nhanh hơn trọng lượng.
Chiều dài màng áo lớn hơn 100 mm tỷ lệ tăng trưởng về chiều dài chậm hơn trọng
lượng.
Kết quả phân tích về tương quan chiều dài màng áo và trọng lượng toàn thân cho
thấy ở nhóm mực có chiều dài màng áo > 100 mm con cái có trọng lượng nặng hơn con
đực, đây có thể là do trong giai đoạn này con cái tích trữ năng lượng cho quá trình sinh
sản.
2.1.4. Môi trường phân bố
Mực nang thường sống cách bờ từ 50-500 km, chúng sống ở đáy cát sỏi, cát pha
lẫn mùn bã hữu cơ hay nơi có các tầng đá ngầm, đá san hô, độ sâu trung bình 15-17 m
phân bố nhiều nhất ở độ sâu từ 20 -40 m. - 5 -
- Môi trường phân bố:
Độ mặn từ 32 - 36ppt.
pH từ 8.0 - 8.5.
Hàm lượng oxy hoà tan từ 5 –7 mg/lit.
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng.
Đặc điểm dinh dưỡng của mực nang vân hổ cũng giống như của một số động vật,
thay đổi theo giai đoạn phát triển, mỗi giai đoạn có đặc điểm khác biệt riêng. Khi ở giai
đoạn phát triển trong bọc trứng ấu trùng chủ yếu dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Khi ấu
trùng thoát ra khỏi bọc trứng trở thàng mực con, sau 3 – 5 ngày chúng sử dụng thức ăn
bên ngoài. giai đoạn này mực con dùng tay (các xúc tu) để bắt mồi. Thức ăn bao gồm

gắn chặt vào lỗ sinh dục của con cái, quá trình này kéo dài khoảng 5 – 20 phút. Sau khi
quá trình kết cặp xong mực bắt đầu đẻ trứng.
* Quá trình đẻ trứng.
Quá trình đẻ trứng của mực cái xảy ra khi con đực và con cái đã cặp đôi giao vó.
Trước khi đẻ trứng, con cái bơi chậm và quan sát xung quanh giá thể, đồng thời con đực
hộ tống theo cùng con cái. Con cái tiến tới chỗ giá thể dùng các xúc tay ôm lấy giá thể
rồi gắn từng nang trứng vào giá thể, sau đó bơi lùi lại về ø phía sau và bơi quanh quẩn
nơi đẻ. Quá trình sinh sản của con cái diễn ra vào ban đêm.
Trứng được đẻ từng cái một và đính vào giá thể tạo thành chùm giống như chùm
nho. Sau khi đẻ song con cái nằm nghỉ ở sát đáy, con đực bơi xung quanh chùm trứng,
thỉnh thoảng dùng các xúc tay ôm lấy trứng như vuốt ve và làm vệ sinh cho trứng. Trong
chu kỳ vòng đời, mực cái chỉ thành thục một lần và đẻ hết toàn bộ trứng là chết. Chúng
có thể đẻ nhiều kỳ do trứng phát triển thành thục không đồng pha.
* Sức sinh sản của mực nang
- Sức sinh sản tuyệt đối của mực nang ở các nhóm khác nhau thì khác nhau.
- Sức sinh sản tuyệt đối trung bình cho các nhóm kích thước là 474,53 trứng. Sức
sinh sản tương đối trung bình là 2,77 trứng/g trọng lượng toàn thân.
2.1.7. Tập tính bơi lội.
Đối với các loài mực nhờ có vây và lỗ phễu mà chúng có thể vận động được.
Chúng có thể tiến về phía trước hay thụt lùi về phía sau, vận động về phía sau với tốc độ
nhiều khi nhanh hơn về phía trước.
2.2.Tình hình nghiên cứu về mực. - 7 -
2.2.1. Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và nguồn lợi.
Theo Roper et al., (1984) Lớp chân đầu trên thế giới có khoảng 1000 loài thuộc 43
họ, sống trong điều kiện rất khác nhau: trên rạn đá san hô, bùn, đất đá, sống ở vònh, biển
sâu xa bờ. Vùng biển Ấn Độ Dương có 201 loài (Silas,1986), Vònh Thái Lan và vùng
biển Andaman có 25 loài thuộc 10 giống và 5 họ.

trung ở gần các đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vó, Cát Bà (Hải Phòng). Các
tháng khác các loài S .latimanus; S. madokai; S. aculeata… phân bố rải rác ở các khu vực
phía Bắc, Tây Bắc và phía Tây vònh Bắc Bộ. - 8 -
Vùng biển phía Nam, vào mùa khô mực nang phân bố từ Nam Phan Rang, Phan
Thiết và khu vực gần bờ Đông và Tây Cà Mau. Còn vào mùa mưa thường tập trung từ
Phan Thiết đến Cà Mau và Tây bắc đảo Phú Quốc, nhưng có xu hướng dòch chuyển ra
xa bờ.
Ở vùng biển vònh Bắc Bộ và vùng cửa sông Nam Bộ, mực ống (Loliginidae) và
mực nang (Sepiidae) tập trung phân bố chủ yếu ở độ sâu dưới 50 m nước vùng biển miền
Trung ở độ sâu từ 100 – 200 m có mực ống và mực nang phân bố nhiều nhất.
Kết qủa nghiên cứu của đề tài KT.0309 (1991-1995) phân tích trên hàng nghìn
mẻ lưới đánh bắt ở các vùng biển Việt Nam của các tàu điều tra của Liên Xô (cũ) các
năm 1977 – 1988, tàu Biển Đông các năm 1978 –1980; các tàu Thái Lan năm 1992 –
1993; các tàu của Hàn Quốc năm 1991; đã tính toán chi tiết nguồn lợi mực phân bố theo
độ sâu ở các vùng biển nước ta.
Bảng 1: Trữ lượng và khả năng khai thác mực nang theo độ sâu ở biển Việt Nam
(nguồn: đề tài KT.039).
Vùng
biển
Trữ lượng và
khả năng khai
thác
< 50m 50-
100m
100-
200m
>200m Cộng


1.534,3

4.504,6

1.801,8

1.300,5

520,2

13.541,2

5.416,5

Biển
Nam Bộ
-Trữ lượng
-KN khai thác
24.933,3

9.973,3

10.755,9

4.302,4

7.404,1

2.961,6
Theo Khromov (1996) ở độ sâu từ 250 – 300 m bắt gặp các loài Sepia madokai,
S.lorigera, S.vietnamic nhưng số lượng ít. Các loài mực thuộc các họ Ommastrephidae,
Onychoteuthidae, và Cycloteuthidae phân bố chủ yếu ở độ sâu từ 300 – 500 m. Ở độ - 9 -
sâu 500 – 700 m có thể gặp các loài Ornithoteuthir volatilic và Symplectoteuthir
oualaniensis.
Độ sâu từ 50 – 100 m là vùng phân bố chủ yếu của các loài thuộc họ
Histioteuthis. Còn vùng sườn lục đòa tới độ sâu 100m gặp các loài Histioteuthis
mirandae và Cycloteuthis sirventi. Với độ sâu hơn 100 m gặp các loài thuộc hai họ
Octopodidae và Bolitaenidae.
2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học và sinh sản của mực.
Theo Lu. (1998), Nabhitabhata. (1999), Minton và cộng sự (2001), loài mực nang
là đối tượng thuỷ sản thích hợp bởi chúng phân bố rộng khắp, có kích thước lớn và tốc
độ sinh trưởng nhanh. Chúng thích nghi tốt với chế độ dinh dưỡng khác nhau, dễ dàng
chuyển tính ăn từ mồi sống sang mồi chết. Loài này thích nghi với ngưỡng nhiệt độ và
độ mặn rộng, hoạt động nhiều trong quá trình nuôi nhưng không sinh sản liên tục. Sự
sinh sản xuất hiện ngay trong điều kiện nuôi nhốt.
Theo Nabhitabhita và Nilaphat (1999) mực nang cặp đôi giao vó khi đạt 90 ngày
tuổi. Một con cái có thể đẻ 50-3000 trứng. Thời gian sinh sản kéo dài từ 1-24 ngày phụ
thuộc vào kích thước của con cái cũng như số lượng trứng và kích thước của chúng.
Trứng được ấp trong bọc trứng, ở nhiệt độ 28
o
C mực con nở ra sau khoảng 9-25 ngày
(trung bình 14 ngày). Thời giản trứng nở khoảng 3-10 ngày. Con đực hộ tống và bảo vệ
cho con cái suốt thời gian sinh sản. Sau khi sinh sản khoảng 1-3 tuần cả con đực và con
cái đều chết.

của thân phủ các chấm sắc tố nhỏ sắp xếp tương đối đều nhau. Có 1 đốm sáng lớn hình
oval ở dưới daphần giáp phía trên mặt lưng áo. Khi kích thước màng áo đạt 165 – 175
mm thì có khả năng tham gia sinh sản.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thò Thu Thảo (2005). Ở giai đoạn còn nhỏ (chiều
dài màng áo nhỏ hơn 70 mm) tỷ lệ tăng trưởng về chiều dài nhanh hơn trọng lượng. Chiều
dài màng áo lớn hơn 100 mm tỷ lệ tăng trưởng về chiều dài chậm hơn trọng lượng.
Kết quả phân tích về tương quan chiều dài màng áo và trọng lượng toàn thân cho
thấy ở nhóm mực có chiều dài màng áo > 100 mm con cái có trọng lượng nặng hơn con
đực.
Khả năng sinh sản ở các nhóm kích thước khác nhau thì khác nhau.
Nhóm kính thước từ 59 – 70 mm có sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 52 – 221
trứng/ cá thể.
Nhóm kích thước 71 – 90 mm có sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 146 – 418
trứng/ cá thể. - 11 -
Nhóm kích thước 91 – 130 mm có sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 89 – 441
trứng/ cá thể.
Nhóm kích thước 131 – 150 mm có sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 385 – 1269
trứng / cá thể.
Nhóm kích thước > 150 mm có sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 397 - 1938
trứng/ cá thể.
2.2.3. Nghiên cứu về bệnh
Phần lớn nghiên cứu về phân bố và nguồn lợi, đặc điểm sinh học sinh sản, trữ lượng
và khả năng khai thác của các đối tượng thân mềm. Nghiên cứu về bệnh học còn hạn chế,
còn ít tài liệu. Chủ yếu tập trung nghiên cứu trên các đối tượng lớp chân bụng
(Gastropoda): các loài ốc nước ngọt và lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia): hầu, bào ngư, vẹm,
ngọc trai, điệp. Còn nghiên cứu về bệnh của các đối tượng thuộc lớp chân đầu
(Cephalopoda) nói chung và mực nói riêng còn nhiều hạn chế. Đặc biệt mực nang là đối

cơ hội trên động vật thuỷ sản, stress và quản lý đóng một vai trò quan trọng trong việc
xuất hiện bệnh. Phương pháp quản lý có thể giúp đỡ làm giảm hoặc ngăn chặn sự xuất
hiện của những bệnh này. Thêm vào đó những kết quả tìm thấy trong nghiên cứu chỉ ra
rằng khi ta nghi ngờ mực mắc bệnh vi khuẩn ở nhánh mang, tim, có thể kiểm tra bằng
phương pháp mô học.
Theo John W. Forsythe et al.,(…) trong quá trình nuôi quảng canh, bắt gặp nhiều
những thương tổn bên trong cũng như bên ngoài cơ thể của những loài thuộc lớp chân
đầu. Nguyên nhân do và kí sinh của động vật đơn bào. Nhờ vào những thông tin để có
thể xác đònh đưa ra những phương pháp thích hợp để xử lý vấn đề trên. Những loại
kháng sinh được sử dụng ở các nồng độ khác nhau bằng các phương pháp khác nhau như
tắm, nhúng, tiêm. Nghiên cứu ban đầu đã chỉ ra rằng Choloramphenicol, Nitrofurazone,
có nồng độ thấp nhất và Oxytetracyline không có hiệu quả. Không tìm thấy phương
pháp xử lý có hiệu quả đối với nguyên sinh động vật. Trứng của loài bạch tuộc có thể
được giữ an toàn khi nhúng vào Malachite Green (0.05 mg/lit) trong khi đó trứng của
loài mực ống có thể nhúng vào trong Iodine (100 mg/lit).
Nghiên cứu về bệnh mực ở Việt Nam hầu như chưa có. Tuy nhiên chúng ta thấy
rằng mực là đối tượng thuỷ sản có giá trò kinh tế. Trên thê giới một số nước như Thái
Lan, Nhật Bản mực đã được nuôi phổ biến và cho sản lượng cao. Việt Nam là một trong
những nước có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản nói chung và động vật thân
mềm nói riêng. Tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III đã và đang tiến hành
nghiên cứu sản xuất giống loài mực nang và đã thu được một số kết quả khả quan. Tuy
nhiên trong quá trình sản xuất có hiện tượng chết rải rác mà chưa rõ nguyên nhân. Cũng
như những đối tượng khác để có thể tiến hành nuôi công nghiệp, nghiên cứu về bệnh
đóng vai trò quan trọng để phát triển và duy trì nguồn lợi mực.
- 13 -
Phần III: Phương Pháp Nghiên Cứu


thuật nuôi

Xác đònh sự biến
động một số yếu tố
môi trường.
Mẫu bệnh

Hình
thức
nuôi
Chế
độ
chăm
sóc
Dấu
hiệu
bệnh

Phân
lập vi
khuẩn

bệnh
học
Nấm

Quan
sát
KST
Đánh giá, nhận xét và đề xuất ý kiến

Mussenlin (1983); Plumb (1983) và Freich (1984),
- 15 -

* Phân lập vi khuẩn:
- Môi trường phân lập :Môi trường TCBS, NA
- Môi trường nuôi cấy thuần chủng: NA.
* Đònh danh vi khuẩn.
- Bằng các phản ứng sinh hoá và API20 NE Tets kit (hãng Biomerieux).
-Dựa vào sách: FADDIN
3.2.4. Phương pháp nghiên cứu KST.
* Phương pháp soi tươi: áp dụng phương pháp nghiên cứu KST trên cá của V.A
Dogiel (1960), sau đó phương pháp này được cải tiến bởi Buchocoskaja, Hà Ký (1968)

3.2.5. Phương pháp nghiên cứu mô bệnh học.
- Mẫu mô cố đònh formalin 10%. Đúc parafin, cắt lát và nhuộm Hematoxylin và
Eosin (H $ E). Theo phương pháp thông dụng hiện hành và quan sát dưới kính hiển vi
quang học.
3.2.6. Phương pháp nghiên cứu nấm.
Cấy trên môi trường Bloot

Lấy khuẩn lạc

Quan sát dưới kính
hiển vi vật kính 40X
Đònh danh nấm

Mẫu bệnh phẩm

Cấy trên môi trường nấm

Lấy khua



=
=
n
i
i
x
n
X
1
____
1

Trong đó: n – Số lần kiểm tra của một yếu tố nào đó (n = 1,2,3 )
X
i
– Giá trò của lần kiểm tra thứ i.
X – Giá trò trung bình của một yếu tố nào đó.
- 18 -
Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.

4.1. Kỹ thuật sản xuất giống mực nang vân hổ (sepia pharaonis)
4.1.1. Nguồn mực bố mẹ
Mực bố mẹ được mua từ lồng nuôi giữ trên biển tại khu vực Trí Nguyên hoặc mua
trực tiếp của ngư dân khai thác ở biển
* Chọn mực bố mẹ :

- 19 -
4.1.2 Ương nuôi mực con từ khi mới nở tới 1 tháng
+ Điều kiện bể ương: Ương trong bể composit hình tròn thể tích 1m
3
. Nguồn nước
biển tự nhiên qua lọc cơ học.
Khẩu phần ăn: Từ 20-25% khối lượng thân, cho ăn 3 – 4 lần một ngày
Thức ăn: Ấu trùng postlavar của tôm su,ù Artemia sinh khối, cá giống nước ngọt
tép nhỏ
Mật độ nuôi: 100 – 150 con /m
3
.
+ Các biện pháp chăm sóc và quản lý
- Thay thể tích nước trong bể : 50-100% mỗi ngày. Khi thay nước kết hợp với dùng
khăn lau thành bể, sục khí.
- Tiến hành siphong sau mỗi bữa cho ăn, dung vớt vớt thức ăn thừa và những màng
bẩn trên mặt bể.
giai đoạn này mực còn nhỏ rất dễ bò kích động, khi bò kích thích sẽ phun mực
gây ô chiễm môi trường vì vậy mọi thao tác phải tiến hành nhẹ nhàng tránh gây sốc cho
mực
4.1.3. Nuôi mực nang từ 1 tháng tuổi trở lên
Mực hơn 1 tháng tuổi được nuôi ở bể xi măng trong nhà, mực hơn 2 tháng có thể
nuôi ở bể xi măng có cát ở đáy.
+ Mật độ nuôi: 50– 80 con/ m
3
. Khi mực hơn 2 tháng tuổi giảm mật độ xuống 20 – 30
con /m
3

+ Điều kiện bể nuôi:

ngoài trời và bể trong nhà, tốc độ tăng trưởng chiều dài và trọng lượng của mực thể hiện
ở hình 1 và hình 2.
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
1 2 3 4 5
Tháng tuổi
Chiều dài ( cm/tháng)

0
10
20
30
40
50
60
70
1 2 3 4 5
Tháng tuổi
Khối lượng (g/tháng)Hình 1: Biểu đồTốc độ tăng trưởng chiều dài của Mực

Hình 2: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng khối lượng của Mực

27.0
27.5
28.0
28.5
29.0
29.5
30.0
30.5
1 2 3 4 5 6 7 8 9
Tuần
Nhiệt độ
Bể trong nhà
Bể ngoài sân

Hình3: Biến động nhiệt độ trong bể nuôi ( buổi sáng)
- 22 -
25.5
26.0
26.5
27.0
27.5
28.0
28.5
29.0
29.5
30.0
30.5

8.3
8.4
8.5
8.6
8.7
1 2 3 4 5 6 7 8 9
tuần
pH
bể ngoài sân
bể trong nhà

Hình 6: biến động pH buổi chiều của bể nuôi mực.
Nói chung các yếu tố môi trường biến động trong ngày không lớn lắm. Sự sai khác
không nhiều. Điều này có thể không ảnh lớn đến tình trạng sức khỏe của mực mà có thể
do lý do khác. Tuy nhiên vào những ngày có mưa, độ mặn giảm thấp, pH cũng giảm
điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng tới hoạt động sống của mực.
4.3. Ghi nhận về hiện tượng mực chết rải rác trong quá trình sản xuất giống.
Trong quá trình nghiên cứu, hàng ngày có số lượng mực chết rải rác trong hai hệ
thống bể nuôi mực ở trong nhà và ngoài sân. Số lượng mực chết được nghi nhận và trình
bày tại hình dưới.
0.00
0.50
1.00
1.50
2.00
2.50
3.00
30/8 10/9 11/9 13/9 16/9 29/9 5/10 17/10 25/10
ngày tuổi
tỷ lệ chết hàng ngày (%)

Ngoài việc quan sát các dấu hiệu bệnh lý bên ngoài. Việc quan sát những biến
đổi trong tổ chức tế bào: gan, thận, tim, mang, dạ dày…cũng hết sức quan trọng.Trong
thời gian nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành làm mô bệnh học một số tổ chức của mực và
đã thu được một số kết quả như sau.
Khi quan sát các tiêu bản mô bệnh học nhận thấy có một số những biến đổi
trong tổ chức tế bào. Hiện tượng này xuất hiện nhiều nhất trên những mô gan. Một số
những thể vùi bắt màu tím của Hematocylin và màu hồng của Eosin. Những thể vùi bắt
màu tím đẩy vách tế bào tạo khoảng trống - 25 -
Hình mô mực yếu (bất màu hồng) Hình mô mực yếu (bắt màu tím)
Một số tiêu bản có hiện tượng hoại tử phá vỡ liên kết tế bào, nhân tế bào phình
to, hạch của nhân tế bào bò lệch sát vào màng nhân
Hình mô mực yếu Hình mô mực bình thường
Hiện tượng này cũng quan sát thấy ở các tổ chức như thận nhưng rất ít, phần lớn
bắt gặp nhiều ở mô gan. Như vậy cùng với nghiên cứu về vi khuẩn cho thấy ở gan có tỷ
lệ nhiễm khuẩn cao nhất. Điều này có thể nói rằng gan là tổ chức dễ bò xâm nhập bởi
các tác nhân gây bệnh khi cơ thể mực yếu hay bò bệnh.
Trong quá trình nghiên cứu mô bệnh học, tiến hành thu mẫu cá thể yếu và
những cá thể bình thường. Ngoài việc quan sát thấy các hiện tượng nói trên ở tất cả cá
thể yếu, ở một số cá thể bình thường (38.4%) khi quan sát tiêu bản mô học cũng thấy có
những hiện tượng các thể vùi bắt màu tím của Hematocyline và màu hồng của Eosin và
hiện tượng phá vỡ liên kết tế bào. Điều đó có thể giải thích rằng trong cơ thể mực đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status