LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đồ án này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy
cô và bạn bè.
Trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nha Trang,
Phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học, Khoa Chế biến lòng biết ơn và niềm
tự hào được học tập tại trường trong những năm qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả thầy cô đã giảng dậy trong
thời gian học tại trường, tới toàn thể cán bộ viên chức nhà trường.
Sự biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được giành cho thầy: TS. Vũ Ngọc Bội -
Phó giám đốc - Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Trường Đại học
Nha Trang và cô ThS. Nguyễn Thị Mỹ Trang – Giảng viên Khoa Chế biến đã
tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện Đồ án này.
Đặc biệt xin được ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ của: KS. Nguyễn Thừa
Bửu – Giám đốc Công Ty TNHH Nam Việt - An Giang, ThS. Khúc Thị An –
Trưởng Bộ môn Công nghệ Sinh học - Viện Công nghệ Sinh học và Môi
trường, các quý thầy cô giáo Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học - Viện
Công nghệ Sinh học, phòng thí nghiệm Hóa sinh - Vi sinh, gia đình và bạn bè
luôn luôn chia sẻ cùng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN I. TỔNG QUAN 2
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BIODIESEL 2
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG BIODIESEL TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM 5
1.3. Giới thiệu về phương pháp tinh chế dầu 9
PHẦN II 22
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu của dầu cá nguyên liệu 33
Bảng 3.2. Các chỉ tiêu của dầu gốc thô 35
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của môi trường tách pha và thời gian tách pha đến sự thay
đôi hiệu suất thu glycerin 36
Bảng 3.4. Bảng kết quả xử lý dầu bằng nhựa trao đổi ion 38
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của chế độ rửa đến trạng thái dầu gốc sau rửa 39
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến hiệu quả tách nước 40
Bảng 3.7. Khối lượng dầu còn lại sau sấy có khuấy và không khuấy 43
Bảng 3.8. Khối lượng dầu còn lại sau sấy ở nhiệt độ khác nhau 44
Bảng 3.9. Bảng so sánh mầu sắc của dầu sau tẩy mầu 46
Bảng 3.10. Kết quả kiểm tra dầu sau tinh chế 49
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ công nghệ tinh luyện đầu mỡ thực phẩm 18
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất dầu gốc 25
Hình 2.2: Sơ đồ quy trình tinh chế dầu dự kiến 27
Hình 3.1. Ảnh hưởng của môi trường và thời gian tách pha đến hiệu suất thu
glycerin 36
Hình 3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến hiệu quả tách nước 40
Hình 3.3. Ảnh hưởng của thời gian sấy đến hiệu quả tách nước 41
Hình 3.4. Ảnh hưởng của thời gian sấy đến hiệu quả tách nước 42
Hình 3.5. Ảnh hướng của thời gian sấy đến khối lượng dầu còn lại 43
Hình 3.6. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến hiệu quả tách nước 45
Hình 3.7. Sơ đồ quy trình tinh chế dầu gốc 47
1
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BIODIESEL [6], [7], [9]
Biodiesel hay còn gọi là Diesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính
chất giống với dầu diesel nhưng không phải được sản xuất từ dầu mỏ mà
được làm từ dầu thực vật hay methylester tinh khiết từ dầu thực vật hay mỡ
động vật. Biodiesel hay nhiên liệu sinh học nói chung là năng lượng sạch,
không độc, dễ phân giải trong tự nhiên.
Biodiesel bắt đầu được sản xuất khoảng giữa những năm 1800, trong
thời gian đó người ta chuyển hóa dầu thực vật để thu glycerol ứng dụng làm
xà phòng và thu được các phụ phẩm là methyl hoặc ethylester gọi chung là
Biodiesel. Sau đó biodiesel được hiểu theo nghĩa rộng hơn, nó bao gồm các
alcol như methanol, ethanol và các sản phẩm này được chuyển hóa từ nguồn
nguyên liệu thực vật. Vậy về bản chất biodiesel là sản phẩm ester hóa giữa
methanol hoặc ethanol và acid béo trong dầu thực vật hoặc mỡ cá tra, basa.
Biodiesel – một loại nhiên liệu mới – được coi là sản phẩm có thể thay
thế diesel dùng cho động cơ đốt trong. Trong lịch sử, loại dầu này từng được
sử dụng để làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong vào những năm 1900. Tuy
nhiên, vào thời điểm đó, nguồn năng lượng dầu, mỡ rẻ tiền chưa thật sự cần
thiết. Cho đến khi giá nhiên liệu tăng lên và sự lo lắng về nguy cơ thiếu hụt
nhiên liệu thì việc tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế là cần thiết. Ngoại trừ
năng lượng thủy điện và năng lượng hạt nhân, phần lớn năng lượng trên thế
giới đều tiêu tốn nguồn dầu mỏ, than đá và khí tự nhiên. Tất cả các nguồn này
đều có giới hạn và với tốc độ sử dụng như ngày nay thì sẽ bị cạn kiệt hoàn
toàn vào cuối thế kỷ 21. Sự cạn kiệt của nguồn dầu mỏ thế giới và sự quan
tâm về môi trường ngày càng tăng đã dẫn đến sự nghiên cứu và phát triển
nguồn năng lượng thay thế cho năng lượng có nguồn gốc dầu mỏ. Biodiesel là
3
một sự thay thế đầy tiềm năng cho diesel dựa vào những tính chất tương tự và
những ưu điểm vượt trội của nó.
Về mặt kinh tế.
Sử dụng nhiên liệu Biodiesel ngoài vấn đề giải quyết ô nhiễm môi
trường nó còn thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển, tận dụng tiềm năng sẵn
có của ngành nông nghiệp như dầu phế thải, mỡ động vật, các loại dầu khác ít
có giá trị sử dụng trong thực phẩm.
Hạn nhập khẩu nhiên liệu diesel, góp phần tiết kiệm cho quốc gia một
khoảng ngoại tệ lớn.
Nhược điểm.
Biodiesel cung cấp năng lượng ít hơn diesel thông thường một chút, vì
thế nếu tỷ lệ biodiesel cao thì động cơ sẽ yếu hơn hoặc phải dùng nhiều nhiên
liệu hơn mới đạt được công suất như khi dùng diesel thông thường. Với tỷ lệ
B5 thì sự khác biệt về công suất động cơ so với diesel không pha biodiesel là
không đáng kể.
Việc sử dụng nhiên liệu chứa nhiều hơn 5% biodiesel có thể gây nên
những vấn đề sau: ăn mòn các chi tiết của động cơ và tạo cặn trong bình nhiên
liệu do tính dễ oxi hóa của biodiesel; làm hư hại nhanh các vòng đệm cao su
do sự không tương thích của biodiesel với chất làm vòng đệm.
Biodiesel oxi hóa nhanh hơn do dặc điểm thành phần hóa học. Do đó,
khó có thể tích trữ loại nhiên liệu này lâu, cần phải có thêm các chất phụ gia
để giữ nhiên liệu được lâu hơn. Ngoài ra biodiesel rất háo nước nên cần
những biện pháp bảo quản đặc biệt để tránh tiếp xúc với nước.
Nhược điểm lớn nhất của biodiesel là biodiesel nguyên chất dễ bị đóng
băng hoặc đặc lại trong thời tiết lạnh. Ở xứ lạnh, các xe phải có hệ thống sấy
nhiên liệu để có thể dùng diesel B5.
5
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG BIODIESEL TRÊN
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM [8]
Theo xu hướng thế giới, người ta sẽ trộn biodiesel vào thành phần diesel
tảo thành công và được đưa vào sản xuất, quy mô sản xuất loại dầu này có thể
đạt tới hàng chục triệu tấn. Theo dự tính của các chuyên gia, đến năm 2010,
Trung Quốc sẽ sản xuất khoảng 6 triệu tấn dầu nhiên liệu sinh học.
Giống Trung Quốc, Mỹ cũng vận dụng công nghệ sinh học hiện đại như
nghiên cứu gen đã thực hiện tại phòng thí nghiệm năng lượng tái sinh quốc
gia tạo được một giống tảo mới có hàm lượng dầu trên 60%, một mẫu có thể
sản xuất được trên hai tấn dầu diesel sinh học.
Các Tiểu Vương Quốc Ả rập Thống Nhất thì sử dụng jojoba, một loại
dầu được sử dụng phổ biến trong mỹ phẩm để sản xuất biodiesel.
Đối với khu vực Đông Nam Á, các nước Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia
cũng đã đi trước nước ta một bước trong lĩnh vực nhiên liệu sinh học. Như ở
Thái Lan, hiện nay sử dụng dầu cọ và đang thử nghiệm hạt cây jatropha, cứ 4
kg hạt jatropha ép được 1 lít diesel sinh học tinh khiết 100%, đặc biệt loại hạt
này không thể dùng để ép dầu ăn và có thể mọc trên những vùng đất khô cằn,
cho nên giá thành sản xuất sẽ rẻ hơn so với các loại hạt có dầu truyền thống
khác. Bộ Năng Lượng Thái Lan này cũng đặt mục tiêu, đến năm 2011, lượng
diesel sinh học sẽ đạt 3% (tương đương 2,4 triệu lít/ngày) tổng lượng diesel
tiêu thụ trên cả nước và năm 2012, tỷ lệ này sẽ đạt 10% (tương đương 8,5
triệu lit/ngày).
Indonexia thì ngoài cây cọ dầu, cũng như Thái Lan, Indonexia còn chú ý
đến cây có dầu khác là jotropha. Indonesia đặt mục tiêu đến năm 2010, nhiên
liệu sinh học sẽ đáp ứng 10% nhu cầu năng lượng trong ngành điện và giao
thông vận tải.
Do chi phí cho việc trồng cây nhiên liệu lấy dầu rất thấp, hơn nữa chúng
lại rất sẵn trong tự nhiên nên trong tương lai diesel sinh học có thể được sản
xuất ra với chi phí thấp hơn nhiều so với diesel lấy từ dầu mỏ. Tuy nhiên, bài
toán nguyên liệu đặt ra là : “ diesel sinh học cũng có thể làm thay đổi nhu cầu
7
mở đang cạn dần. Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về biodiesel
và thực nghiệm cho kết quả tốt. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có chính sách sử
dụng, phát triển biodiesel.
Các nhà khoa học Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng (Viện Khoa học –
công nghệ việt Nam) đã có nhiều công trình nghiên cứu nhiên liệu biodiesel
từ dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu hạt cao su, dầu mè… Qua chạy thực
nghiệm trên động cơ máy phát điện và ô tô chạy bằng dầu diesel (dầu mỏ) để
sử dụng, hàm lượng các chất độc hại trong khí thải đều nằm trong khuôn khổ
cho phép. Do đó có thể sử dụng 5% - 20% biodiesel cho máy phát điện, 20%
biodiesel cho ô tô không ảnh hưởng đến cấu tạo và chế độ làm việc của máy.
Nhóm các nhà khoa học gồm TS.Nguyễn Đình Thành, ThS. Phạm Hữu
Thiện, KS. Võ Thanh Thọ và Lê Trần Duy Quang cũng đã có công trình tổng
hợp biodiesel từ nguồn dầu mỡ phế thải (mỡ cá basa, dầu ăn phế thải). Các
nhà khoa học cho ra sản phẩm nhiên liệu biodiesel B20. Khi đem phân tích
một số chỉ tiêu hóa lý của B20 tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chế
biến dầu khí, cho thấy đáp ứng được một số tiêu chuẩn cơ bản của nhiên liệu
cho động cơ diesel. Mặt khác qua thử nghiệm trên động cơ xe ô tô Mercedes
16 chỗ với quãng đường 1000km, B20 đảm bảo độ khí thải trong mức cho
phép và không ảnh hưởng đến hoạt động của động cơ. Không chỉ trên động
cơ ô tô, các nhà khoa học cũng đã cho thử nghiệm trên động cơ máy nổ, tàu
đánh cá và đều cho kết quả tương tự. Bên cạnh dầu mỡ thực vật, động vật, các
nhà khoa học cũng đã nghiên cứu phối trộn cồn vào xăng để cho ra sản phẩm
nhiên liệu mới. Nhóm các nhà khoa học Viện Khoa học vật liệu ứng dụng,
Viện Khoa học - Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu và thử nghiệm xăng pha
cồn cho kết quả khả quan.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định việc phối trộn
biodiesel vào diesel, cồn vào xăng là hoàn toàn cho phép và không ảnh hưởng
đến môi trường, hoạt động của động cơ. Thế nhưng, đến nay các nhà khoa
học vẫn băn khoăn vì Chính phủ chưa có một chính sách cụ thể về việc sử
đảm bảo trong suốt ứng với phạm vi nhiệt độ quy định cho mỗi loại dầu mỡ.
10
Về mùi vị: không còn mùi vị ban đầu của dầu mỡ, không mang các
mùi lạ vào trong dầu mỡ.
Về thành phần: cần loại trừ được các tạp chất không cần thiết đến
mức thấp nhất, đồng thời cũng không được để lại những tạp chất sinh ra trong
quá trình tinh luyện.
Hiện nay có nhiều phương pháp tinh chế khác nhau, nhưng có thể chia
làm 3 loại phương pháp:
Các phương pháp cơ học bao gồm:
Phương pháp lắng tự nhiên
Phương pháp ly tâm.
Phương pháp lọc.
Các phương pháp hóa học gồm:
Phương pháp dùng axit sunfuric.
Phương pháp thủy hóa.
Phương pháp trung hòa bằng kiềm
Phương pháp tinh chế bằng các chất oxy hóa khử.
Các phương pháp hóa lý gồm:
Phương pháp tẩy màu bằng các chất hấp phụ bề mặt
Phương pháp tẩy mùi bằng hơi nước trong chân không.
Nói chung mỗi phương pháp đều có những tác dụng và những đặc điểm
khác nhau, loại trừ được các tạp chất khác nhau. Cho nên căn cứ vào thành
phần và chất lượng dầu mỡ thô, và đồng thời tùy thuộc vào yêu cầu chất
lượng của việc sử dụng dầu mỡ tinh luyện mà có thể áp dụng phương pháp
khác nhau.
Vì dầu mỡ là một hỗn hợp vật chất phức tạp, cho nên trong thực tế phải
dùng nhiều phương pháp khác nhau với mỗi loại dầu mỡ. Các phương pháp
Bản chất các thành phần tạp chất có trong dầu mỡ.
12
Yêu cầu về chất lượng đối với dầu mỡ tinh luyện phù hợp với các đồi
tượng sử dụng.
Vì vậy, tùy thuộc vào mục đích sản xuất mà người ta có các biện pháp
kỹ thuật khác nhau để tinh chế dầu mỡ thành các sản phẩm khác nhau. Công
việc chính của quá trình tinh chế là: khử acid béo, khử màu, khử mùi, khử mỡ
cứng v.v…
Phương pháp khử acid béo tự do cho dầu mỡ.
Phương pháp chưng cất
Nguyên lý: sử dụng nhiệt độ cao 150ºC và áp suất chân không 10
-3
÷
10
-7
mmHg không để chưng cất chuyển acid béo tư do về dạng hơi thoát ra
khỏi dầu cá. Nhờ vậy dầu sẽ sạch acid và khi ngưng tụ được acid béo tự do để
tận dụng vào lĩnh vực khác.
Ưu điểm: phương pháp cho hiệu quả khử acid béo tương đối cao.
Nhược điểm: phương pháp đòi hỏi thiết bị có áp suất chân không khó
chế tạo,
Phương pháp ester hóa
Nguyên lý: áp dụng phản ứng: Rượu + Acid = Ester + Nước
Trong đó rượu là glycerine hoặc các loại rượi có phân tử lượng thấp để
ester hóa acid béo tự do. Sau đó dùng phương pháp chưng cất đuổi dung môi
ester ra khỏi dầu để thu dầu sạch, phần ester đem đi tận dụng.
RCOOH + C
2
hạn dùng cột nhựa trao đổi ion dạng H
+
, cho axit béo chảy qua, khi đó axit
béo sẽ bị hấp phụ trên cột nhựa.
Ưu điểm: phương pháp dễ thực hiện
Nhược điểm: phương pháp khử acid béo không sạch vì acid béo có
tính điện ly kém (K
pl
= 0,5÷0,7) nên mức độ sạch chỉ đạt 50÷70%.
Phương pháp trung hòa
Nguyên lý: áp dụng phản ứng giữa acid và kiềm tạo ra muối và nước.
Để thực hiện trung hòa acid béo tự do có trong dầu. Về nguyên tắc có thể sử
dụng mọi loại kiềm: NaOH, KOH, Ca(OH)
2
, Na
2
CO
3
…Tùy thuộc vào loại
kiềm và mức độ khử acid béo mà dầu có mức độ tổn hại vitamin A khác nhau.
Nhưng trong thực tế, người ta thường sủ dụng NaOH , KOH.
Dựa vào phản ứng:
RCOOH + NaOH→ RCOONa + H
2
O
Ưu điểm: tốc độ xà phòng hóa mạnh, tách acid béo triệt để, năng suất
cao, dùng trong sản xuất công nghiệp. Tẩy màu tốt, phản ứng xà phòng hóa
mạnh nên hấp phụ một phần chất màu trên bề mặt.
14
B
15
thì tốc độ phản ứng chậm, thời gian kéo dài, các phản ứng phụ có thời gian
xảy ra nhiều hơn, cũng gây hao tổn dầu trung tính và vitamin A.
Nồng độ NaOH thích hợp phụ thuộc vào chỉ số acid của dầu, cách xác
định nồng độ NaOH cần dùng dựa vào bảng 1.3 và bảng 1.4.
Bảng 1.2. Quan hệ giữa hàm lượng acid béo và nồng độ NaOH
Hàm lượng acid béo (%) Nồng độ NaOH độ “ bé”
0,03÷ 2
2 ÷3
3÷ 4
4÷5
5÷ 6
6÷7
7÷8
8÷9
9 ÷10
13 ÷14
14 ÷15
15 ÷16
16÷ 17
17 ÷18
18÷ 19
19÷ 20
20÷ 21
21 ÷22
Bảng1.3. Quan hệ giữa độ “Bé” với nồng độ NaOH
Độ “Bé”(15ºC) % NaOH Độ “ Bé”(15ºC) % NaOH
đảo tốt thì làm tăng khả năng tiếp xúc giữa acid béo với kiềm tạo điều kiện
cho phản ứng trung hòa xảy ra nhanh và triệt để hơn.
Phương pháp khử màu cho dầu cá
Nguyên nhân hình thành màu trong dầu cá: các chất màu có sẵn trong
dầu cá: vitamin A, sắc tố caroten chúng có hàm lượng càng cao thì dầu cá có
màu càng đậm. Các sắc tố của nguyên liệu lẫn vào dầu: các loại caroten,
astaxanthin, melanin. Do các phản ứng phân hủy: protein, acid amin tạo thành
các sản phẩm phân hủy có khả năng gây màu. Có một số phương pháp khử
màu dầu cá như sau:
Phương pháp hóa học: dùng các chất hóa học có tính oxi hóa hoặc khử
để làm biến đổi các cấu trúc mang màu làm mất màu hoặc làm giảm màu cho
sản phẩm.
Phương pháp hóa lý:
Nguyên lý chung: dùng các chất có diện tích bề mặt riêng lớn không hòa
tan trong dầu, có khả năng hấp phụ các chất mang mầu.
Các chất hấp phụ thường dùng: than hoạt tính, than xương, đất sét trắng,
vôi núi lửa, màng lọc hấp phụ… trong đó thanh hoạt tính là chất có khả năng
khử màu rất cao, tỷ lệ hút dầu tương đối thấp, cho nên sử dụng rộng rãi.
Phương pháp khử mùi cho dầu cá.
Nguyên nhân hình thành mùi trong dầu cá: do mùi tự nhiên của dầu cá là
mùi tanh của chất béo clupadonic có trong dầu cá, mùi tanh này mất đi khi
chất này bị tụ hợp phân tử. Do mùi tanh của nguyên liệu lẫn vào dầu như:
NH
3,
TMA, DMA…Do sản phẩm của các phản ứng: protein, acid amin lẫn
trong dầu, dưới điều kiện hoạt động của vi sinh vật tạo ra các sản phẩm phân
hủy: NH
3,
H
2
Trong công nghiệp sử dụng hại loại sơ đồ tinh luyện dầu: tinh luyện bộ
phận và tinh luyện hoàn chỉnh.
Tinh luyện bộ phận nhằm mục đích loại ra khỏi dầu những nhóm tạp
chất nhất định theo yêu cầu: acid béo tự do, photphatid, gluxit và các tạp chất
vô cơ. Sau đây là sơ đồ tinh luyện dầu hoàn chỉnh: ( hình 1.1)
18
→
H
2
O →
Đất hoạt tính
Than hoạt tính →
( trong chân không)
→ Nước rửa
( thu hồi dầu mỡ
và axit béo)
→ Bã hấp phụ
( thu h
ồi dầu mỡ)
Lọc
Tẩy mùi
Hơi nước →
Quá nhiệt
( trong chân không)
Lọc
H
2
O →
( hoặc dung dịch
điện ly loãng )
→ Cặn dầu
(thu h
ồi dầu
40: khối lượng phân tử NaOH.
56.1: khối lượng phân tử KOH.
D.A.40.100
56,1.92 20
92%: nồng độ của NaOH công nghiệp
K: hệ số kiềm dư (tùy thuộc vào thành phần tạp chất và màu sắc của dầu
mà lấy K = 1.05÷1.5).
Chế độ trung hòa: phun đều dung dịch kiềm lên bề mặt dầu trung hòa,
vừa phun vừa khuấy. Nhiệt độ trung hòa với các loại dầu khác nhau được
khống chế khác nhau, tùy thuộc vào chỉ số axit và tính chất của dầu ( trong
phạm vi tử 30 ÷95˚C)
Sau khi cho hết dung dịch kiềm thì cho tiếp dung dịch muối với nồng độ
3÷4%. Dung dịch muối có tác dụng xúc tiến nhanh việc phân ly cặn xà phòng
ra khỏi dầu. Cặn xà phòng được xử lý để thu hồi dầu.
Rửa và sấy dầu: để loại hoàn toàn xà phòng ra khỏi dầu, dầu sau khi lắng
tách cặn xà phòng cần được rửa nhiều lần bằng nước nóng. Lần đầu rửa bằng
dung dịch NaCl 8 ÷ 10% để xà phòng kết lắng theo dung dịch muối, sau đó
rửa bằng nước nóng. Sau mỗi lần rửa để lắng 40 ÷ 60 phút rồi tháo nước rửa
vào bể thu hồi dầu.
Nhiệt độ của dầu khi rửa là: 90÷95˚C. Nước muối và nước nóng cũng
được đun sôi.
Sau khi rửa hết cặn xà phòng, tiến hành sấy dầu để tách ẩm. Sấy dầu có
thể thực hiện trong chân không hoăc áp suất khí quyển. Dầu sau khi sấy phải
đạt đến độ ẩm < 0.1% để tạo điều kiện tốt cho quá trình tẩy màu.
Tẩy màu: là quá trình tương tác giữa chất hấp phụ và dầu, dẫn đến kết